BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
NGUYỄN THỊ NGA
PHƢƠNG DIỆN NỘI DUNG TRONG TẬP THƠ
HỒNG ĐỨC QUỐC ÂM THI TẬP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Sơn La, năm 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
NGUYỄN THỊ NGA
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Đối tượng nghiên cứu 4
4. Phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 4
5. Phương pháp nghiên cứu 4
6. Cấu trúc đề tài 5
PHẦN NỘI DUNG 6
CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ THƠ NÔM ĐƢỜNG LUẬT VÀ TẬP THƠ
HỒNG ĐỨC QUỐC ÂM THI TẬP 6
1.1. Khái quát về thơ Nôm Đường luật 6
1.1.1. Khái niệm 6
1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển 7
1.2. Khái quát về tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập 10
1.2.1. Thời đại Hồng Đức 10
1.2.2. Tác giả Hồng Đức quốc âm thi tập 11
1.2.3. Hoàn cảnh ra đời, vị trí tác phẩm 12
Tiểu kết chương 1 13
CHƢƠNG 2: PHƢƠNG DIỆN NỘI DUNG TRONG TẬP THƠ HỒNG
ĐỨC QUỐC ÂM THI TẬP 14
2.1. Ngợi ca công đức nhà Lê và vai trò của Lê Thánh Tông 14
2.2. Ca ngợi đất nước giàu đẹp 23
2.2.1. Địa danh kì thú 24
2.2.2. Bốn mùa tốt tươi, tuần hoàn bí ẩn 28
2.2.3. Dân chúng ấm no 33
2.3. Tôn vinh các nhân kiệt Trung Hoa và tự hào về quá khứ của cha ông 36
2.3.1. Tôn vinh các nhân kiệt Trung Hoa 36
2.3.2. Niềm tự hào về quá khứ của cha ông 39
cách thời gian lịch sử và hạn chế trong giới thiệu tài liệu học tập nên người học
và độc giả hạn chế về sự tiếp cận, hơn nữa các tài liệu nghiên cứu chỉ dừng lại ở
phương diện khái quát chung mà chưa đi vào những vấn đề cụ thể.
Tập thơ được coi là tiếng nói không nhỏ trong thơ Nôm dân tộc, khi tiếp
xúc với tác phẩm điều cuốn hút người viết trước hết là ở phương diện nội dung
phong phú và sâu sắc của tác phẩm.
Như vậy, việc nghiên cứu tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập là điều cần
thiết đặc biệt là nghiên cứu phương diện nội dung. Tuy nhiên cho đến nay chưa có
nhiều công trình tập trung nghiên cứu chuyên sâu và riêng biệt về phương diện nội
dung của tập thơ, đây là khó khăn cho việc tiếp cận và học tập những tác phẩm thơ
trong Hồng Đức quốc âm thi tập, do vậy để có cái nhìn cụ thể hơn về nội dung thơ
trong tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập người viết đi vào thực hiện khóa luận
“Phương diện nội dung trong tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập”.
2
2. Lịch sử vấn đề
Cho đến nay, chưa có nhiều những công trình nghiên cứu một cách sâu
sắc về tập thơ Nôm Hồng Đức quốc âm thi tập mà hầu như chỉ dừng lại ở mức
độ khái quát chung. Có thể điểm qua một số công trình tiêu biểu như sau:
Các tác giả cuốn Văn học trung đại Việt Nam, tập 1, do Nguyễn Đăng Na
chủ biên đã đưa ra những đánh giá khái quát về tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập
như sau: “Thời đại Hồng Đức không những đánh dấu giai đoạn hoàng kim của
chế độ phong kiến Việt Nam mà còn ghi một cột mốc lớn trên con đường phát
triển của lịch sử văn học dân tộc với sự ra đời của tập thơ mang chính tên thời
đại đó.” [14, tr.158]. Về mặt nội dung các tác giả cũng đưa ra nhận xét: “đồng
thời mở rộng những nội dung Nho giáo, khẳng định, đề cao vương triều phong
kiến.” [14, tr.157].
Các soạn giả cuốn Hồng Đức quốc âm thi tập do Phạm Trọng Điềm chủ
biên đã có những nhận xét khái quát về nội dung tập thơ: “ Đây là tập thơ nhiều
tác giả cho nên ý thơ và lời thơ cũng muôn màu muôn vẻ. Tuy nhiên hướng sáng
Phạm Hùng cũng có lời bình: “Tập thơ là kết quả của cuộc sinh hoạt nghệ
thuật cung đình mang tính công dân đầy trang trọng, nghiêm túc.” [7, tr.6540].
Với công trình nghiên cứu Thơ Nôm Đường luật, tác giả Lã Nhâm Thìn
nhận định: “Hồng Đức quốc âm thi tập vẫn tiếp tục nội dung dân tộc đã có từ
Quốc âm thi tập, nhưng xu hướng xã hội hóa trong nội dung phản ánh đã thể
hiện khá rõ nét.” [19, tr 41]. “Đôi khi mộc mạc, chất phác, ngộ nghĩnh nhưng
đậm đà phong vị dân tộc.” [19, tr.42].
Trong cuốn Văn học Việt Nam thế kỉ X – nửa đầu thế kỉ XVIII, do Đinh
Gia Khánh chủ biên có lời nhận xét của Mai Cao Chương như sau: “Hồng Đức
quốc âm thi tập là tập thơ Nôm cỡ lớn của thế kỉ XV.” [12, tr.273].
Cũng về tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập trong cuốn Văn học Việt Nam
từ thế kỉ X – thế kỉ XX, Nguyễn Phạm Hùng chủ biên có đưa ra ý kiến nhận xét
cụ thể: “Tập thơ thể hiện sự hào sảng của một vị vua thời thịnh mang niềm tự
hào to lớn trước lịch sử dân tộc, trước non sông gấm vóc, ca tụng vương quyền,
ca tụng cuộc sống thái bình, bày tỏ lòng quan tâm tới đời sống muôn dân…
nghệ thuật thơ rất trau chuốt, điêu luyện có tính dân tộc, giàu sắc thái dân dã.”
[9, tr.92,93].
4
Đinh Gia Khánh trong cuốn Văn học Việt Nam (thế kỉ X – nửa đầu thế kỉ
XVIII) có lời bình khách quan: “Hồng Đức quốc âm thi tập đã đánh dấu một
bước tiến rõ rệt của văn học Nôm đặc biệt là về phương diện rèn giũa và nâng
cao khả năng biểu hiện của ngôn ngữ văn học dân tộc.” [12, tr.284.285].
Trên đây là những công trình nghiên cứu và những ý kiến tiêu biểu của
một số nhà nghiên cứu về tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập. Nhìn chung mỗi
công trình nghiên cứu đều có những đóng góp đáng kể với những phát hiện mới
mẻ. Tôi tiến hành thực hiện khóa luận trên cơ sở kế thừa, tiếp thu những thành
tựu đã có từ những công trình nghiên cứu trên .
3. Đối tƣợng nghiên cứu
Triển khai khóa luận “Phương diện nội dung trong tập thơ Hồng Đức
kì khác nhau nên việc sử dụng phương pháp văn học sử sẽ đảm bảo được tính
logic trong quá trình khảo sát phục vụ cho việc nghiên cứu khóa luận. Hơn nữa
tư tưởng tác phẩm luôn chịu sự chi phối của thời đại.
6. cấu trúc đề tài
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về thơ Nôm Đường luật và tập thơ Hồng Đức quốc âm
thi tập
Chương 2: Phương diện nội dung trong tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập
Chương 3: Một vài phương diện trong hình thức thể hiện Hồng Đức quốc âm
thi tập
6
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ THƠ NÔM ĐƢỜNG LUẬT VÀ
TẬP THƠ HỒNG ĐỨC QUỐC ÂM THI TẬP
1.1. Khái quát về thơ Nôm Đƣờng luật
1.1.1. Khái niệm
Thơ Nôm Đường luật là một trong những thể loại để lại nhiều thành tựu to
lớn cho nền văn học dân tộc, đó được coi là thể thơ độc đáo vào bậc nhất của
văn học Việt Nam. Thời trung đại nhiều sáng tác vận dụng thể thơ này: Quốc âm
thi tập của Nguyễn Trãi, Hồng Đức quốc âm thi tập của hội Tao đàn, Bạch Vân
quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm, thơ Hồ Xuân Hương, thơ Bà Huyện
Thanh Quan và sau này được Nguyễn Khuyến, Tú Xương tiếp tục phát triển đến
cuối thời kì trung đại.
Nghiên cứu về thơ Nôm Đường luật có nhiều quan niệm khác nhau, tùy
chỉnh và ổn định. Về thời gian ra đời, thơ Nôm Đường luật được xác định ra đời
vào khoảng thế kỉ XIII, tuy nhiên số lượng rất ít và mờ nhạt, cho đến nay không
lưu lại được bản thơ Nôm nào từ thế kỉ XIII. Sáng tác thơ Nôm Đường luật sớm
nhất theo tương truyền là của nàng Điểm Bích vào đầu thế kỉ XIV, theo giai
thoại còn có một số bài thơ phú tuy nhiên không được lưu lại cho đến ngày nay.
Đến cuối thế kỉ XIV, thơ Nôm đã để lại những dấu ấn khá rõ nét với nhiều tác
phẩm thơ Nôm tiêu biểu, có thể kể đến bài phú Nôm Cư trần lạc đạo của Trần
Nhân Tông, Hoa Yên tự phú của Lý Đạo Tái, và một số tác phẩm khác. Sáng tác
Nôm thời kì này không phải là việc làm lẻ tẻ của một vài cá nhân mà có những lúc
việc sáng tác thơ Nôm đã trở thành phong trào trong trí thức dân tộc.
Khi mới hình hành, mặc dù thơ Nôm chưa được quan tâm đúng mức và chưa để
lại thành tựu đáng kể song nó đã đặt những viên gạch đầu tiên làm nền tảng cho
việc sáng tác thơ bằng ngôn ngữ dân tộc. Có thể nói, thời kì này đã chuẩn bị những
điều kiện cơ sở để phát triển thơ Nôm ở những thế kỉ sau, điều này giải thích cho sự
ra đời của tập thơ Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, Hồng Đức quốc âm thi tập của
hội Tao đàn và nhiều tác phẩm thơ Nôm Đường luật ở những giai đoạn tiếp theo.
Thế kỉ XV là sự phát triển nhảy vọt của thơ Nôm với nhiều thành tựu văn học
nổi bật. Đây có thể coi là thế kỉ của thơ Nôm Đường luật với sự xuất hiện của
8
hai tập thơ lớn cả về số lượng và chất lượng: nửa đầu thế kỉ có Quốc âm thi tập
của Nguyễn Trãi gồm 254 bài thơ, nửa cuối thế kỉ có Hồng Đức quốc âm thi tập
gồm 328 bài thơ. Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi được coi là tác phẩm mở
đường cho sự phát triển của thơ Nôm Đường luật và khẳng định sự tồn tại trong
thực tế dòng văn học tiếng Việt. Với tác phẩm này, lịch sử văn học Việt Nam
trên thực tế đã có thêm một thể thơ mới: thơ Nôm Đường luật. Tập thơ Hồng
Đức quốc âm thi tập được coi là bước phát triển tiếp theo trên cơ sở kế thừa và
phát huy tinh thần đã có trong Quốc âm thi tập, góp phần đưa thơ Nôm Đường
luật phát triển mạnh mẽ hơn và khẳng định chắc chắn vị trí của mình trong lịch
sử văn học dân tộc. Sau Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, tập thơ Hồng Đức
Nếu như trước đây sáng tác thơ thường gắn với phong cách thời đại và
phong cách thể loại thì với hai nữ sĩ Hồ Xuân Hương và Bà Huyện Thanh Quan
trong thơ Nôm Đường luật đã xuất hiện phong cách tác giả, đây được coi là
bước tiến vượt bậc trong thơ Nôm Đường luật. Cũng trong thời kì này thơ Nôm
Đường luật phát triển theo hai xu hướng đó là phong cách thơ Hồ Xuân Hương
và phong cách Bà Huyện Thanh Quan. Tuy nhiên xu hướng Hồ Xuân Hương
phát triển mạnh mẽ hơn, điều đó chứng tỏ thơ Nôm Đường luật đã thoát ra khỏi
lối thơ trang nghiêm cổ điển để đi theo lối bình dân hóa.
Sau Hồ Xuân Hương, Tú Xương và Nguyễn Khuyến đã tiếp tục xu hướng
của bà tiếp tục phát triển thơ Nôm Đường luật tạo gạch nối giữa văn học trung
đại và văn học cận – hiện đại. Ở Nguyễn Khuyến và Tú Xương đã có sự kết hợp
nhuần nhuyễn tự sự và trữ tình, không đơn thuần phản ánh thế sự mà vươn lên
phản ánh hiện thực một cách chi tiết, sinh động và phong phú, họ cũng là những
tác giả để lại dấu ấn riêng mang phong cách tác giả trong thơ Nôm Đường luật.
Có thể khẳng định các sáng tác của Tú Xương, Nguyễn Khuyến, tầm
khái quát nghệ thuật của thơ Nôm Đường luật vừa được mở rộng vừa được
nâng cao. Đó là một đóng góp to lớn trong quá trình kế thừa và phát triển thơ
Nôm Đường luật.
Như vậy, mặc dù đã chấm dứt sứ mệnh của mình khi văn học dân tộc
chuyển sang thời kì hiện đại nhưng với bảy thế kỉ tồn tại và phát triển thơ Nôm
Đường luật đã khẳng định ý nghĩa to lớn của mình trong văn học dân tộc với
những đỉnh cao nghệ thuật rực rỡ.
10
1.2. Khái quát về tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập
1.2.1. Thời đại Hồng Đức
Tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập ra đời vào nửa cuối thế kỉ XV dưới thời
Hồng Đức. Về mặt lịch sử dân tộc, đây là thời kì nước Đại Việt vừa sạch bóng
quân thù, bước vào kỉ nguyên mới, kỉ nguyên độc lập, tự chủ, xây dựng đất
nước. Về mặt lịch sử chế độ phong kiến, đây là thời kì hoàng kim của chế độ
hiện lí tưởng tu thân, tề gia, trị, quốc, bình thiên hạ.
Đặc biệt, trong không khí thái bình thịnh trị của thời đại Hồng Đức văn hóa
nghệ thuật được nhà vua khuyến khích phát triển nhất là sáng tác thơ Nôm Đường
luật, bằng chứng cụ thể là sự ra đời của tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập.
1.2.2. Tác giả Hồng Đức quốc âm thi tập
Tác giả của tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập là những nhân sĩ thời
Hồng Đức mà chủ yếu là những nhân sĩ tập hợp trong Hội Tao đàn.
Hội Tao đàn được thành lập vào năm 1495, là tổ chức sáng tác thơ và
bình thơ do vua Lê Thánh Tông đứng đầu tự xưng là Tao đàn đô nguyên súy. Sự
ra đời của Hội Tao đàn đánh dấu một bước tiến của thơ ca cung đình. Thường
được gọi là “Tao đàn nhị thập bát tú” tức 28 ngôi sao trên đàn văn chương, gồm
hai mươi tám hội viên do nhà vua chọn trong số các quan văn đậu tiến sĩ ở triều
đình như Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận, Ngô Luân, Ngô Hoán, Lưu Hưng Hiếu,
Nguyễn Xung Xác, Nguyễn Quang Bật, Nguyễn Đức Huấn, Vũ Dương, Ngô
Thầm, Ngô Văn Cảnh, Phạm Trí Khiêm, Lưu Thư Mậu, Nguyễn Tốn Miệt,
Nguyễn Nhân Bị, Ngô Quyền, Nguyễn Bảo Khuê, Bùi Phổ, Dương Trực
Nguyên, Chu Hoãn, Phạm Cấn Trực, Nguyễn Ích Tốn, Đỗ Thuần Thứ, Phạm
Nhu Huệ, Lưu Dịch, Đàm Thận Huy, Phạm Đạo Phú, Chu Huân.
Vua Lê Thánh Tông là vị vua không chỉ có tài trị quốc mà còn là vị vua
có tâm hồn thi sĩ, học sĩ Đào Cử đã nói về Lê Thánh Tông một cách hết sức tôn
kính như sau: “Từ khi đức vua lên ngôi, trong ngoài đều phục, mưa nắng thuận
hòa, dân yên, vật thịnh. Trong khi nhàn rỗi nhà vua thường bỏ hết thú vui như
đàn hát, săn bắt, khiến cho sạch lòng, dục ít. Như cây ngay từ gốc, nước trong
từ nguồn…, biểu hiện ở lời ngâm vịnh. Ngài chỉ phóng bút một lúc chín bài xong
ngay. Trước thì vịnh thời tiết thuận năm được mùa… Nghĩa lí thật cao xa, lời lẽ
thật mạnh mẽ, thiện ý khuyên răn, chan chứa ở lời, thực là văn dạy người ở bậc
đế vương…”. [6, tr.13.14] Người đã cổ súy việc bình thơ và sáng tác thơ, tạo
12
điều kiện cho thơ ca phát triển, trong tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập, Lê
13
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1
Thơ Nôm Đường luật là thể thơ có nguồn gốc từ thơ luật Đường của
Trung Quốc song với sự cố gắng phát huy tinh thần dân tộc của các thế hệ thi
sĩ thơ Nôm Đường luật đã trở thành một thể thơ mang màu sắc riêng của dân
tộc, trải qua quá trình phát triển lâu dài, có lúc sôi nổi, có lúc chững lại nhưng
thơ Nôm Đường luật đã từng bước khẳng định vị trí của mình, đây được coi
là thành tựu của thơ ca Việt Nam, thể hiện ý thức tự tôn dân tộc sâu sắc của
nhân dân ta đồng thời nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc góp phần
mở đường cho sự phát triển của thơ ca dân tộc. Cũng cần phải khẳng định
rằng tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập là một tác phẩm có vị trí vô cùng
quan trọng trong kho tàng văn học dân tộc, đó không chỉ là tiếng nói của một
thời đại quốc thái dân an, lòng tự hào, tự tôn dân tộc lớn lao mà đó còn là một
cột mốc quan trọng trên tiến trình phát triển của thơ Nôm Đường luật nói
riêng, văn học dân tộc và ngôn ngữ dân tộc nói chung. 14
CHƢƠNG 2
PHƢƠNG DIỆN NỘI DUNG TRONG TẬP THƠ
HỒNG ĐỨC QUỐC ÂM THI TẬP
Tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập là sáng tác của nhiều tác giả nên nội
dung rất phong phú và đa dạng, tuy nhiên trong sự đa dạng đó tập thơ vẫn có sự
nhất quán trong biểu hiện nội dung cảm xúc.
2.1. Ngợi ca công đức nhà Lê và vai trò của Lê Thánh Tông
Nhà Lê được thành lập từ kết quả thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
chống lại sự đô hộ của nhà Minh do Lê Lợi lãnh đạo. Chấm dứt âm mưu xâm
cách đưa nước Đại Việt bước vào thời kì phát triển thịnh trị, được coi là thời đại
hoàng kim của chế độ phong kiến Việt Nam. Dưới triều Lê nhân dân ta có câu
thơ ca ngợi cuộc sống ấm no, hạnh phúc của đất nước:
Đời vua Thái Tổ, Thái Tông,
Lúa tốt đầy đồng trâu chẳng buồn ăn.
Như vậy nhà Lê là triều đại có công lớn với dân tộc, được đánh giá là
triều đại được lòng dân nhất trong các triều đại phong kiến Việt Nam do đó âm
hưởng bao trùm trong tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập là sự ngợi ca thành tựu
mà triều Lê đã đem lại cho đất nước .
Dưới triều Lê Thánh Tông đất nước thái bình, thịnh trị, nhà vua anh minh, tài
giỏi hết mực yêu nước, thương dân do đó nhân dân hưởng an vui, hạnh phúc. Tập
thơ Hồng Đức quốc âm thi tập đã dành một phần lớn những trang thơ để khẳng
định điều này.
Tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập khẳng định triều đại Lê Thánh Tông
qua những bài thơ ca ngợi minh quân.
Mở đầu phần Nhân đạo môn là bức tự họa về một vị vua lí tưởng:
Lòng vì thiên hạ những sơ âu,
Thay việc trời giám trễ đâu.
Trống dời canh còn đọc sách,
Chiêng xế bóng, chửa thôi chầu.
Nhân khi cơ biến xem trời biết,
Chửa thuở kinh quyền xét lẽ mầu,
Mựa biểu áo vàng chăng có việc,
Đã muôn sự nhiệm trước vào tâu.
(Tự thuật)
16
Đây là một bài tự thuật của vua Lê Thánh Tông nói lên trách nhiệm nặng
nề của một người thân là vua một nước. Dưới chế độ quân chủ phong kiến, vua
là nỗi sợ hãi của nhân dân bởi quyền lực, nhất là vua thời loạn lại là nỗi kinh hãi,
17
Trang cửa phượng, ngọc mười phân.
Trời lộng lộng hay lòng thánh,
Gió hây hây khắp muôn dân.
Nhờ ấm nhân khi hênh bóng nắng,
Ước dâng muôn tuổi chúc ngô quân.
(Họa vần bài vịnh tết Nguyên đán)
Đó là những lời chúc tụng dâng lên vua nhân dịp tết Nguyên đán: “Bốn bể
đều mừng một chúa xuân”, “Nức ngai vàng, hương mấy hộc, Trang cửa
phượng, ngọc mười phân”, “Ước dâng muôn tuổi chúc ngô quân”, đồng thời đó
còn là sự ghi nhận công đức của đấng minh quân: “Trời lồng lộng hay lòng
thánh, Gió hây hây khắp muôn dân.” Ta cũng bắt gặp tiếng thơ ca ngợi trong bài
Tết nguyên đán 2:
Âm dương hai khí mặc xoay vần,
Nẻo quá thì đông đến tiết xuân.
Chân ngựa rong khi tuyết tĩnh,
Hàng loan sắp thuở canh phân.
Chín trùng chăm chắm ngôi hoàng cực,
Năm phúc hây hây dưới thứ dân.
Mây họp đền nam chầu chực sớm,
Bên tai dường mảng tiếng thiều quân.
(Tết nguyên đán 2)
Trước không khí ngày xuân, thần dân đều được hưởng niềm vui, hạnh
phúc, bên cạnh những lời chúc tụng dâng lên vua còn là sự ca ngợi công lao to
lớn của nhà vua, nhờ có một vị vua tài giỏi, sáng suốt nên nhân dân, đất nước ta
mới có được mùa xuân yên vui, hạnh phúc như vậy: “Chín trùng chăm chắm
ngôi hoàng cực, Năm phúc hây hây dưới thứ dân.” Đó là lòng biết ơn xuất phát
từ tận đáy lòng chứ không phải là những những lời ca tụng sáo rỗng, giả tạo.
Công đức ấy đã được mọi người ghi nhận, mọi người ngợi ca.
Để có được một giang sơn phát triển thịnh vượng tất nhiên không thể chỉ
và thể hiện ý chí muốn bảo vệ nền hòa bình đó, có thể thấy rõ nội dung này qua
những bài thơ Vịnh Nguyên đán, vịnh mùa xuân, vịnh ngũ canh.
19
Còn cảnh nào tươi vui, hạnh phúc hơn cảnh được miêu tả trong bài thơ Lại
vịnh cảnh mùa xuân:
Từ thuở Đông hoàng chịu lấy quyền,
Thiều quang làm cảnh rạng xuân thiên.
Đường hoa chấp chới tin ong đạo,
Dặm liễu thung thăng sứ điệp truyền.
Ả Ngụy, nàng Diêu khoe đẹp đẽ,
Người thơ, khách rượu rộn mời khuyên.
Nam nhi kịp thuở trong khi ấy,
Diễu ngựa trường yên mới phỉ nguyền.
(Lại vịnh cảnh mùa xuân)
Hay trong bài Vịnh cảnh mùa xuân tác giả viết:
“Một khí trời đắp đổi vần,
Ba tháng đông lại ba tháng xuân.
Sinh thành mọi việc đều tươi tốt,
Đầm ấm nào ngày chẳng đượm nhuần.
Tượng mở thái hòa Nghiêu vỗ trị,…”
(Vịnh cảnh mùa xuân)
Đó không chỉ là mùa xuân của tự nhiên mà đó là mùa xuân của đất nước,
mùa xuân của lòng người. Trước mùa xuân đất trời muôn loài sinh sôi nảy nở
còn mùa xuân đất nước mang đến niềm vui, niềm hân hoan rạng rỡ cho mọi
người, mọi nhà. Đó là mùa xuân của sự no đủ, yên ấm. Có được mùa xuân ấy
chính nhờ chính sách chăm lo của triều đình nhà Lê.
Tác giả thông qua những bài vịnh năm canh để ca ngợi xã hội, ca ngợi triều
đại Lê Thánh Tông. Trong năm canh, âm thanh có lúc động, lúc tĩnh nhưng cái
nền âm thanh bao giờ cũng là yếu tố động, có thể nói động là yếu tố xuyên suốt,
Sang canh hai cũng vẫn tiếp tục âm hưởng về một cuộc sống thanh bình:
Vẳng gần xa, khách vãng lai,
Khúc rồng canh đã chuyển sang hai.
Lầu treo cung nguyệt người yên giấc,
Đường quạnh nhà thôn cửa chặt cài.
Cảnh vật chòm chòm bay lửa đóm,
Cỏ hoa gốc gốc đượm hương trang.
Có người đắc thú trong khi ấy,
Đoản địch còn xong thốt mái ngoài.
(Nhị canh)