Nghiên cứu thị trường Nhật Bản để nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu sang Nhật Bản - Pdf 23

Đề tài: Nghiên cứu thị trường Nhật Bản để nâng cao năng lực cạnh tranh của
sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu sang Nhật Bản.
1. Lý thuyết:
1.1. Năng lực cạnh tranh
1.2. Các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh
2. Thực trạng xuất khẩu gỗ và năng lực cạnh tranh của đồ gỗ Việt Nam trên thị trường Nhật
Bản:
2.1. Thực trạng xuất khẩu gỗ sang thị trường Nhật Bản
2.1.1. Tổng quan xuất khẩu gỗ của Viêt Nam: ( Tình hình xuất khẩu đồ gỗ, và các đối
tác của Việt Nam…)
2.1.2. Hoạt động xuất khẩu đồ gỗ sang thị trường Nhật Bản( giá trị, cơ cấu mặt hang)
2.2. Thực trạng về năng lực cạnh tranh của đồ gỗ Việt Nam trên thị trường Nhật Bản
2.2.1. Các đối thủ cạnh tranh và thị phần đồ gỗ của Việt Nam trên thị trường Nhật
Bản.
2.2.2. Điểm mạnh, điểm yếu của sản phẩm đồ gỗ Việt Nam (đánh giá ưu nhược điểm
về đồ gỗ nội thất của Việt Nam)
2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực canh tranh của hàng đồ gỗ Việt Nam
2.3.1. Các yếu tố bên trong quốc gia
2.3.1.1.Các nguồn lực ( nguồn nguyên liệu đầu vào, nhân công, vốn, công nghệ)
2.3.1.2.Các chính sách phát triển chế biến đồ gỗ của Việt Nam
2.3.1.3.Các thuận lợi do mối quan hệ tốt đẹp của hai nước đem lại ( các cam kết
song phương, hợp tác, ưu đãi cho hàng đồ gỗ Việt Nam)
2.3.2. Các yếu tố xuất phát từ phía thị trường Nhật Bản.
qui mô thị trường
thị hiếu người tiêu dung
tiêu chuẩn môi trường, chất lượng đối với đồ gỗ
hệ thống phân phối nhiều tầng
3. Các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng đồ gỗ Việt Nam
3.1. Triển vọng
3.2. Phương hướng
3.3. Các biện pháp chủ yếu

Phân loại cạnh tranh
 Xét theo chủ thể cạnh tranh:
- Cạnh tranh giữa người bán và người mua
- Cạnh tranh giữa những người mua với nhau
- Cạnh tranh giữa những người bán với nhau
 Xét theo mục tiêu kinh tế của các chủ thể:
- Cạnh tranh dọc
- Cạnh tranh ngang
2
 Xét theo hình thái cạnh tranh:
- Cạnh tranh hoàn hảo, hay còn gọi là cạnh tranh thuần tuý
- Cạnh tranh không hoàn hảo
 Xét theo tính chất của phương thức cạnh tranh:
- Cạnh tranh lành mạnh
- Cạnh tranh không lành mạnh
 Xét theo công đoạn của quá trình kinh doanh hàng hoá:
- Cạnh tranh trước khi bán hàng
- Cạnh tranh trong khi bán hàng
- Cạnh tranh sau khi bán hàng
Ngoài các hình thức cạnh tranh nêu trên, người ta còn xét theo một số chỉ tiêu khác
nữa: Điều kiện không gian, lợi thế tài nguyên, nhân lực, đặc điểm, tập quán sản xuất, tiêu dùng,
văn hoá… ở từng dân tộc, khu vực, từng quốc gia khác nhau mà phân loại thành cạnh tranh
giữa các nước và các khu vực trên thế giới; cạnh tranh trong và ngoài nước, cạnh tranh giữa
cộng đồng, các vùng có bản sắc dân tộc và tập quán sản xuất tiêu dùng khác nhau.
Vai trò của cạnh tranh.
Nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường là một nền kinh tế năng động, có tính cạnh
tranh cao. Vì nói đến kinh tế thị trường là nói tới cạnh tranh, không có cạnh tranh không còn
gọi là nền kinh tế thị trường. Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thừa nhận cạnh
tranh và qui luật của nó. Chính vì vậy, vai trò của cạnh tranh ngày càng được thể hiện một cách
rõ nét. Một số vai trò chủ yếu của cạnh tranh được thể hiện như sau:

kinh tế chỉ có sức cạnh tranh cao khi có nhiều doanh nghiệp có sức cạnh tranh cao.
Một lần nữa cần khẳng định rằng: cạnh tranh là điều kiện quan trọng để phát triển lực
lượng sản xuất, tiến bộ kỹ thuật, là động lực cho nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, cạnh tranh
không chỉ có những ưu điểm, mà nó còn có những nhược điểm cố hữu mang đặc trưng của nền
kinh tế thị trường. Cạnh tranh một mặt sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển, mặt khác nó cũng là
nguyên nhân dẫn đến tùnh trạng phân hoá trong xã hội một cách ghê gớm. Kẻ thắng, người bại
dễ dàng hình thành trong thị trường tình trạng cạnh tranh không lành mạnh hay độc quyền trên
thị trường.Do vậy, cần có sự quản lý của Nhà nước để đảm bảo cho các doanh nghiệp có thể tự
do cạnh tranh một cách lành mạnh, có hiệu quả.
Sức cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu.
Khái niệm sức cạnh tranh của hàng hoá và các cấp độ của sức cạnh tranh.
Khái niệm về sức cạnh tranh:
Cạnh tranh ở đây là nói đến hành vi của chủ thể, vì vậy có hành vi của doanh nghiệp kinh
doanh, của cá nhân kinh doanh và của một nền kinh tế, không có hành vi của hàng hóa. Trong
quá trình các chủ thể cạnh tranh với nhau, để giành lợi thế về phía minh, các chủ thể phải áp
dụng tổng hợp nhiều biện pháp nhằm duy trì và phát triển vị thế của minh trên thị trường. Các
biện pháp này thể hiện một sức mạnh nào đó, một khả năng nào đó hoặc một năng lực nào đó
của chủ thể, được gọi là sức cạnh tranh của chủ thể đó hoặc khả năng cạnh tranh của chủ thể
đó. Khi muốn chỉ một sức mạnh một khả năng duy trì được vị trí của một hàng hoá nào đó trên
thị trường (hàng hoá này là của một doanh nghiệp nào đó, một quốc gia nào đó) thì ta cũng
dùng thuật ngữ “sức cạnh tranh của hàng hoá”, hoặc sức cạnh tranh của hàng hoá cũng thể hiện
mức độ hấp dẫn của hàng hoá đó đối với khách hàng.
Sức cạnh tranh của sản phẩm có thể hiểu là sự vượt trội của sản phẩm đó so với các sản
phẩm cùng loại về chất lượng và giá cả với điều kiện các sản phẩm tham gia cạnh tranh đều
đáp ứng các yêu cầu của người tiêu dùng. Có nghĩa là những sản phẩm mang lại giá trị sử dụng
cao nhất trên một đơn vị giá cả là những sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao hơn.
4
Các cấp độ của sức cạnh tranh
Sức cạnh tranh có thể phân chia thành 4 cấp độ khác nhau: Sức cạnh tranh cấp độ quốc
gia, cấp độ ngành, cấp độ doanh nghiệp, và cấp độ sản phẩm hàng hoá. Sức cạnh tranh của bốn

vào ứng dụng những công nghệ mới thông qua R&D, FDI và liên kết sản xuất qua biên giới để
vận dụng lợi thế so sánh về tài nguyên của các nước và lợi ích kinh tế nhờ quy mô. Ngoài ra,
phân tích lợi thế so sánh còn cần tính khả năng nâng cao trình độ thành thạo của công nhân và
thay đổi mô hình sản xuất của các nước. Micheal E.Porter đã đưa ra: “Lý thuyết về lợi thế cạnh
tranh quốc gia” để giải thích tại sao một quốc gia lại có được vị trí dẫn đầu trong việc sản xuất
5
một số sản phẩm nhất định. Lý thuyết này cho rằng khả năng cạnh tranh của một ngành sản
xuất phụ thuộc vào khả năng sáng tạo và đổi mới của ngành đó.
Hình 1.1: Các yếu tố qui định lợi thế cạnh tranh của quốc gia
Nguồn: Giáo trình Kinh doanh Quốc tế( tập 1 )
Ông đã xác định bốn nhóm yếu tố mà mỗi một quốc gia đều có sẵn, nhưng với mức độ
khác nhau và các yểu tố đó hình thành nên khả năng cạnh tranh quốc gia, đó là: (1) các điều
kiện về yếu tố sản xuất; (2) điều kiện cần; (3) các ngành có liên quan và các ngành hỗ trợ; (4)
Chiến lược, cơ cấu và cạnh tranh giữa các công ty. (Hình 1.1)
(Thực tế về năng lức canh tranh quốc gia của Việt Nam)
Nhóm các yếu tố thuộc về khả năng tăng trưởng kinh tế đất nước
Sức cạnh tranh quốc tế là khả năng cạnh tranh của một đất nước trong việc nhận thức ró
mục đích của chính sách kinh tế tập trung. đặc biệt là đối với tăng trưởng thi nhập và việc làm
ma không gặp phải các khó khăn trong cán cân thanh toán. Tăng trưởng kinh tế của một quốc
gia được xác định bởi năng suất của nền kinh tế quốc gia đó, trong khi đó năng suất là yếu tố
cơ bản tạo thành sức mạnh cạnh tranh quốc tế. Tăng trưởng kinh tế tác động trực tiếp đến sức
mua của xã hội, tạo điều kiện để mở rộng qui mô sản xuất.
Nhóm các yếu tố thuộc về khả năng tăng trưởng kinh tế đất nước có 3 yếu tố đặc biệt là
liên quan đến viễn cảnh tăng trưởng kinh tế đất nước và tạo ra khả năng cạnh tranh: tài trợ và
nợ nước ngoài, tiết kiệm và đầu tư, tỷ giá hối đoái.
Nhóm các yếu tố thuộc về môi trường kinh doanh của doanh nghiệp
 Môi trường kinh doanh vĩ mô
- Nhóm các yếu tố trong môi trường nội địa
Môi trường nội địa bao gồm: (1) môi trường luật pháp, chính trị, sự ổn định chính trị,
Chiến lược cơ cấu và

với các chiến lược kinh doanh đa dạng và do những rào cản kinh tế làm cho các doanh nghiệp
khó sự di chuyển sang ngành khác.
- Nguy cơ đe doạ nhập ngành từ các đối thủ tiềm ẩn
Khi các doanh nghiệp mới tham gia kinh doanh ở một lĩnh vực, một ngành hoặc một thị
trường sẽ mang theo năng lực sản xuất mới với mong muốn chiếm lĩnh thị phần thị trường.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp phải đủ khả năng vượt qua những cản trở nhất định. Theo quan
điểm của ME.porter, các rào cản ngăn sự xâm nhập của một công ty bao gồm: (1) Hiệu quả
kinh tế do qui mô; (2) Sự khác biệt hay ấn tượng vế sản phẩm; (3) Yêu cầu về vốn; (4) Chi phí
chuyển đổi; (5) Kênh phân phối; (6) Chính sách của Chính phủ; (7) Sự phản ứng của các nhà
cạnh tranh.
- Quyền thương lượng của người mua:
Đối với doanh nghiệp bất kỳ thì mọi việc chỉ có ý nghĩa khi tiêu thụ được sản phẩm và
có lãi. Chính vì vậy, sự tín nhiệm của khách hàng luôn là tài sản có giá trị quan trọng của
doanh nghiệp và doanh nghiệp có được điều đó là do biết cách thoả mãn tốt hơn các nhu cầu và
thị hiếu của khách hàng so với các đối thủ cạnh tranh khác. Còn người mua luôn muốn trả giá
cho sản phẩm thấp, vì vậy họ sẽ thực hiện ép giá, gây áp lực đòi chất lượng cao hơn hoặc được
phục vụ tốt hơn đối với doanh nghiệp khi có điều kiện và điều này làm giảm lợi nhuận của
7
doanh nghiệp.
- Quyền thương lượng của người cung ứng
Nhà cung ứng các yếu tố đầu vào luôn muốn thu nhiều nhất lợi nhuận có thể, vì vậy khi
có điều kiện họ có thể đe doạ tăng giá hoặc giảm giá chất lượng sản phẩm đặt mua nhằm làm
giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Trong thực tế, các doanh nghiệp luôn phải ứng phó một cách
thường xuyên đến nguồn cung ứng ngay trong nội bộ doanh nghiệp, có thể đó là lực lượng lao
động, đặc biệt với những lao động có trình độ cao vì khả năng thu hút và giữ được các nhân
viên có năng lực là một tiền đề quan trọng đảm bảo sự thành công của doanh nghiệp.
- Nguy cơ đe doạ từ những sản phẩm thay thế:
Các sản phẩm thay thế luôn có tác động lớn đến mức lợi nhuận tiềm năng của ngành,
nhất là những sản phẩm luôn có chu kỳ sống ngắn. Vì phần lớn các sản phẩm thay thế là kết
quả của việc đổi mới công nghệ nên thường có ưu thế về chất lượng và giá thành sản phẩm,

đóng vai trò quyết định. Một thương hiệu sản phẩm chứa đựng trong đó nhiều hơn một cái tên,
mộtcái logo… vì đó chính là thể hiện năng lực, uy tín, tiềm năng của doanh nghiệp trong việc
sản xuất sản phẩm đó. Có thể nói, thương hiệu là sụe phản ánh trung thực việc sản phẩm đó
đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như thế nào. Chỉ có những sản phẩm có thương hiệu mới đủ sức
mạnh để cạnh tranh trong một nền kinh tế hội nhập cao, mức độ cạnh tranh cao với nhiều đối
thủ cạnh tranh nặng ký từ khác các nước, các khu vực.
 Các nhân tố khác:
Ngoài những nhân tố trên, thì còn có những nhân tố khác như trang thiết bị của doanh nghiệp,
vấn đề tài chính…và mỗi yếu tố đều có vai trò tác động nhất định của mình đến sức cạnh tranh
của sản phẩm xuất khẩu do doanh nghiệp sản xuất ra. Vì vậy, chỉ có một sự kết hợp đồng bộ
các yếu tố này sẽ là tiền đề cho sự phát triển bền vững, duy trì sức cạnh tranh với các sản phẩm
cùng loại của các quốc gia xuất khẩu khác trong dài hạn.
1.2.3. Các nhóm chỉ tiêu đánh giá sức cạnh tranh của hàng hoá.
1.2.3.1. Nhóm các chỉ tiêu định lượng.
 Sản lượng, doanh thu mà hàng hoá xuất khẩu đem lại cho từng năm
Đây là một chỉ tiêu đơn giản, dễ tính toán nhưng rất quan trọng, vì nó nhằm đánh giá sức cạnh
tranh của hàng hoá trên thị trường. Có thể hiểu sản lượng là tổng khối lượng hàng hoá mà
doanh nghiệp đã sản xuất ra trong một giai đoạn, một khoảng thời gian nhất định. Đối với
doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất khẩu thì người ta quan tâm đến sản lượng tiêu thụ hàng
hoá của doanh nghiệp; khối lượng hàng hoá mà doanh nghiệp đưa ra trên thị trường là bao
nhiêu. Nếu sản lượng tiêu thụ hàng hoá của doanh nghiệp tăng cao qua các năm. điều đó có
nghĩa là thị trường đầu ra của doanh nghiệp ổn định và doanh nghiệp đã tạo được cho mình
một khả năng tốt trong việc duy trì và giữ vững thị phần so với đối thủ cạnh tranh, tình trạng
hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng của doanh nghiệp vẫn đang
tiến triển thuận lợi.
Để có thêm đánh giá chính xác hơn sức cạnh tranh của hàng hoá thì bên cạnh chỉ tiêu
sản lượng người ta cong sử dụng chỉ tiêu doanh thu. Doanh thu bán hàng là tổng số tiền mà
doanh nghiệp thực tế đã thu được tỏng một thời kỳ nhất định nhờ bán sản phẩm hàng hoá và
dịch vụ của mình. Nếu doanh thu qua các năm tăng với tốc độ cao, chứng tỏ giá bán của hàng
hoá được duy trì ổn định , hàng hoá đó được thị trường chấp nhận. Còn nếu sản lượng tiêu thụ

 Giá thành, giá bán và lợi nhuận
Trong một thị trường có nhiều sản phẩm tương đồng nhau về chất lượng, mẫu mã, bao
bì, thì lúc này giá chính là yếu tố tác động mạnh mẽ nhất đến khả năng cạnh tranh của hàng
hoá.
Trong khi chi phí sản xuất được hiểu là toàn bộ các khoản hao phí vật chất được tính
bằng tiền mà doanh nghiệp đã bỏ ra để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm, có đặc điểm là
luôn vận động mang tính đa dạng và phức tạp gắn liền với tính đa dạng phức tạp của ngành
nghề sản xuất, qui trình sản xuất. Còn giá thành sản phẩm, dịch vụ là toàn bộ những chi phí
tính bằng tiền để sản xuất và tiêu thụ một khối lượng sản phẩm hoặc dịch vụ nhất định.
Giá thành sản phẩm với các chức năng vốn có đã trở thành chỉ tiêu kinh tế có ý nghĩa
rất quan trọng trong quản lý hiệu quả và chất lượng sản xuất kinh doanh. Có thể nói rằng giá
thành sản phẩm phản chiếu toàn bộ hiệu quả của biện pháp kinh tế, tổ chức, quản lý, và kỹ
thuật hiện tại của doanh nghiệp.
Lợi nhuận là khoản còn lại sau khi trừ đi chi phí và thuế trng thu nhập của một công ty.
10
Lợi nhuận là tiêu chí để đánh giá hiệu quả của việc sử dụng nguồn tài nguyên của doanh
nghiệp. Và cách làm như thế nào để đạt được những mục tiêu này thì đó chính là chiến lược
của công ty. Điều này có nghĩa là những mong muốn được đề cập như là tăng thị phần, tạo ra
một hình ảnh mới, đạt được % tăng trưởng về doanh số hay nâng cao khả năng cạnh tranh sản
phẩm của doanh nghiệp.
Giá bán một đơn vị sản phẩm là tổng của giá thành xuất xưởng, chi phí vận chuyển, chi
phí quảng cáo… và lợi nhuận dự kiến của sản phẩm
Công thức:
Z
XK
= Z
x
+ C
1
+ C

 Mức độ hấp dẫn về kiểu dáng, mẫu mã của hàng hoá xuất khẩu
Tạo ra nét độc đáo cho sản phẩm xuất khẩu được coi là một trong những công cụ hữu hiệu để
nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá đó so với các sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh.
Tuy nhiên, điều đó còn tuỳ thuộc vào môi trường văn hoá, luật pháp, cạnh tranh của mỗi quốc
gia. Sự khác biệt giữa sản phẩm cùng loại của nước mình so với nước khác nhằm mục tiêu
nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩuvà cũng vì một mục tiêu bao trùm là nâng cao
lợi thế của sản phẩm xuất khẩu. Tuy nhiên trong khi cố gắng tạo ra nét độc đáo cho sản phẩm,
doanh nghiệp cần chú ý đảm bảo được tính hoàn mỹ, không làm thay đổi một cách quá lớn về
đặc điểm chung của sản phẩm, và trên hết là phải phù hợp hơn với nhu cầu, thị hiếu, văn hoá
của quốc gia mà tại đó người tiêu dùng đang sống, tránh gây ra những cú sốc về văn hoá.
 Mức ấn tượng về hình ảnh, nhãn hiệu hàng hoá của nhà sản xuất.
Trong chiến lược sản phẩm, người ta đặc biệt quan tâm đến các quyết định gắn nhãn sản phẩm.
Điều này càng dễ hiểu hơn đối với các sản phẩm được xuất khẩu, vì nhãn mác có vai trò căn
11
bản là cung cấp thông tin và xúc tiến thương mại đối với các thị trường mới.
Nhãn hiệu sản phẩm xuất khẩu được hiểu là tên, thuật ngữ, kí hiệu, biểu tượng hay kiểu
dáng hoặc một sự kết hợp nào đó những yếu tố kể trên nhằm xác nhận rằng hàng hoá hay dịch
vụ của một người bàn hay một nhóm người bán và phân biệt chúng với hàng hoá của đối thủ
cạnh tranh trên thị trường.
Do vậy, nhãn hiệu xác nhận người bán hay người sản xuất. Nói đến nhãn hiệu người
thường ngầm hiểu yếu tố đảm bảo chất lượng đằng sau nó. Nhãn hiệu thương mại của hàng
hoá tạo nên lòng tin, độ tin cậy đối với hàng hoá. Còn đối với nhãn hiệu được coi là nổi tiếng
trên thị trường thì người tiêu dùng khi mua những sản phẩm đó sẽ có cảm giác bớt băn khoăn,
cũng như là không mất nhiều thời gian để ra quyết định mua sản phẩm.
1.2.4. Các công cụ cạnh tranh
Có thể hiểu công cụ cạnh tranh là các yếu tố, các chính sách, các kế hoạch, chiến lược
mà doanh nghiệp sử dụng nhằm tạo ra ưu thế so với đối thủ cạnh tranh. Việc lựa chọn các công
cụ và biện pháp nào cho phù hợp để áp dụng trong từng trường hợp cụ thể là cả một nghệ thuật
trong cạnh tranh. Nếu sử dụng đúng thì sẽ dành được thắng lợi, và ngược lại thí sẽ thất bại. Khi
đó không những không duy trì được vị thế mà còn làm cho vị thế đó giảm đi so với trước đó.

phải xét đến cả hai khía cạnh trên.
1.2.4.2. Cạnh tranh bằng giá bán của sản phẩm
Giá cả là biểu hiện bằng tiền của sản phẩm mà người bán hay doanh nghiệp dự định có
thể được từ người mua qua việc trao đổi sản phẩm trên thị trường. Giá cả có một vai trò rất
quan trọng, đối với doanh nghiệp nó là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh hàng
hoá, còn đối với người tiêu dùng nó là một trong những yếu tố quyết định hành vi mua hàng.
Giá cả là dấu hiệu tin cậy phản ánh tình hình biến động thị trường. Thông qua giá cả, doanh
nghiệp có thể nắm bắt được sự tồn tại, sức chịu đựng cũng như sức cạnh tranh của sản phẩm
trên thị trường.
Trong cạnh tranh, giá cả được sử dụng như một công cụ cạnh tranh hứu hiệu thông qua
chính sách định giá bán. Khi đưa ra chính sách định giá bán doanh nghiệp cần phải xem xét các
vấn đề như: Lượng cầu đối với sản phẩm, chi phí sản xuất và giá thành đơn vị sản phẩm. Tuy
nhiên nhiều trường hợp doanh nghiệp phải chấp nhận bán với giá thấp hơn già thành vì mục
tiêu khác như: để thâm nhập thị trường dễ dàng hơn. Để cuối cùng là phải nhận dạng đúng thị
trường cạnh tranh, từ đó có chính sách định giá riêng cho mỗi loại sản phẩm nhằm đảm bảo sự
phù hợp với nhu cầu và giá bán sản phẩm.
1.2.4.3. Cạnh tranh bằng hệ thống kênh phân phối
 Lựa chọn hệ thống kênh phân phối
Tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh và đây cũng là giai
đoạn thực hiện bù đắp chi phí và lợi nhuận. Để tiêu thụ sản phẩm, công việc đầu tiên của
doanh nghiệp là lựa chọn kênh phân phối sản phẩm một cách hợp lý, có hiệu quả nhằm đáp
ứng một cách tốt nhất các yêu cầu của khách hàng, nhanh chóng giải phóng nguồn hàng để bù
đắp chi phí sản xuất và thu hồi vốn. Xây dựng được một hệ thống mạng lưới phân phối tốt có
nghĩa là xây dựng một nền tảng vững chắc để phát triển thị trường, bảo vệ thị phần của doanh
nghiệp, của quốc gia đối với sản phẩm xuất khẩu.
 Một số biện pháp yểm trợ bán hàng
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá trước đây thì hoạt động yểm trợ khách hàng chưa được quan
tâm một cách đúng đắn do cơ chế phân phối chủ yếu là cấp phát. Tuy nhiên, trong nền kinh tế
thị trường thì hoạt động yểm trợ bán hàng thật sự cần thiết và ngày càng đóng vai trò quan
trọng đối với kết quả của hoạt động bán hàng, được thể hiện ở doanh số và doanh thu của sản

nội thất của Việt Nam đã bắt đầu có mặt tại nhiều nước trên thế giới.Hơn thế nữa, sản phẩm gỗ
của Việt Nam đã bắt đầu có vị trí ổn định và được người tiêu dùng tại các thị trường lơn như
Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU…hết sức ưa chuộng.
2.1.1. Kim ngạch xuất khẩu:
Đến thời điểm này, Việt Nam đã có khoảng 750 doanh nghiệp tham gia vào hoạt động
chế biến, sản xuất và xuất khẩu đồ gỗ nội thất trong tổng số 1200 cơ sở chế biến gỗ trong cả
nước, trong đó có 8 đơn vị đạt kim ngạch xuất khẩu trên 15 triệu USD. Kim ngạch xuất khẩu
đồ gỗ nội thất của Việt Nam không ngừng tăng lên. Đồ gỗ nội thất không ngừng tăng lên đóng
góp rất lớn vào sự thành công của ngành chế biến đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam, đưa sản
phẩm gỗ chính thức lọt vào TOP 10 mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam và nằm trong
câu lạc bộ 1 tỷ USD trở lên. Trong câu lạc bộ ấy, sản phẩm gỗ là một trong 5 mặt hàng đạt kim
ngạch xuất khẩu lớn nhất (cùng với ngành Thuỷ sản, hàng dệt may, hàng giày dép, và dầu thô).
Đồ thị biểu hiện vị trí của hoạt động xuất khẩu gỗ trong hoạt động xuất khẩu của
Việt Nam ( năm 2006-2007)
Sau nhiều năm phát triển, với những nỗ lực to lớn của toàn ngành, ngành chế biến đồ
gỗ(trong đó có ngành đồ gỗ nội thất) đã thực sự trở thành một trong ngành mũi nhọn của nước
ta và là một ngành có đóng góp to lớn cho nền kinh tế quốc dân.
15
Bảng 2.1. Kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ nội thất trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt
Nam
Năm
Tổng
KNXK
của Việt
Nam
(Triệu
USD)
Tốc độ
tăng
trưởng

Nam(%)
1996 7.200 - 212 - 172 - 2.4 81
1997 9.200 27.8 225 6.1 182 5.9 2 80.8
1998 9.400 2.2 191 -15.1 157 -13.9 1.7 82
1999 11.500 22.3 200 4.7 163 4.1 1.4 81.5
2000 14.500 26.1 250 25 204 25.3 1.4 81.7
2001 15.000 3.4 334 33.6 266 30 1.8 79.5
2002 16.700 11.3 435 30.2 361 36 2.2 83
2003 19.900 19.2 560 28.7 463 28.3 2.3 82.7
2004 26.500 33.2 1.100 96.4 867 87.2 3.3 78.8
2005 32.400 20 1.600 45.5 1264 45.8 3.9 79
2006 39.605 1930
2007 48.400 2400
2008*
Trung bình
( Nguồn : Niêm giám thống kê Việt Nam các năm và số liệu của hiệp hội gỗ và lâm sản Việt
Nam)
Năm 2005, xuất khẩu sản phẩm g ỗ tiếp tục bứt phá với kim ngạch đạt 1,56 tỷ USD,
tăng 42% và chính thức đứng vào top 5 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu cao nhất của cả nước
(sau dầu khí, giày dép, dệt may, thuỷ sản). Với kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 1.9 tỷ USD năm
2006. tăng 22 % so với năm 2005, xuất khẩu sản phẩm gỗ vẫn duy trì vững chắc vị trí top 5
mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam.
Tháng 11/07, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam đạt 217,87 triệu
USD, tăng 0,47% so với tháng 10/07, tăng 30,8% so với tháng 11/06. Tổng kim ngạch xuất
khẩu gỗ và sản phẩm gỗ 11 tháng năm 2007 đạt 2,134 triệu USD, tăng 24,14% so với cùng kỳ
năm 2006.
cả năm 2007, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 2,4 tỷ USD, tăng 122,3% so với
năm 2006 và dự báo kim ngạch sẽ tiếp tục tăng trong năm 2008.
16
Tháng 11/07, những thị trường chính xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam vẫn là Mỹ,

Năm Tổng XK Mỹ EU Nhật Bản
Các nước
khác
2001 KN 335 16.1 93.1 96.1 129.7
Thị phần 100% 4.8 27.8 28.7 38.7
2002 KN 435 44.7 99.5 117.7 173.1
Thị phần 100% 10.3 22.9 27.1 39.7
2003 KN 567 115.5 160.7 136.3 154.5
Thị phần 100% 20.4 28.3 24.0 27.3
2004 KN 1139 318.9 373.1 222.1 224.9
Thị phần 100% 28.0 32.7 19.5 19.8
2005 KN 1563 567.0 420.5 240.9 334.6
Thị phần 100% 36.3 29.6 15.4 21.4
2006 KN 1930 744.1 521.9 286.5 377.2
Thị phần 100 38.6 27.0 14.9 19.5
2007 KN
Thị phần
Thị phần bình
quân
( Nguồn : Bộ thương mại Việt Nam năm 2006)
Mỹ là thị trường nhập khẩu đồ gỗ nội thất hàng đầu của Việt Nam, hiện nay thị trường
đang chiếm tỷ trọng khoảng 34% kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ nội thất của Việt Nam. Theo số
liệu thống kê của Thương vụ Việt Nam tại Mỹ, đồ gỗ nội thất của Việt Nam xuất khẩu vào thị
trường Mỹ đã tăng mạnh trong 3 năm gần đây và Việt Nam đã trở thành một trong 10 nước
18
xuất khẩu đồ gỗ nội thất lớn nhất vào thị trường Mỹ. Số liệu thống kê từ Uỷ ban Thương mại
quốc tế Mỹ cho biết, nếu như năm 2001, kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ nội thất của Việt Nam
sang Mỹ chỉ đạt 13 tỷ USD thì đến năm 2004 con số này đã lên đến 182 triệu USD và năm
2005 là 432 triệu USD, chiếm tới 34.2% trong tổng kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ nội thất của cả
nước. Thị phần bình quân trong giai đoạn 2001-2005 của Mỹ đạt 28.4%, cao nhất trong số các

che nắng, ghế xích đu... làm hoàn toàn từ gỗ hoặc kết hợp với các vật liệu khác như sắt, nhôm,
nhựa...
- Nhóm thứ hai : Nhóm sản phẩm đồ mộc trong nhà bao gồm các loại bàn ghế, giường tủ, giá
19
kê sách, đồ chơi, ván sàn... làm hoàn toàn từ gỗ hay gỗ kết hợp với các vật liệu khác như da,
vải...
- Nhóm thứ ba : Nhóm đồ gỗ mỹ nghệ chủ yếu từ gỗ rừng tự nhiên bao gồm bàn ghế, tủ... áp
dụng công nghệ trạm khắc, khảm.
- Nhóm thứ tư : sản phẩm gỗ dăm sản xuất từ gỗ rừng trồng mõ nhanh như gỗ keo, gỗ bạch
đàn...
Trong những năm trở lại đây tỷ trọng sản phẩm gỗ xuất khẩu xét theo như mặt hàng
luôn luôn thay đổi tuỳ từng thời kỳ, một mặt do trước đây trình độ gia công của các doanh
nghiệp Việt Nam còn lạc hậu nên không sản xuất được các sản phẩm có yêu cầu cao của các
bạn hàng như Mỹ, EU và Nhật Bản, mặt khác do nhu cầu của thị trường chủ yếu mà Việt Nam
đang cung cấp có nhu cầu tăng cao trong một số loại mặt hàng vào những thời điểm nhất định.
Cơ cấu sản phẩm cũng rất đa dạng nhưng chủ yếu sản phẩm gỗ xuất khẩu là gỗ nội
thất, trong đó chủ yếu là nội thất phòng ngủ, phòng khách, phòng bếp và văn phòng. Theo
thống kê của Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam , mặt hàng đồ gỗ nội thất phòng ngủ đứng
đầu trong tỉ lệ các mặt hàng đồ gỗ xuất khẩu với tỷ lệ khoảng 28.8 %, tiếp đến là các sản phẩm
nội thất phòng khách 22.7% nội thất văn phòng 12.6 %, thấp nhất là các loại sản phẩm gỗ trang
trí 2.1%, nội thất nhà bếp 2.9% và gỗ ván 5.6% ( theo số liệu năm 2006)
(Theo bang 2.1 ta nh ận th ấy trong s ố sản phẩm g ỗ xuất khẩu th ì sản phẩm đồ gỗ
nội thất chi ếm t ỷ tr ọng r ất l ớn ... theo bang do ta co bieu đo sau, bi ểu đo do the hi ên … )
(Biểu đồ 2.2. : Kim ngạch xuất khẩu gỗ nội thất của Việt Nam : )
Tóm lại, đối với đồ gỗ nội thất xuất khẩu của Việt Nam, đây chính là mặt hàng có tỷ
trọng xuất khẩu chiếm khoảng 90%, là mặt hàng không những trong hiện tại đang đóng góp
lớn vào kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ mà còn hứa hẹn sự phát triển mạnh mẽ hơn nữa trong
tương lai. Các thị trường trên thế giới ngày càng tiêu thụ nhiều sản phẩm đồ gỗ nội thất của
Việt Nam như Mỹ, EU, Nhật Bản...Cụ thể năm 2005 kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ
của Việt Nam là 1.563 tỷ USD thì trong đó có đến 1.4 tỷ USD là sản phẩm gỗ nội thất, chiếm

2002 2438 116.8 18.2
2003 2909 122.5 4.9
2004 3502 187 52.7
2005 4410 257 37.4
2006 5200 286.8
2007 5500
2008*
2010*
Trung
bình
(1996-
2007)
( Nguồn : Hải quan Nhật Bản- www.customs.go.jp)
Kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam sang Nhật Bản từ năm (1996-2005)có thể
chia làm 2 giai đoạn : giai đoạn từ 1996-2000 và giai đoạn từ (2000-2005).
Trong giai đoạn từ (1996-2000) : kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ nội thất của Việt Nam
sang Nhật Bản ở mức thấp, dao động từ 49 triệu USD( năm 1996) đến 69.3 triệuUSD năm
2000. Giai đoạn này chỉ có năm 1998 là kim ngạch giảm sút so với năm trước đó( năm 1997).
Đó là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và khủng hoảng kinh tế ở Châu Á, còn tất
cả các năm còn lại đều có tốc độ tăng trưởng nhẹ. Tốc độ tăng bình quân trong giai đoạn này là
9.43%, trong đó tốc độ tăng của năm 2000 so với năm 1999 là cao nhất, đạt 20.1 %. Cũng
trong giai đoạn này, giá trị xuất khẩu đồ gỗ sang thị trường Nhật Bản chiếm tỷ trọng lớn nhất
trong tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này sang các thị trường, dao động từ khoảng (28.5%-
35.8%)
Sang đến giai đoạn (2001-2005), kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ nội thất của Việt Nam
sang Nhật Bản đã có sự tăng trường đáng kể. Kim ngạch năm 2001 đạt 98.9 triệu USD, tăng
đến 42.6 % so với năm 2000. Sau đó kim ngạch xuất khẩu sang Nhật Bản tiếp tục tăng lên
trong năm 2002 và 2003 nhưng không tăng nhiều. Nếu năm 2003, kim ngạch xuất khẩu chỉ
21
tăng 4.9% so với năm trước, sang đến năm 2004, đồ gỗ nội thất Việt Nam đã tăng trưởng

1996 172 49 28.5
1997 182 57 31.4
1998 157 56 35.8
1999 163 57.7 35.4
2000 204 69.3 33.9
2001 266 98.8 37.2
2002 361 116.8 32.4
2003 463 122.5 26.5
2004 867 187 21.6
2005 1264 257 20.3
2006
2007
( Nguồn : Niên giám thống kê Việt Nam các năm và số liệu của Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt
22
Nam )
2.2.2. Cơ cấu sản phẩm đồ gỗ nội thất xuất khẩu sang Nhật Bản.
Đồ gỗ nội thất gồm 5 nhóm mặt hàng cơ bản sau ( phân chia theo mã HS: ghế gỗ, đồ gỗ
nội thất văn phòng, đồ gỗ nội thất nhà bếp, phòng ngủ, phòng khách và phòng ăn). Cả 5 nhóm
mặt hàng này, các sản phẩm của Việt Nam đều có mặt đều đặn trên thị trường Nhật Bản trong
thời gian qua. Tuy nhiên, cơ cấu xuất khẩu giữa các nhóm mặt hàng này vẫn chưa có sự đồng
đều và rất cần phải có sự nỗ lực điều chỉnh để đạt sự cân bằng hơn trong thời gian tới.
Bảng: Cơ cấu xuất khẩu đồ gỗ nội thất sang thị trường Nhật Bản.
Năm
KNXK ghế gỗ
đồ gỗ nội thất
văn phòng
đồ gỗ nội thất
nhà bếp
đồ gỗ nội thất
phòng ngủ

tỷ
trọng
(%)
1996 0.22 0.4 0.002 0.004 1.17 2.4 0.66 1.3 46.95 95.8
1997 0.25 0.4 0.003 0.01 1.25 2.2 3.03 5.3 52.39 92
1998 0.43 0.8 0.04 0.07 0.41 0.7 2.61 4.7 52.45 93.8
1999 0.77 1.3 0.27 0.47 0.49 0.8 4.65 8.1 51.51 89.3
2000 1.67 2.4 0.05 0.07 1.75 2.5 4.5 6.5 61.3 88.5
2001 2.84 2.9 0.09 0.09 4.68 4.7 9.67 9.8 81.52 82.5
2002 3.83 3.3 0.18 0.15 6.25 5.4 15.99 13.7 90.55 77.8
2003 6.15 5.0 0.14 0.11 6.49 5.3 16.86 13.8 92.86 75.8
2004 18.35 9.8 0.07 0.04 9.83 5.3 27.85 14.9 130.9 70
2005 29.1 11.3 0.18 0.07 15.68 6.1 38.85 15.1 173.2 67.4
2006
2007
TB
(Nguồn: Hải quan Nhật Bản -www.customs.go.jp)
Trong cơ cấu đồ gỗ nội thất của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản những
năm gần đây, nhóm hàng đồ gỗ nội thất phòng khách và phòng ăn luôn có kim ngạch dẫn đầu.
Thậm chí đã có những thời điểm nhóm hàng này chiểm tỷ trọng gần như chủ yếu trong cơ cấu
đồ gỗ nội thất Việt Nam tại Nhật Bản. Đó là những năm 1996,1997,và 1998 với tỷ trọng từ 92
- 95,8 % trong tổng kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ nội thất sang thị trường Nhật Bản. Con số này
giảm dần trong những năm tiếp theo, xuống đến khoảng 86,8 % trong giai đoạn (1999-2001) và
trong những năm (2002-2005) là khoảng 72,7%. Điều đó chứng tỏ ngày càng có xu hướng cân
bằng hơn, đa dạng hơn về mặt hàng, giảm dần tình trạng thiên về một nhóm mặt hàng nào đó.
Đứng thứ hai sau là đồ gỗ nội thất phòng ngủ, nhóm hàng này luôn đứng vị trí thứ hai
về kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản, ngoại trừ năm 1996. Tỷ trọng đồ gỗ nội thất
phòng ngủ trong tổng kim ngạch đồ gỗ nội thất xuất khẩu sang Nhật Bản ngày càng có xu
23
hướng tăng lên. Từ 1.3 % năm 1996 lên 5,3 % năm 1997, tiếp theo đó là 8.1 % năm 1999. Sang

trường đồ gỗ nội thất Nhật Bản.
Sau đối thủ khổng lồ Trung Quốc, đồ gỗ nội thất của Việt Nam phải cạnh tranh với các
sản phẩm của Thái Lan- hiện đứng thứ hai về thị phần tại Nhật Bản. Đồ gỗ của nước này chủ
yếu là hàng đại trà từ gỗ cao su. Trong giai đoạn 2001-2005, tuy vẫn luôn giữ được vị trí thứ 2,
nhưng thị phần của đồ gỗ nội thất Thái Lan tại Nhật đã giảm đáng kể. Năm 2001 là 18%,
nhưng đến thời điểm năm 2005 đã giảm xuống còn 14.5% , tỷ trọng binh quân đạt 15.94%.
Tình trạng giảm sút về thị phần cũng là tình trạng chung đối với sản phẩm đồ gỗ nội thất
24
của Malaixia, Inđônêxia hay Đài Loan. Các nước này đang ngày càng mất dần vị trí ưu thế trên
thị trường đồ gỗ nội thất Nhật Bản và đang dần nhường chỗ cho các sản phẩm của Việt Nam.
Bảng: Thị phần các nước xuất khẩu đồ gỗ nội thất sang thị trường Nhật Bản
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008* TB
Việt Nam Kim ngạch
( triệu USD)
98.8 116.8 122.5 187 257
Tỷ trọng (%) 5.7 6.8 7.2 10.9 13.8 8.88
Trung
Quốc
Kim ngạch
( triệu USD)
29.9 593.4 638.3 675.2 754.7
Tỷ trọng (%) 18 34.5 37.5 39.3 40.4 36.32
Thái Lan Kim ngạch
( triệu USD)
186.6 297.6 255.3 256 270.9
Tỷ trọng (%) 10.8 17.3 15 14.9 14.5 15.94
Malaixia Kim ngạch
( triệu USD)
162.4 166.8 143 140.9 134.5
Tỷ trọng (%) 9.4 9.7 8.4 8.2 7.2 8.86


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status