Nhóm 4 –PTNT52 Tiểu luận Quản trị kinh doanh nông nghiệp
I. MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết.
Nông nghiệp là một ngành sản xuất quan trọng của Việt Nam, hiện tại nông
nghiệp vẫn chiếm 70% lực lượng lao động của toàn xã hội và khoảng 14% GDP của
cả nước. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII của Đảng cộng sản Việt Nam đã đề ra
mục tiêu chiến lược về CNH-HĐH đất nước là: từ nay (1996) đến năm 2020 phấn đấu
đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Vì vậy trong cơ cấu kinh tế,
công nghiệp và dịch vụ sẽ chiếm tỷ trọng lớn trong GNP và trong lao động xã hội.
Mặc dù vậy sản xuất nông nghiệp vẫn có một vị trí hết sức quan trọng trong nhiều
năm nữa. Việc tự do hóa sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lúa gạo, đã giúp
Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo. Những nông sản quan trọng
khác là cà phê, sợi bông, đậu phộng, cao su, đường, và trà.
Trong sản xuất nông nghiệp, có nhiều yếu tố tác động đến năng suất và sản
lượng các loài cây trồng như: đất đai, thời tiết, khí hậu, các thiết bị kỹ thuật, giống,
phân bón ...v.v. Song phân bón bao giờ cũng là yếu tố có tính quyết định thường
xuyên. Bởi vậy, ở Việt Nam phân bón được xếp vào loại mặt hàng chiến lược hết sức
quan trọng.
Là một nước nông nghiệp, nên nhu cầu về phân bón của Việt Nam rất lớn
(bình quân mỗi năm 8-9 triệu tấn). Tuy nhiên công nghiệp phân bón của Việt Nam
đang còn quá nhỏ bé và lạc hậu, hiện tại mới sản xuất và cung ứng được khoảng trên
5 triệu tấn, số còn lại phải dựa vào nhập khẩu từ bên ngoài.
Nông nghiệp luôn cần phân, song do nhiều lý do khách quan và chủ quan tác
động (tài chính, tổ chức quản lý, cơ chế chính sách...) nên việc nhập khẩu phân bón
của Việt Nam vừa qua diễn ra không được thuận lợi. Điều này đã làm cho Cung-Cầu,
giá cả phân bón ở Việt Nam diễn ra không ổn định: lúc sốt nóng, lúc sốt lạnh gây
không ít khó khăn cho nông dân và cho sản xuất nông nghiệp.
1
Nhóm 4 –PTNT52 Tiểu luận Quản trị kinh doanh nông nghiệp
Chính vì vậy, việc “Tìm hiểu tình hình sản xuất và nhập khẩu phân bón của
Việt Nam” từ đó tìm ra các yếu tố cơ bản của thị trường phân bón như: cung, cầu, giá
Chúng tôi dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để nghiên
cứu tài liệu, phân tích đưa ra kết quả nghiên cứu, phân tích tình hình sản xuất, nhập
khẩu phân bón dựa trên kiến thức và tài liệu thu thập được.
Phương pháp thu thập số liệu
Phương pháp thu thập số liệu là số liệu thứ cấp: các số liệu từ các luận án, luận
văn, sách báo, tạp chí và trên Internet.
Phương pháp phân tích số liệu
Phương pháp thống kê mô tả
Phương pháp thống kê so sánh
Phương pháp dự báo
3
Nhóm 4 –PTNT52 Tiểu luận Quản trị kinh doanh nông nghiệp
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
Phân bón có vai trò khá quan trọng trong việc tăng năng suất, bảo vệ cây trồng
cũng như giúp cải tạo đất. Phân bón bao gồm một hay nhiều dưỡng chất cần thiết cho
cây được chia thành ba nhóm sau:
Đa lượng: là nhóm các dưỡng chất thiết yếu mà cây trồng cần nhiều bao gồm
Ni tơ (N), Phốt pho (P) và Ka li (K).
Trung lượng: là nhóm các dinh dưỡng khoáng thiết yếu mà cây trồng cần ở
mức trung bình bao gồm Can xi (Ca), Ma giê (Mg) và Lưu huỳnh (S).
Vi lượng: là nhóm dinh dưỡng khoáng thiết yếu cây trồng cần với lượng ít như
Sắt (Fe), Kẽm (Zn), Đồng (Cu)….
Tùy theo từng loại cây trồng cũng như từng loại đất sẽ có những sản phẩm
phân bón phù hợp. Theo nguồn gốc, phân bón được chia thành hai loại:
- Phân bón hữu cơ: loại phân chứa những chất dinh dưỡng ở dạng những hợp
chất hữu cơ như phân chuồng, phân xanh, phân vi sinh, phân rác. Ưu điểm của loại
phân này là có thể tận dụng nguồn rác thải từ động vật hay cây trồng để sản xuất phân
bón và ít gây ô nhiễm môi trường trong quá trình sử dụng. Tuy nhiên khuyết điểm của
nó là giá thành cao và khi sử dụng phân hữu cơ cây không thể sử dụng ngay dưỡng chất
với số lượng phân hoá học đã được sử dụng (NPK, trung, vi lượng ) bón cho lúa.
Trong những thập kỷ cuối thế kỷ 20 (từ 1960-1997), diện tích trồng lúa toàn thế giới
chỉ tăng có 23,6% nhưng năng suất lúa đã tăng 108% và sản lượng lúa tăng lên
164,4%, tương ứng với mức sử dụng phân hoá học tăng lên là 242%. Nhờ vậy đã góp
phần vào việc ổn định lương thực trên thế giới. Ở nước ta, do chiến tranh kéo dài,
công nghiệp sản xuất phân hoá học phát triển rất chậm và thiết bị còn rất lạc hậu. Chỉ
đến sau ngày đất nước được hoàn toàn giải phóng, nông dân mới có điều kiện sử dụng
phân hoá học bón cho cây trồng ngày một nhiều hơn. Ví dụ năm 1974/1976 bình quân
5
Nhóm 4 –PTNT52 Tiểu luận Quản trị kinh doanh nông nghiệp
lượng phân hoá học (NPK) bón cho 1 ha canh tác mới chỉ có 43,3 kg/ha. Năm 1993-
1994 sau khi cánh cửa sản xuất nông nghiệp được mở rộng, lượng phân hoá học do
nông dân sử dụng đã tăng lên đến 279 kg/ha canh tác. Số lượng phân hoá học bón vào
đã trở thành nhân tố quyết định làm tăng năng suất và sản lượng cây trồng lên rất rõ,
đặc biệt là cây lúa. Rõ ràng năng suất cây trồng phụ thuộc rất chặt chẽ với lượng phân
hoá học bón vào. Tuy nhiên không phải cứ bón nhiều phân hoá học thì năng suất cây
trồng cứ tăng lên mãi. Cây cối cũng như con người phải được nuôi đủ chất, đúng cách
và cân bằng dinh dưỡng thì cây mới tốt, năng suất mới cao và ổn định được. Vì vậy
phân chuyên dùng ra đời là để giúp người trồng cây sử dụng phân bón được tiện lợi
hơn.
2.2.2. Tình hình sử dụng phân bón của một số nước trên thế giới và khu vực
Đông Nam Á
Từ lâu nông dân ta đã có câu "người đẹp nhờ lụa, lúa tốt nhờ phân". Phân bón
đã là một trong những nhân tố chính làm tăng năng suất cây trồng để nuôi sống nhân
loại trên thế giới. Tuy nhiên, nhiều nước không có công nghệ sản xuất phân bón,
nhưng ngoại tệ lại có hạn nên việc sử dụng phân khoáng ở các nước có sự chênh lệch
khá lớn. Sự chênh lệch này không phải do tính chất đất đai khác nhau quyết định mà
chủ yếu là do điều kiện tài chánh cũng như trình độ hiểu biết về khoa học dinh dưỡng
cho cây trồng quyết định. Còn trong các nước phát triển mức độ sử dụng phân khoáng
khác nhau là do họ sử dụng cây trồng khác nhau, điều kiện khí hậu khác nhau, cơ cấu
xuất được là nhờ vào kế hoạch nâng cấp nhà máy phân đạm Bắc Giang, xây dựng 2
cụm chế biến phân đạm ở Bà Rịa-Vũng Tàu và ở Cà Mau mà có. Nếu được như vậy
lúc đó ta chỉ còn phải nhập thêm khoảng 500.000 tấn Urê và 300.000 tấn phân Kali
nữa là tạm đủ. Năm 2010, tổng khối lượng phân các loại cần có là 7,1 triệu tấn, một
khối lượng phân khá lớn, trong lúc đó, hiện nay (năm 2003) ta mới sản xuất được
khoảng 1,5 triệu tấn phân đạm và lân. Còn số lượng 1,2 triệu tấn phân NPK có được
là nhờ vào nguồn nguyên liệu ngoại nhập. Năm 2002, cả nước nhập khẩu 2.833.907
tấn phân các loại (Urê, DAP, Kali, sunphát đạm). Nếu tính cả số phân nhập bằng con
7
Nhóm 4 –PTNT52 Tiểu luận Quản trị kinh doanh nông nghiệp
đường tiểu ngạch thì năm 2002 số lượng phân nhập có khoảng 3 triệu tấn, nếu cộng
thêm 1,5 triệu tấn sản xuất trong nước thì vẫn còn cần thêm 2,6 triệu tấn phân các loại
nữa mới đáp ứng được yêu cầu sản xuất nông nghiệp. Công ty Phân bón Bình Điền
đang chuẩn bị xây dựng thêm 1 nhà máy sản xuất phân bón ở tỉnh Long An với công
suất 600.000 tấn phân NPK/năm, lúc đó Công ty có thể cung cấp được khoảng 1/3
lượng phân NPK theo yêu cầu đặt ra. Như vậy cho đến nay, số lượng phân hoá học
dùng cho sản xuất nông nghiệp phần lớn là dựa vào nhập khẩu. Nếu việc nâng cấp
nhà máy phân đạm Bắc Giang cũng như việc xây dựng 2 cụm chế biến phân đạm ở
Bà Rịa-Vũng Tàu và Cà Mau thực hiện đúng theo kế hoạch thì đến hết năm 2010 ta
chỉ còn nhập khối lượng phân không nhiều lắm. Ngược lại, nếu kế hoạch trên có trở
ngại thì việc tiếp tục nhập phân hoá học với khối lượng lớn là điều tất yếu. Tuy nhiên
để việc sử dụng phân bón có hiệu quả, không có dư lượng đạm quá mức cho phép,
không gây ô nhiễm môi trường thì ngay bây giờ ta phải trang bị cho người sản xuất
những kiến thức khoa học cần thiết về tính chất 2 mặt của phân bón, biết được nhu
cầu phân bón của từng loại cây, từng giai đoạn sinh trưởng của cây trên từng loại đất,
từng mùa vụ để họ từ quản lý lấy nguồn tài nguyên quí giá của họ mới có hiệu quả
được.
2.2.4 Quá trình sản xuất phân bón của Việt Nam.
Trước những năm 1960, Nông nghiệp Việt Nam chỉ sử dụng phân hữu cơ và
phân chuồng để bón cho cây trồng; sau những năm 60 mới có sự chuyển hưởng kết