MỤC LỤC
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục bảng biểu, sơ đồ, hình vẽ
LỜI MỞ ĐẦU …………………………………………………………………............ 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ SỨC CẠNH TRANH
CỦA HÀNG HOÁ…………………………………….................................................
3
1.1. Tổng quan về cạnh tranh……………………………………………………....... 3
1.1.1. Khái niệm cạnh tranh………………………………………………………..... 3
1.1.2. Phân loại cạnh tranh………………………………………………………….... 6
1.1.3. Vai trò của cạnh tranh ……………………………………………………........ 7
1.2. Sức cạnh tranh của hàng hoá…………………………………………………..... 9
1.2.1. Khái niệm…………………………………………………………………....... 9
1.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của hàng hoá……………………... 9
1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá………………………………………………………....... 11
1.2.4. Các công cụ cạnh tranh……………………………………………………....... 14
1.3. Sự cần thiết phải nâng cao sức cạnh tranh cho hàng hoá xuất khẩu………...... 17
1.3.1. Đối với doanh nghiệp………………………………………………………...... 17
1.3.2. Đối với nền kinh tế quốc dân………………………………………………...... 18
1.3.3. Đối với xã hội………………………………………………………………….. 19
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG SỨC CẠNH TRANH CỦA GIẦY DÉP VIỆT
NAM TRÊN THỊ TRƯỜNG HOA KỲ………………………………………………
20
2.1. Tổng quan về thị trường Hoa Kỳ……………………………………………….. 20
2.1.1. Khái quát về nền kinh tế Hoa Kỳ……………………………………………… 20
1
2.1.2. Đặc điểm của thị trường Hoa Kỳ……………………………………………… 21
2.1.3. Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ…………………………………………………. 27
2.1.4. Thị trường giầy dép Hoa Kỳ………………………………………………….. 31
2.1.4.1. Tình hình sản xuất………………………………………………................ 31
2.1.4.2. Tình hình tiêu thụ…………………………………………………….......... 32
3.2. Định hướng phát triển ngành giầy dép……………………………………............ 67
3.3. Giải pháp nâng cao sức cạnh tranh cho giầy dép Việt Nam…………….............. 69
3.3.1. Giải pháp từ phía Chính phủ……………………………………………............. 69
3.3.1.1. Giải pháp về đầu tư………………………………………………….............. 69
3.3.1.2. Các giải pháp cung ứng nguyên liệu…………………………………........... 70
3.3.1.3. Giải pháp tổ chức quản lý và phát triển nguồn nhân lực……………............. 71
3.3.1.4. Nâng cao vai trò của hiệp hội Da giầy Việt Nam……………………............ 72
3.3.2. Giải pháp từ phía doanh nghiệp…………………………………………............. 73
3.3.2.1. Tăng lượng xuất khẩu trực tiếp………………………………………........... 73
3.3.2.2. Đa dạng hoá mẫu mã………………………………………………............... 74
3.3.2.3. Thực hiện tốt quan hệ công chúng…………………………………............... 75
3.2.3.4. Tăng cường xúc tiến thương mại……………………………………............. 76
3.2.3.5. Xây dựng thương hiệu cho giầy dép Việt Nam………………………........... 76
KẾT LUẬN……………………………………………………………………….......... 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………………........... 81
3
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam luôn tăng trưởng ổn định ở
mức cao và được đánh giá là “ngôi sao đang lên ở Châu Á”. Nước ta đang tích cực
chủ động hội nhập kinh tế quốc tế với phương châm “đa dạng hoá thị trường, đa
phương hoá mối quan hệ kinh tế”. Trong bối cảnh hội nhập, hoạt động xuất nhập
khẩu của các nước là thước đo đánh giá kết quả của quá trình hội nhập và phát triển
trong mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa các quốc gia. Thông qua hoạt động xuất
khẩu, các quốc gia thể hiện được những lợi thế so sánh của mình . Việt Nam đã trở
thành thành viên chính thức của WTO với nhiều cơ hội nhưng cũng ẩn chứa nhiều
thách thức mới. Vì vậy, đẩy mạnh xuất khẩu sẽ tạo cho Việt Nam phát huy được lợi
thế so sánh của mình, tạo điều kiện cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước.
Trong cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, giầy dép luôn là
Chương 1: Cơ sở lý luận về cạnh tranh và sức cạnh tranh của hàng hóa
5
Chương 2: Thực trạng sức cạnh tranh của giầy dép Việt Nam trên thị
trường Hoa Kỳ.
Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao sức cạnh tranh cho giầy dép
Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ.
Do thời gian nghiên cứu và kiến thức của em có hạn, tài liệu tham khảo còn
chưa đa dạng và đây cũng là một đề tài còn mới nên trong luận văn này chắc chắn
không tránh khỏi thiếu sót. Em mong nhận được sự đánh giá và đóng góp ý kiến quý
báu của các thầy cô và bạn bè để luận văn của em được hoàn thiện hơn.
6
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ
SỨC CẠNH TRANH CỦA HÀNG HÓA
1.1. Tổng quan về cạnh tranh
1.1.1. Khái niệm cạnh tranh
Thuật ngữ “cạnh tranh” là một trong những phạm trù cơ bản của kinh tế học. Đã
có rất nhiều nhà kinh tế học có đóng góp cho lý thuyết về cạnh tranh. Điểm lại lý
thuyết cạnh tranh trong lịch sử có thể thấy hai trường phái tiêu biểu: trường phái cổ
điển và trường phái hiện đại. Trường phái cổ điển với các đại biểu tiêu biểu như
A.Smith, John Stuart Mill, Darwin và C.Mác đã có những đóng góp nhất định trong
lý thuyết cạnh tranh sau này. Trường phái hiện đại với hệ thống lý thuyết đồ sộ với 3
quan điểm tiếp cận: tiếp cận theo tổ chức ngành với đại diện là trường phái Chicago
và Harvard; tiếp cận tâm lý với đại diện là Meuger, Mises, Chumpeter, Hayek thuộc
trường phái Viên; Tiếp cận “cạnh tranh hoàn hảo” phát triển lý thuyết của Tân cổ
điển.
Khi bàn về cạnh tranh, Adam Smith cho rằng nếu tự do cạnh tranh, các cá nhân
chèn ép nhau thì cạnh tranh buộc mỗi cá nhân phải cố gắng làm công việc của mình
một cách chính xác. Ngược lại, chỉ có mục đích lớn lao nhưng lại không có động cơ
thúc đẩy thực hiện mục đích ấy thì rất ít có khả năng tạo ra được bất kỳ sự cố gắng
lớn nào. Như vậy, có thể hiểu rằng cạnh tranh khơi dậy được sự nỗ lực chủ quan của
các điều kiện về các yếu tố sản xuất, điều kiện về cầu, các ngành hỗ trợ và bối cảnh
cạnh tranh, chiến lược và cơ cấu doanh nghiệp. Ngoài ra, còn có 2 biến số bổ sung là
vai trò của nhà nước và yếu tố thời cơ.
Theo Porter thì không một quốc gia nào có thể có khả năng cạnh tranh ở tất cả
các ngành hoặc ở hầu hết các ngành. Các quốc gia chỉ có thể thành công trên thương
trường kinh doanh quốc tế khi họ có lợi thế cạnh tranh bền vững trong một số ngành
nào đó. Porter phê phán các học thuyết cổ điển trước đây cho rằng ưu thế cạnh tranh
8
của các doanh nghiệp trên thương trường cạnh tranh quốc tế là chỉ dựa vào lợi thế
tuyệt đối của Adam Smith hay chỉ có lợi thế so sánh của David Ricardo. Theo ông,
khả năng cạnh tranh của một quốc gia ngày nay lại phụ thuộc vào khả năng sáng tạo
và sự năng động của ngành của quốc gia đó. Khi thế giới cạnh tranh mang tính chất
toàn cầu hoá thì nền tảng cạnh tranh sẽ chuyển dịch từ các lợi thế tuyệt đối hay lợi
thế so sánh mà tự nhiên ban cho sang những lợi thế cạnh tranh quốc gia được tạo ra
và duy trì vị thế cạnh tranh lâu dài của các doanh nghiệp trên thương trường quốc tế.
Lý luận của Porter về lợi thế cạnh tranh quốc gia giải thích các hiện tượng thương
mại quốc tế trên góc độ các doanh nghiệp tham gia kinh doanh quốc tế và vai trò của
nhà nước trong việc hỗ trợ cho các ngành có điều kiện thuận lợi để giành lợi thế cạnh
tranh quốc gia chứ không phải cho một vài doanh nghiệp cụ thể. Sự thành công của
các quốc gia ở ngành kinh doanh nào đó phụ thuộc vào 3 vấn đề cơ bản: lợi thế cạnh
tranh quốc gia, năng suất lao động bền vững và sự liên kết hợp tác có hiệu quả trong
cụm ngành.
Khi nền tảng của cạnh tranh càng chuyển dịch sang sự sáng tạo và tri thức mới
thì vai trò của quốc gia càng tăng lên. Lợi thế cạnh tranh quốc gia được tạo ra và
thông qua quá trình địa phương hoá cao độ. Sự khác biệt về giá trị quốc gia, văn hoá,
cấu trúc kinh tế, thiết chế và lịch sử, tạo nên ưu thế quyết định sự thành công trong
cạnh tranh. Các quốc gia thành công ở một số ngành trên thị trường toàn cầu vì môi
trường trong nước của họ năng động, đi tiên phong và nhiều sức ép nhất. Các công ty
của họ thu được lợi thế so với các đối thủ quốc tế nhờ việc có các đối thủ mạnh trong
nước, nhờ có các nhà cung cấp có khả năng trong nước, nhờ sự phong phú nhu cầu
- Cạnh tranh hoàn hảo hay gọi là cạnh tranh thuần túy
- Cạnh tranh không hoàn hảo
Xét theo tính chất của phương thức cạnh tranh
10
- Cạnh tranh lành mạnh
- Cạnh tranh không lành mạnh
Xét theo công đoạn của quá trình kinh doanh hàng hóa
- Cạnh tranh trước khi bán hàng
- Trong khi bán hàng
- Sau khi bán hàng
Ngoài các loại hình cạnh tranh đã nêu trên, người ta còn xét theo một số tiêu chí
khác nữa: điều kiện không gian, lợi thế tài nguyên, nhân lực, đặc điểm tập quán sản
xuất, tiêu dùng, văn hóa ở từng dân tộc, khu vực, quốc gia khác nhau mà phân loại
thành cạnh tranh giữa các nước và các khu vực trên thế giới.
1.1.3. Vai trò của cạnh tranh
Nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường là một nền kinh tế năng động, có
tính cạnh tranh cao. Vì nói đến kinh tế thị trường là nói tới cạnh tranh, không có cạnh
tranh thì không còn gọi là nền kinh tế thị trường. Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên
thế giới đều thừa nhận cạnh tranh và các quy luật của nó. Chính vì vậy, vai trò của
cạnh tranh ngày càng được thể hiện một cách rõ rệt. Một số vai trò chủ yếu của cạnh
tranh xin được đề cập đến:
Thứ nhất, cạnh tranh buộc các doanh nghiệp sử dụng tài nguyên một cách tối ưu
và khuyến khích áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Trong sản xuất,
nguồn tài nguyên là hữu hạn, thậm chí còn khan hiếm. Muốn tồn tại và chiến thắng
trong cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải không ngừng áp dụng khoa học công nghệ
mới vào sản xuất kinh doanh, sử dụng tối đa mọi nguồn lực nhằm thỏa mãn tốt nhất
nhu cầu của thị trường. Bên cạnh đó, ngày nay người tiêu dùng còn quan tâm đến
công nghệ sản xuất của doanh nghiệp có đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn không, có gây
ô nhiễm môi trường sinh thái không. Do vậy, cạnh tranh buộc doanh nghiệp phải
được các chứng chỉ do các tổ chức quốc tế có uy tín chứng nhận như ISO 9001, ISO
1.2.1. Khái niệm
Cạnh tranh gắn liền với hành vi của chủ thể, vì vậy có hành vi của doanh nghiệp
kinh doanh, của cá nhân kinh doanh và của một nền kinh tế. Trong quá trình cạnh
tranh với nhau, để giành lợi thế về phía mình, các chủ thể phải áp dụng tổng hợp
nhiều biện pháp nhằm duy trì và phát triển vị thế của mình trên thị trường. Các biện
pháp này thể hiện một sức mạnh nào đó của chủ thể, được gọi là sức cạnh tranh của
chủ thể đó hoặc khả năng cạnh tranh của chủ thể đó. Khi muốn chỉ một sức mạnh,
một khả năng duy trì được vị trí của một hàng hóa nào đó trên thị trường thì ta cũng
dùng thuật ngữ “sức cạnh tranh của hàng hóa” hoặc “năng lực cạnh tranh của hàng
hóa”, đó cũng là chỉ mức độ hấp dẫn của hàng hóa đó với khách hàng.
Như vậy, sức cạnh tranh của sản phẩm có thể hiểu là sự vượt trội so với các sản
phẩm cùng loại trên thị trường về chất lượng và giá cả với điều kiện các sản phẩm
tham gia cạnh tranh đều đáp ứng được các yêu cầu của người tiêu dùng. Điều đó có
nghĩa là những sản phẩm mang lại giá trị sử dụng cao nhất trên một đơn vị giá cả là
những sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao hơn.
1.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của hàng hóa
Sức cạnh tranh của sản phẩm trong thương mại quốc tế là tổng hòa sức cạnh
tranh của doanh nghiệp, ngành và quốc gia. Như vậy có thể nói các yếu tố ảnh hưởng
đến sức cạnh tranh sản phẩm trong thương mại quốc tế bao hàm các yếu tố từ phạm
vi doanh nghiệp, ngành cho đến quốc gia. Nhìn chung, các yếu tố ảnh hưởng đến sức
cạnh tranh của sản phẩm trong thương mại quốc tế có thể được tập hợp thành 4 nhóm
cơ bản
Nhóm các yếu tố thuộc về lợi thế so sánh
Đối với trường hợp này, sức cạnh tranh được xem là sức cạnh tranh bằng lợi thế
so sánh. Trước hết đó chính là sự dồi dào các yếu tố về tài nguyên thiên nhiên cũng
như nguồn lực con người và nguồn vốn. Các yếu tố này được thể hiện qua mức giá
13
bình quân thấp và đó cũng chính là cơ sở căn bản của lợi thế so sánh và sức cạnh
tranh. Một yếu tố khác là năng suất lao động của nhà sản xuất được phản ánh bằng
các hệ số đầu vào thấp. Lợi thế so sánh giúp một nước xác định được mặt hàng cần
chính trị, hệ thống pháp luật đầy đủ nghiêm minh, chính sách thương mại sẽ có ảnh
hưởng đến cơ chế khuyến khích xuất khẩu, rào cản thương mại trong nước và tiếp
cận thị trường nước ngoài. Chính sách tỷ giá liên quan đến tỷ giá hối đoái thực và tỷ
giá hối đoái so sánh thực giữa nước xuất khẩu và nước bạn hàng; (3) cấu trúc cạnh
tranh: là sự đa dạng nhiều hình thức kinh doanh, sự tham gia của các đối thủ cạnh
tranh trong và ngoài nước.
• Nhóm các yếu tố của thị trường nước ngoài
Đó là các yếu tố tương tự như những yếu tố trong môi trường nội địa; ngoài ra
còn kèm theo các yếu tố khác: (4) trình độ công nghệ: sự chênh lệch về trình độ và
hiệu quả ứng dụng công nghệ, (5) cấu trúc phân phối: là khả năng phân phối có hiệu
quả sản phẩm ra thị trường nước ngoài; (6) yếu tố địa lý, cơ sở hạ tầng của nước
ngoài; (7) các yếu tố văn hóa: là sự khác biệt về văn hóa tôn giáo, con người dẫn đến
những thói quen tiêu dùng, tập quán kinh doanh khác nhau.
1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá
Sản lượng và doanh thu xuất khẩu của mặt hàng so với các đối thủ cạnh tranh
Mức doanh thu tiêu thụ của mặt hàng là chỉ tiêu dễ dàng xác định nhất để đánh
giá sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu. Doanh thu của mặt hàng là chỉ tiêu phản
ánh giá trị của số lượng hàng hóa tiêu thụ được, được tính bằng số lượng hàng hóa
tiêu thụ nhân với giá cả của hàng hóa trong một thời gian nhất định.
Doanh thu = giá bán sản phẩm x sản lượng
15
Thông thường, khi sản lượng và doanh thu xuất khẩu của một mặt hàng nào đó
có mức tăng trưởng đều đặn qua các năm thì có thể được đánh giá là hàng hóa có
được cạnh tranh tốt, được thị trường quốc tế chấp nhận. Ngược lại, nếu nhu cầu của
thị trường nhập khẩu đang tăng lên, nhưng sản lượng và doanh thu xuất khẩu hàng
hóa không có được mức tăng đều đặn hoặc suy giảm thì chứng tỏ rằng sức cạnh tranh
của hàng hóa đó chưa cao so với các đối thủ cạnh tranh. Sản lượng và doanh thu xuất
khẩu của một mặt hàng phụ thuộc và chất lượng, giá bán và quá trình tổ chức tiêu thụ
của mặt hàng.
Thị phần của hàng hóa so với các đối thủ cạnh tranh
thế trong cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải có sự linh hoạt trong lựa chọn chính sách
giá phù hợp cho từng loại sản phẩm, từng giai đoạn trong chu kỳ sống quốc tế của
sản phẩm hoặc từng đoạn thị trường.
Mức độ đáp ứng các yêu cầu về chất lượng và vệ sinh an toàn của hàng hóa so
với các đối thủ cạnh tranh
Chất lượng của sản phẩm thể hiện ở giá trị sử dụng và thời gian sử dụng của sản
phẩm. Trong xã hội phát triển, yêu cầu đặt ra đối với doanh nghiệp là phải cung ứng
những sản phẩm có chất lượng cao để thỏa mãn nhu cầu ngày càng khắt khe của
người tiêu dùng. Người tiêu dùng sẵn sàng trả giá cao hơn cho những sản phẩm, dịch
vụ cùng loại có chất lượng cao hơn. Do vậy, chất lượng sản phẩm, dịch vụ là chỉ tiêu
rất quan trọng thể hiện sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Trước sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường thế giới, hàng hóa sản xuất
ra muốn tiêu thụ được phải đảm bảo được chất lượng theo chuẩn mực. Hàng hóa xuất
khẩu nói chung, hàng hóa nông sản nói riêng phải đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng
theo các tiêu chuẩn ISO quốc tế và phải được các tổ chức quốc tế xét duyệt và cấp
chứng chỉ ISO. Để nâng cao sức cạnh tranh, vấn đề đặt ra đối với hàng nông sản xuất
17
khẩu không chỉ đảm bảo được chất lượng theo các tiêu chuẩn ISO mà còn thể hiện ở
một chất lượng vượt trội so với các sản phẩm khác cùng loại trên thị trường.
Để nâng cao được chất lượng sản phẩm, chiếm lĩnh và giữ được thị phần, một
nhân tố quan trọng là phải thực hiện đổi mới sản phẩm để tạo ra sự khác biệt của sản
phẩm so với đối thủ cạnh tranh. Đồng thời, sự đổi mới của sản phẩm phải luôn gắn
chặt với sự phù hợp sở thích và đảm bảo đủ độ tự tin cậy cho người tiêu dùng.
Thương hiệu và uy tín của hàng hóa so với các đối thủ cạnh tranh
Thương hiệu và uy tín của sản phẩm chính là sự tổng hợp các thuộc tính của sản
phẩm như chất lượng sản phẩm, lợi ích, mẫu mã và dịch vụ của sản phẩm. Thương
hiệu không những là dấu hiệu để nhận biết và phân biệt sản phẩm của doanh nghiệp
này với sản phẩm của doanh nghiệp khác, mà nó còn là tài sản rất có giá trị của doanh
nghiệp, là uy tín và thể hiện niềm tin của người tiêu dùng đối với sản phẩm. Một
thương hiệu mạnh là một thương hiệu có uy tín cao và uy tín thương hiệu càng cao
liệu để sản xuất một số sản phẩm có giá trị sử dụng khác nhau.
• Nâng cao chất lượng sản phẩm
Có thể hiểu chất lượng sản phẩm là mức đọ, là thước đo biểu thị giá trị sử dụng
của nó. Chất lượng sản phẩm là vũ khí cạnh tranh lợi hại trên thị trường. Khi nền
kinh tế phát triển, thu nhập của người tiêu dùng ngày càng cao thì những yêu cầu về
chất lượng sản phẩm hàng hóa dịch vụ cũng gia tăng tương ứng. Đặc biệt, đối với các
thị trường khó tính như EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản, chất lượng hàng hóa phải đạt được
mức “chất lượng hàng hóa quốc tế” và phải được một số tổ chức có uy tín chứng
nhận. Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế ISO đưa ra khái niệm: “Chất lượng sản phẩm là
tổng thể những chi tiêu, những đặc trưng kinh tế kỹ thuật của sản phẩm, thể hiện
được sự thỏa mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác định phù hợp với
công dụng sản phẩm mà người tiêu dùng mong muốn”. Nếu theo như khái niệm trên,
19
chất lượng được hiểu trên hai khía cạnh là tiêu chuẩn kinh tế kỹ thuật và chất lượng
sản phẩm với sự phù hợp nhu cầu thị trường. Nâng cao chất lượng sản phẩm thì phải
xem xét cả hai khía cạnh trên.
• Cạnh tranh bằng giá bán của sản phẩm
Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị sản phẩm mà người bán hay doanh
nghiệp dự định có thể nhận được từ người mua qua việc trao đổi sản phẩm trên thị
trường. Giá cả có một vai trò rất quan trọng, đối với doanh nghiệp là khẩu cuối cùng
của quá trình sản xuất kinh doanh hàng hóa, còn đối với người tiêu dùng là một trong
những yếu tố quyết định đến hành vi mua hàng. Giá cả là dấu hiệu tin cậy phản ánh
tình hình biến động thị trường. Thông qua giá cả, doanh nghiệp có thể nắm bắt được
sự tồn tại, sức chịu đựng cũng như sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.
Trong cạnh tranh, giá cả được sử dụng như một công cụ cạnh tranh hữu hiệu
thông qua chính sách định giá bán. Khi đưa ra chính sách định giá bán, doanh nghiệp
cần phải xem xét các vấn đề như: lượng cầu đối với sản phẩm, chi phí sản xuất và giá
thành đơn vị sản phẩm. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp phải chấp
nhận giá bán thấp hơn giá thành vì những mục tiêu khác như: để thâm nhập thị
trường dễ dàng hơn. Điều cuối cùng là phải nhận dạng đúng thị trường nhằm đảm
thương mại ngày càng được dỡ bỏ. Các hoạt động sản xuất kinh doanh của một quốc
gia đều ít nhiều mang tính quốc tế. Hội nhập trở thành một điều kiện tiên quyết để
phát triển. Vì vậy, nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm xuất khẩu là yêu cầu khách
quan và mang tính chất sống còn đối với các nhà kinh doanh quốc tế.
1.3.1. Đối với doanh nghiệp
Ở đây cũng phân biệt sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa với sức cạnh tranh
của doanh nghiệp là hai phạm trù khác nhau nhưng có quan hệ hữu cơ với nhau. Sức
21
cạnh tranh của hàng hóa có được do sức cạnh tranh của chủ thể doanh nghiệp, nền
kinh tế tạo ra nhưng sức cạnh tranh của doanh nghiệp còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố
khác nữa. Tuy nhiên, sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa có ảnh hưởng lớn và thể
hiện sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Vì sự ảnh hưởng chủ yếu của sản phẩm đến
sức cạnh tranh của doanh nghiệp nên các doanh nghiệp muốn duy trì phát triển thị
trường đang hoặc sẽ tiến hành kinh doanh thì rất cần thiết phải nâng cao sức cạnh
tranh của hàng hóa xuất khẩu trên thị trường đó.
Trong nền kinh tế thị trường như hiện nay, nếu doanh nghiệp chỉ trông chờ vào
các thị trường truyền thống thì chắc chắn đến một lúc nào đó họ sẽ mất khó có thể
cạnh tranh với các đối thủ có những điều kiện tương tự. Yêu cầu về nâng khả năng
cạnh tranh sản phẩm xuất khẩu tại các thị trường mà doanh nghiệp có lợi thế so sánh
đang trở nên cấp bách và là hướng đi đúng đắn, lâu dài cho các doanh nghiệp khi
tham gia vào thị trường toàn cầu, nơi không còn sự can thiệp nhiều của chính phủ,
của các hàng rào thương mại quốc gia. Nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa xuất
khẩu chính là nâng cao khả năng đáp ứng của doanh nghiệp đối với nhu cầu người
tiêu dùng quốc tế.
1.3.2. Đối với nền kinh tế
Một mặt, tổng số sức cạnh tranh của doanh nghiệp của một nước tạo thành sức
cạnh tranh của nền kinh tế quốc gia đó. Sức cạnh tranh của doanh nghiệp bị hạn chế
khi sức cạnh tranh cấp quốc gia và của sản phẩm doanh nghiệp đó đều thấp. Mặt
khác, sức cạnh tranh quốc gia thể hiện qua môi trường kinh doanh, cạnh tranh quốc tế
và trong nước ( đặc biệt trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế).
GIẦY DÉP VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƯỜNG HOA KỲ
2.1. Tổng quan về thị trường Hoa Kỳ
2.1.1. Khái quát về nền kinh tế Hoa Kỳ
Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (United States of America), thường gọi là Mỹ hoặc
Hoa Kỳ, gồm 50 bang và đặc khu Colombia (tức là thủ đô Washington) hợp thành.
Hoa Kỳ nằm ở Tây bán cầu, Bắc giáp Canada, Nam giáp Mexico và vịnh Mexico,
Đông giáp Đại Tây Dương, Tây giáp Thái Bình Dương, bang Alaska nằm phía Tây
bắc Canada, quần đảo Hawaii ở Thái Bình Dương. Với diện tích 9.629.047 km
2
, Hoa
Kỳ đứng thứ 4 thế giới sau Liên bang Nga, Canada, Trung Quốc, chiếm 6,2% diện
tích toàn cầu. Phần lục địa chính từ Đông sang Tây rộng 4.500 km, từ Bắc xuống
Nam rộng 2.500 km. Hoa Kỳ là một quốc gia đa chủng tộc: da trắng (69,1%), da đen
(12,1%), gốc Latin (Hispanic) (12,5%), gốc Châu á (3,6%), thổ dân Hoa Kỳ (0,8%).
Hiện nay và trong nhiều năm nữa, Hoa Kỳ vẫn là nước có nền kinh tế lớn nhất
thế giới. Năm 2007, GDP của Hoa Kỳ ước đạt xấp xỉ 13,79 nghìn tỷ USD (tính theo
giá Đô la cùng năm), chiếm khoảng 26% tổng GDP toàn thế giới. Nếu tính theo sức
mua (PPP) thì GDP của Hoa kỳ chiếm khoảng 20%. Thu nhập bình quân đầu người ở
Hoa Kỳ năm 2007 đạt 43,594 USD, xếp thứ 9 trên thế giới.
Cơ cấu kinh tế của Hoa Kỳ năm 2007 gồm dịch vụ 78,7%, công nghiệp chế tạo
20,3%, và nông nghiệp 1%. Tỷ trọng dịch vụ trong GDP của Hoa Kỳ vẫn có xu
hướng tăng.
Kể từ thập kỷ 90 trở lại đây, Hoa Kỳ đã duy trì được mức tăng trưởng GDP cao
hơn mức tăng trưởng chung của cả khối G7. Mức tăng trưởng GDP bình quân của
Hoa Kỳ trong thập kỷ 90 là 3,6% trong khi đó mức tăng chung của cả khối G7 trong
cùng thời kỳ chỉ là 2,6%. Tuy nhiên, tốc độ tăng GDP thực tế bình quân của Hoa Kỳ
từ năm 2000 trở lại đây thấp hơn so với thập kỷ 90 và không ổn định.
24
Hoa Kỳ rất mạnh và đóng vai trò chi phối thế giới trong các lĩnh vực tài chính
tiền tệ, thương mại điện tử, thông tin, tin học, bưu điện, du lịch, vận tải hàng không,