Nâng cao chất lượng sản phẩm Tôm xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản của Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu Thủy sản Hà Nội - Pdf 11

LỜI MỞ ĐẦU
Chất lượng sản phẩm là một trong những yếu tố quan trọng để sản phẩm thuỷ sản
nước ta thâm nhập sâu rộng vào thị trường thế giới. Trong xu hướng hội nhập nền kinh
tế, Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO với nhiều cơ hội và thách thức,
các quốc gia dựng nên những hàng rào bảo hộ tinh vi hơn. Đặc biệt, trong thời gian gần
đây là các quy định gắt gao của thị trường Nhật về việc tăng cường kiểm tra đối với thuỷ
sản nhập khẩu, Nhật Bản đã chuyển hướng tiếp cận về quản lý chất lượng, an toàn vệ
sinh hàng thuỷ sản nhập khẩu. Với những yêu cầu chất lượng, an toàn vệ sinh thực
phẩm, về quản lý, truy xuất nguồn gốc sản phẩm thuỷ sản từ khâu sản xuất nguyên liệu
đến tiêu thụ trên thị trường xuất khẩu ngày càng khắt khe hơn, điều này làm cho các
doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu thuỷ sản gặp nhiều khó khăn để vượt qua các rào cản
của các thị trường xuất khẩu.
Năm 2007 có rất nhiều sự kiện liên quan đến chất lượng thuỷ sản. Vấn đề này sẽ
tiếp tục trở thành tâm điểm của ngành thuỷ sản trong năm 2008.
Từ cuối năm 2006, Nhật Bản đã thay đổi chính sách kiểm tra dư lượng kháng
sinh khiến nhiều lô hàng thuỷ sản xuất khẩu sang thị trường này bị từ chối hoặc trả lại do
phát hiện chứa dư lượng kháng sinh cao hơn giới hạn cho phép theo quy định mới, đặc
biệt là các lô hàng phải kiểm tra tăng cường. Rất nhiều lô hàng của Việt Nam bị trả về,
các sản phẩm luôn nằm trong sự cảnh báo ở mức cao. Với những chính sách đó, xuất
khẩu thuỷ sản của Việt Nam bị ảnh hưởng khá nặng nề, trong đó có Công ty Cổ phần
xuất nhập khẩu thuỷ sản Hà Nội. Nhận thức được vấn đề nâng cao chất lượng sản phẩm
Tôm xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản có ý nghĩa quan trọng trong thời điểm hiện nay
để đáp ứng các yêu cầu khắt khe của thị trường Nhật Bản, do vậy tôi đã quyết định lựa
chọn đề tài “Nâng cao chất lượng sản phẩm Tôm xuất khẩu sang thị trường Nhật
Bản của Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu thuỷ sản Hà Nội” để thực hiện chuyên đề
tốt nghiệp của mình.
1
Cơ cấu chuyên đề tốt nghiệp gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Thuỷ sản Hà Nội.
Chương 2: Thực trạng quản lý chất lượng sản phẩm Tôm xuất khẩu sang thị
trường Nhật Bản tại Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu Thuỷ sản Hà Nội.

- Website: www.seaprodexhanoi.com.vn
3
Hình thức hoạt động: Công ty được thành lập dưới hình thức chuyển từ doanh
nghiệp Nhà nước thành Công ty cổ phần và có tư cách pháp nhân độc lập phù hợp với
pháp luật Việt Nam.
Công ty có con dấu riêng, độc lập về tài chính, được mở tài khoản tại kho bạc
Nhà nước hoặc các Ngân hàng trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật.
Công ty là đơn vị hạch toán độc lập và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động
sản xuất kinh doanh.
Những thành tích của Công ty đã đạt được:
- Năm 2003, Công ty được Nhà Nước trao tặng huân chương lao động hạng III.
- Giải thưởng doanh nghiệp xuất khẩu uy tín 3 năm 2004,2005,2006.
- Giải thưởng doanh nghiệp xuất khẩu xuất sắc năm 2007.
- Đạt doanh nghiệp uy tín năm 2007.
1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu
thuỷ sản Hà Nội.
Công ty được thành lập lần đầu theo quyết định số 544HS/QĐ của Bộ trưởng
Bộ Hải sản ngày 05/7/1980 với tên gọi Chi nhánh xuất nhập khẩu Hải sản Hà Nội thuộc
Công ty XNK Hải sản Việt Nam( Seaprodex Việt Nam); sau đó được đổi tên thành
Công ty XNK Thuỷ sản Hà Nội ( Seaprodex Hanoi) bằng quyết định số 126 TS/QĐ
ngày 16 tháng 4 năm 1992 của Bộ trưởng Bộ Thuỷ sản và được thành lập lại theo quyết
định số 251/QĐ-TC ngày 31/3/1993 của Bộ trưởng Bộ Thuỷ sản, là đơn vị thành viên
hạch toán độc lập thuộc Tổng Công ty Thuỷ sản Việt Nam-Bộ Thuỷ sản.
Kể từ ngày đầu mới thành lập 5/7/1980 đến năm 2006, Seaprodex Hà Nội không
ngừng phát triển và lớn mạnh, từ một chi nhánh XNK Thuỷ sản với số vốn và quy mô
nhỏ hoạt động theo cơ chế tự kinh doanh, tự trang trải(giai đoạn 1980 đến 1992) đã phát
triển thành một công ty XNK thuỷ sản hàng đầu khu vực phía Bắc với số vốn là 34,705
tỷ đồng ( theo quyết định số 251/QĐ-TC ngày 31/3/1993).
4
Giai đoạn từ 1993 đến 2006 là thời kỳ Công ty phát triẻn mạnh mẽ và đã trở

1.2.1.2 Các phòng quản lý
- Phòng hành chính tổ chức: làm nhiệm vụ quản lý và lưu trữ các hệ thống văn
bản của Công ty nhận và gửi công văn đến cơ quan hữu quan, quản lý con dấu.Lập
phương án tổ chức, lao động phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh trong từng thời
kì phát triển của Công ty.Quản lý lao động, xây dựng quy chế trả lương, thanh toán tiền
lương.
- Phòng kinh tế tài chính: Xây dựng, giao, báo cáo kế hoạch: sản xuất kinh doanh,
tài chính, hiệu quả kinh doanh, đối với các phòng thuộc văn phòng Công ty và các Chi
nhánh trực thuộc Công ty hàng tháng, quý, năm.Quản lý vốn và tài sản của Công ty, bảo
toàn và phát triển vốn.Xây dựng phương án phân phối lợi nhuận, chia cổ tức, bán cổ
phần, trái phiếu của Công ty.
- Tổ tổng hợp: có chức năng nhiệm vụ như sau: thư ký Hội đồng quản trị, thiết
lập trang Web, sử dụng các phương tiện thông tin để tiếp thị, quảng bá hình ảnh, hoạt
động sản xuất kinh doanh của Công ty. Đồng thời xây dựng, theo dõi, quản lý các dự án
đầu tư của Công ty.
1.2.1.3 Các phòng kinh doanh
- Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu thuỷ sản: tổ chức tiếp nhận, thu thập xử
lý thông tin về sản phẩm, giá cả, thị trường trong và ngoài nước để xây dựng các phương
án kinh doanh có hiệu quả cho từng sản phẩm xuất khẩu, xây dựng quy trình chế biến,
bảo quản kiểm tra chất lượng sản phẩm trình Tổng giám đốc phê duyệt. Chỉ đạo, hướng
dẫn, đôn đốc, phối hợp với các Chi nhánh thực hiện kế hoạch XNK và kinh doanh thuỷ
sản của Công ty nhằm tăng doanh số, hiệu quả, đảm bảo chất lượng, giữ gìn thương hiệu
SEAPRODEX và uy tín của Công ty.
6
- Phòng kinh doanh thuỷ sản nội địa: chủ động mở rộng mạng lưới cửa hàng,
đại lý để tiêu thụ hàng nội địa trên phạm vi cả nước.Chỉ đạo, hướng dẫn, phối hợp với
các phòng kinh doanh tại Văn phòng Công ty và các Chi nhánh làm tốt công việc phát
triển sản phẩm, phát triển sản xuất chế biến và xúc tiến thương mại các sản phẩm nội địa
nhằm phát huy tối đa các tiềm lực của Công ty.
SƠ ĐỒ 1.1: CƠ CẤU TỔ CHỨC

8
- Sản xuất, mua bán các loại: Vật liệu xây dựng, kim khí hoá chất, ngư lưới cụ,
máy móc thiết bị, phụ tùng, phương tiện vận tải, bao bì đóng gói.
- Kinh doanh kho lạnh, giao nhận, bốc xếp, vận chuyển hàng hoá đường bộ,
đường biển và đường hàng không.
- Kinh doanh, dịch vụ nhà ở, cơ sở hạ tầng, văn phòng làm việc, nhà xưởng, kho
bãi, nhà hàng, khách sạn, siêu thị, du lịch, bệnh viện và các loại bất động sản khác.
- Đào tạo và cung ứng nguồn lao động cho khách hàng trong và ngoài nước.
- Kinh doanh các ngành nghề khác theo quy định của pháp luật.
1.2.2.2) Nhiệm vụ và mục tiêu của Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu thuỷ sản Hà
Nội.
Công ty được thành lập để huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực nhằm
phát triển Ngành Thuỷ sản và các lĩnh vực kinh doanh khác, thực hiện tốt các mục tiêu
kinh tế của Nhà nước, tăng thêm việc làm và thu nhập cho người lao động, cổ tức cho cổ
đông đồng thời góp phần tích cực vào Ngân sách Nhà nước.
Phấn đấu xây dựng một Công ty phát triển bền vững, giữ vững vai trò hàng đầu
trong sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu Thuỷ sản, dịch vụ thương mại ở phía Bắc, có
uy tín lớn trên thị trường trong nước và nước ngoài .
1.3) CÁC ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ KỸ THUẬT CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT
ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP
KHẨU THUỶ SẢN HÀ NỘI.
1.3.1 Đặc điểm về lao động
Lực lượng lao động chủ yếu vẫn là lao động cũ được chuyển từ Doanh nghiệp
Nhà Nước sang Công ty cổ phần. Đại đa số CBCNV toàn Công ty đã tích cực lao động
sản xuất, đã khắc phục khó khăn để thực hiện nhiệm vụ được phân công và có nhiều
đóng góp vào kết quả hoạt động của Công ty trong năm 2007.
9
Bảng 1.1:Cơ cấu lao động của Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Thuỷ sản Hà Nội
Nguồn: Phòng hành chính tổ chức Đơn vị: Người
Chỉ tiêu 2004 2005 2006 2007

395
205
62
348
212
60
298
223
58
264
Nhận xét:
Tổng số lao động năm 2007 thấp hơn các năm trước. Sở dĩ như vậy là do doanh
nghiệp bắt đầu thực hiện cổ phần hoá là vào tháng 10-2005 và chính thức chuyển đổi
sang loại hình doanh nghiệp cổ phần là ngày 1-1-2007, do đó làm cho lực lượng lao
động được tinh gọn và chất lượng cao.Thêm nữa, số lượng lao động giảm là do Nhà
nước ban hành nghị định 41.Như vậy trung bình mỗi năm giảm 5-10%. Hiện tại, lực
lượng lao động chính của Công ty là lao động trẻ, làm việc nhiệt tình, sáng tạo.
Công nhân chiếm 70-80% tổng số lao động, đa số các công nhân chế biến ở trình
độ phổ thông. Trình độ đại học ở công ty tương đối nhiều, chủ yếu là các kỹ sư thuỷ hải
sản, các cử nhân kinh tế và kỹ thuật.Lao động trực tiếp chiếm tỷ trọng lớn 80%, trong
khi đó lao động gián tiếp chiếm 20 % cho thấy việc phân bố và sử dụng lao động của
10
Công ty rất hợp lý.Công ty vẫn cần một lực lương lớn công nhân chế biến để tạo sản
phẩm, bên cạnh đó là đội ngũ kỹ sư để kiểm đinh chất lượng sản phẩm và những người
hoạt động xúc tiến kinh doanh của Công ty.
Tuy nhiên, cũng phải công nhận rằng, Công ty thiếu cán bộ kỹ thuật và công nhân
có trình độ chuyên môn, tay nghề cao đặc biệt là thiếu lao động chế biến tại các nhà máy
do công việc không ổn định, thu nhập thấp.
1.3.2 Đặc điểm về trang bị cơ sở vật chất và công nghệ
Seaprodex Hà Nội gồm có 3 xí nghiệp và 2 chi nhánh.Các nhà máy của Công ty

Dâychuyền cấp đông
IQF
Nhật Bản
250kg/giờ
61 10-20
2
Dâychuyền hấp đồng
bộ
Đan Mạch
250 kg/giờ 56 10-20
3 Tủ cấp đông
Nhật Bản
1000 kg/mẻ 54,5 10-20
4 Tủ cấp đông gió
Nhật Bản
200 kg/giờ 31 10-20
5 Máy đá vảy
Việt Nam
5 tấn/ngày 64 10
6 Máy hút chân không
Nhật Bản
38
7 Máy dán ép túi
Đài Loan
45

Sản phẩm của Công ty đã đáp ứng được yêu cầu khắt khe về chất lượng sản
phẩm từ phía khách hàng.Các sản phẩm trước khi xuất khẩu đều phải qua phòng kiểm
nghiệm của Công ty, để kiểm tra các chỉ tiêu, tiêu chuẩn ngành về mặt cảm quan, vi sinh
để có thể hạn chế được rủi ro của sản phẩm khi xuất khẩu.

hơn so với từ giữa năm trở đi. Những tháng vào mùa vụ thì mới có lượng hàng sản xuất
liên tục còn hết mùa thì sản lượng hàng rất ít cho nên muốn duy trì được lượng hàng
xuất khẩu Công ty đều phải tiến hành thu mua nguyên liệu trong mùa vụ và dự trữ sản
phẩm để xuất khẩu. Hơn nữa, giá mua nguyên liệu thuỷ sản cạnh tranh gay gắt.Thực tế,
khả năng thu mua nguyên liệu còn hạn chế chỉ đảm bảo được 50% công suất chế biến.
Do đó, các đơn vị chế biến của Công ty sản xuất cầm chừng do sợ thua lỗ và tiềm ẩn rủi
ro do có thể bị dư lượng kháng sinh. Mặt khác nguyên liệu sạch đáp ứng được các tiêu
chuẩn xuất khẩu là rất khó khăn cũng làm ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất chế biến
của Công ty. Đây là nguyên nhân khiến cho hiệu quả và năng suất sản xuất giảm.
Hơn nữa, các khu vực sản xuất nguyên liệu chưa đáp ứng đủ nhu cầu của chế
biến xuất khẩu cả về sản lượng và chất lượng. Trình độ công nghệ trong khai thác và
nuôi trồng thuỷ sản chưa cao.Thêm vào đó, giá thành nguyên liệu nhìn chung cao hơn
các nước trong khu vực.Công nghệ bảo quản sau thu hoạch rất lạc hậu, công tác quản lý
an toàn thực phẩm chưa được thực hiện tốt ở khu vực sản xuất nguyên liệu và sau thu
hoạch. Cho nên, dẫn đến tình trạng sản xuất nguyên liệu chưa ăn khớp với khả năng thị
trường và chưa đáp ứng tốt yêu cầu về an toàn thực phẩm của thị trường.Yêu cầu về truy
nguyên nguồn gốc sản phẩm đang là một thách thức đối với doanh nghiệp. Ngoài ra, tình
14
trạng tiêm chích tạp chất còn diễn ra phổ biến ở nhiều nơi, nhất là việc sử dụng kháng
sinh trong nuôi trồng, bảo quản nguyên liệu. Đây là nguyên nhân dẫn đến những bất cập
ảnh hưởng đến nguyên liệu thuỷ sản phục vụ chế biến xuất khẩu, khiến cho các thị
trường chính phải đưa ra cảnh báo về vệ sinh, an toàn thực phẩm và những quy định
nghiêm ngặt hơn về kiểm tra dư lượng kháng sinh đối với các mặt hàng nhập khẩu, đặc
biệt là thị trường Nhật Bản và EU.
Do vậy, để kiểm soát được nguồn nguyên liệu, Công ty cử cán bộ “ nằm vùng”
ngay tại các vùng nuôi nhằm theo dõi việc sử dụng thức ăn, thuốc chữa bệnh, quá trình
thay nước….Trong quá trình vận chuyển, tôm nguyên liệu phải được bảo quản trong
thùng cách nhiệt tốt nhằm tránh thất thoát và hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng
xuống cấp trước khi đưa về nhà máy chế biến. Còn đối với nguyên liệu mực để chế biến
hàng ăn liền, việc giám sát nguyên liệu ngay từ khâu đáng bắt và bảo quản còn vất vả và

Âu, sản phẩm mực nguyên con chất lượng cao XK sang thị trường Australia. Đặc biệt,
sản phẩm mới chế biến từ tôm chân trắng có tên là VietNam Newstar dành riêng xuất
khẩu cho thị trường Anh đã được tạp chí Seafood International đánh giá là sản phẩm bao
gói mang đúng phong cách Anh.
Công ty đã chuyển hướng cung cấp thuỷ sản từ “lượng” chuyển sang thành “
chất” để vượt qua các rào cản thị trường với việc tăng các mặt hàng chế biến giá trị gia
tăng, hàng chất lượng cao, giữ vị thế mặt hàng đặc chủng tôm sú. Do đó, sản phẩm của
Công ty được các thị trường nổi tiếng là khó tính chấp nhận. Điều này cũng nói lên rằng
phương thức đến với khách hàng của Công ty đã thay đổi phù hợp với yêu cầu, thị hiếu
của thị trường. Chuyển từ cách bán “cái ta có” sang bán “ cái họ cần”và hiện nay đang
tiến sâu hơn, đi đến thuyết phục khách hàng cần mua những sản phẩm mới mà mình có.
16
Bởi vậy, chất lượng sản phẩm là yếu tố quyết định nâng cao giá trị kim ngạch xuất khẩu
thuỷ sản của Công ty.
Bảng 1.3: Danh mục các mặt hàng chính của Seaprodex Hà Nội
Nguồn: Phòng KD thuỷ sản nội địa
TT Tôm các loại Cá đông lạnh/ướp đá Mực ống các loại Nhuyễn thể Hàng khô Giáp xác
1 Tôm sú/ Thẻ/Chì/
Rằn còn vỏ bỏ đầu
Cá thu nguyên con/
File/ cắt khúc đông IQF
Mực nang nguyên
con, nguyên con làm
sạch đông IQF hoặc
ướp đá
Ngao thịt xiên que;
nguyên con,
tươi/sống, đông
IQF/Block
Mực ống

nang/mực lá bỏ
da/còn da, khô
4 Tôm thẻ/Chì/Rằn/
Sắt/Nghệ/Rằn/Sú
bóc vỏ, rút ruột
Cá nhồng nguyên con
đông lạnh
Mực ống/
mực nang sashimi
Ốc gai đông lạnh/
hoặc sống
Tôm khô/Moi
khô/Moi muối
5 Tôm Thẻ/Chì/Rảo/
Sắt/
Nghệ bóc vỏ,
không rút ruột
Cá bơn/ cá lượngnguyên
con, đông lạnh
Mực ống
nguyên con
làm sạch/
mực ống tube;mực
ống, mực lá nguyên
con ướp đá
Ốc hương nguyên
con/ thịt/ sống
đông lạnh
Cá tạp khô nhạt
hoặc mặn

4) SushitômVanamei,NobashiVannamei;
5) Mực ống, nang: Sushi,Sugata, Sashimi.
Chiếm những thị phần như sau:
Bảng 1.4 :CƠ CẤU MẶT HÀNG XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY NĂM 2006
Nguồn: Phòng KD XNK Thuỷ sản
TÊN HÀNG SỐ LƯỢNG ( Kg) Trị giá (USD)
1.Tôm
- Tôm HLSO.BT
- Tôm PD.BT
- Tôm HLSO.WH
- Tôm PDTO.WH
- Tôm PD. WH ( IQF)
- Tôm PD. WH ( BL)
- Tôm PD.P
- Tôm PD/ PUO
925849
217586,40
204097,80
58748,60
12000
119420
147402
128611,20
37983
6454537
1910030,91
1459513,06
341083,66
74190
846924

Năm 2007, mặt hàng GTGT chiếm 37,73% về giá trị và 37,12% về sản lượng
trong cơ cấu sản xuất chế biến toàn Công ty.Trong đó, tôm GTGT chiếm 29,76% về giá
trị và 28,51% về sản lượng, mực chiếm 7,92% về giá trị và 8,58% về sản lượng.
Bảng 1.5: Cơ cấu sản xuất chế biến toàn Công ty năm 2007
Nguồn: Phòng KD XNK thuỷ sản
19
Tên mặt hàng Số lượng
( tấn)
Tỷ lệ
( %)
Giá trị
(triệu USD)
Tỷ lệ
( %)
1.Mặt hàng cơ bản 449,72 62.88 2,267 62,32
2Mặt hàng GTGT
- Tôm GTGT
- Mực GTGT
265,49
203,91
61,36
37,12
28,51
8,58
1,371
1,083
0,288
37,68
29,76
7,92

thuật, thương mại trên các thị trường xuất khẩu chủ lực song Seaprodex Hà Nội vẫn tìm
được hướng đi trong việc giải quyết các vấn đề về thị trường và thúc đẩy xuất khẩu.Tại
21
mỗi thị trường xuất khẩu, Công ty đều có những mặt hàng đặc trưng được đánh giá cao
và tiêu thụ tốt.
Dưới đây là biểu đồ thể hiện 5 thị trường xuất khẩu và thị phần của chúng
BẢNG 1.6:BÁO CÁO HÀNG XUẤT NĂM 2006 VÀO CÁC THỊ TRƯỜNG
Nguồn: Phòng KD XNK thuỷ sản
TÊN THỊ TRƯỜNG SỐ LƯỢNG (KG) TRỊ GIÁ (USD)
1.NHẬT BẢN
- Tôm HLSO.BT
- Tôm PD.BT
- Tôm PD/ PUD
- Tôm PD.P
- Tôm WH
- Mực
- Bạch tuộc
965575,80
217058,40
204097,80
36924
43,452
328739,60
122944
12360
6473009,52
1904481,37
1459513,06
163707,38
232151,74

41922,08
TỔNG CỘNG 1155973 7450148,63
5 thị trường xuất khẩu chính của Công ty là Nhật, Châu Âu, Hàn Quốc, Úc, Hồng
Kông. Trong đó, Công ty đã được phép xuất khẩu sang các thị trường như Châu Âu, Hàn
Quốc, Trung Quốc, Canada, Thụy Sỹ và Mỹ.
22
Các thị trường truyền thống của Công ty là Nhật Bản, Hồng Kông… Trong đó,
thị trường Nhật Bản chiếm một tỷ trọng rất lớn, đây là thị trường đầy hấp dẫn của Công
ty.
a) Thị trường Nhật:
Năm 2006, Thị trường Nhật chiếm thị phần lớn nhất chiếm hơn 70% thị phần
xuất khẩu thuỷ sản của Công ty. Đây là thị trường có sức tiêu thụ lớn nhưng vấn đề đáng
lưu ý ở đây là thị trường này tương đối khó tính. Minh chứng rõ nhất là vào năm 2007,
xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản gặp nhiều khó khăn, các sản phẩm thuỷ sản của Việt
Nam đều bị kiểm tra gắt gao về vấn đề dư lượng kháng sinh. Nhưng Công ty vẫn quyết
tâm giữ vững và không ngừng tìm kiếm cơ hội tăng trưởng ở thị trường này.Cho nên
Công ty đã chú trọng tới quản lý chất lượng và VSATTP, Seaprodex Hà Nội là 1 trong
71 doanh nghiệp được miễn kiểm tra dư lượng hoá chất kháng sinh khi xuất khẩu hàng
thuỷ sản sang Nhật.
Tại thị trường Nhật Bản sản phẩm chính của Công ty thường xuất sang bao gồm
tôm chân trắng dạng ebifry, mực sushidane, mực ống cắt khoanh, mực sugata, bạch tuộc.
b) Thị trường EU:
Thị trường EU được xem là thị trường khó tính nhất, có yêu cầu cao về chất
lượng, với các quy định khắt khe về chất lượng và an toàn thực phẩm và quản lý dư
lượng kháng sinh.Thị trường này đã trở thành thị trường đối trọng mỗi khi có biến động
tại thị trường Mỹ và thị trường Nhật. Hàng thuỷ sản của ta chiếm thị phần nhỏ trên thị
trường này, còn cách xa tiềm năng xuất khẩu, nhu cầu nhập khẩu thuỷ sản hàng năm của
EU rất lớn, nhưng yêu cầu về tiêu chuẩn chất lượng và vệ sinh thực phẩm đối với mặt
hàng này lại rất cao.
Tình trạng chung, một số lô hàng thuỷ sản của Việt Nam xuất khẩu vào EU còn

Năm 2006, Công ty xuất vào thị trường Mỹ gặp nhiều khó khăn. Mỹ áp dụng
chính sách thuế chống bán phá giá .Và khi xuất vào thị trường Mỹ khó khăn thì thị
trường khác sẽ ép giá.
e) Thị trường Hàn quốc
Đây cũng là thị trường rất tiềm năng. Do đó chiến lược phát triển của Công ty
trong thời gian tới là cần phải mở rộng thị trường này thêm nữa.
f) Thị trường Australia
Sản phẩm mực nguyên con chất lượng cao xuất khẩu sang thị trường Australia.
Kế hoạch tiếp cận các thị trường để xuất khẩu trong thời gian tới của Công ty là
chú trọng phát triển và tìm kiếm bạn hàng lâu dài với thị trường Australia, Trung Quốc
và Nga.Công ty đã mở ra các thị trường khác như Châu Phi, UAE, Czech…
Cùng với việc đẩy mạnh xuất khẩu, Seaprodex Hà Nội cũng rất chú trọng phát
triển sản xuất thực phẩm phục vụ thị trường nội địa. Tận dụng thế mạnh uy tín của
thương hiệu Seaprodex Hà Nội tại thị trường phía Bắc, công ty đã đầu tư lắp đặt thiết bị
chế biến thuỷ sản tại xí nghiêp ở Hải Phòng để sản xuất các sản phẩm độc quyền phân
phối cho thị trường nội địa với thương hiệu Seaprodex Hà Nội.
1.3.6) Đặc điểm về Marketting
Công ty đã đổi mới phương thức tiếp cận thị trường, đã chuyển từ phương thức
bán hàng thụ động sang chủ động, đã tự bước ra thị trường, tìm kiếm và chủ động thiết
lập quan hệ với khách hàng.Công ty đã có một trang web riêng để giới thiệu những
thông tin về sản phẩm của Công ty, để quảng bá thương hiệu, xúc tiến thương mại và
phát triển thị trường.
* Sản phẩm:
- Số lượng, chủng loại sản phẩm: sản phẩm của công ty rất nhiều về số lượng, đa
dạng và phong phú về chủng loại mẫu mã. Hiện nay, công ty đang kinh doanh khoảng 7
mặt hàng khác nhau với trên 50 loại sản phẩm thuộc nhiều kích cỡ như: tôm đông lạnh,
cá đông lạnh, mực, đồ hộp...
25

Trích đoạn Đặc điểm của sản phẩm Tôm Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm của Công ty kh Sự đáp ứng các quy định của thị trường Nhật Bản tại Công Thực trạng quản lý chất lượng sản phẩm Tôm xuất khẩu tại Công ty cổ Khâu nuôi trồng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status