So sánh truyện Trạng Lợn với truyện Trạng Quỳnh trên hai phương diện nội dung và nghệ thuật - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***** *****
NGUYỄN THANH THÚY

SO SÁNH TRUYỆN TRẠNG LỢN
VỚI TRUYỆN TRẠNG QUỲNH TRÊN HAI PHƢƠNG DIỆN
NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học dân gian
Mã số: 602236 Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Xuân Kính Hà Nội - 2013

1
MỤC LỤC
Nội dung
Trang
MỞ ĐẦU
3
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ THỂ LOẠI TRUYỆN TRẠNG
11
1.1 Định nghĩa về truyện trạng
11
1.2Đặc điểm của truyện trạng

51
3.1.2Sử dụng biện pháp phóng đại
57
3.1.3Sử dụng biện pháp chơi chữ
60
3.1.4Xây dựng tình huống có vấn đề
67
3.2 Sự khác nhau về nghệ thuật giữa truyện Trạng Quỳnh và truyện
Trạng Lợn
74
3.2.1Yếu tố tục trong truyện Trạng Quỳnh
74
3.2.2Yếu tố ngẫu nhiên trong truyện Trạng Lợn
80
KẾT LUẬN
86
TÀI LIỆU THAM KHẢO
88

3
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong tâm thức ngƣời dân Việt bao đời nay vẫn hằn sâu một thái độ
trân trọng, kính nể với những ngƣời đạt chức danh Trạng nguyên. Nhìn vào
lịch sử dân tộc, những ngƣời đỗ Trạng bao giờ cũng là những ngƣời thông
minh, tài hoa, linh hoạt trong ứng xử, trí tuệ sáng suốt. Đặc biệt trong thời
phong kiến, với những ngƣời theo nghiệp bút nghiên hay một bộ phận không
nhỏ ngƣời trong xã hội thì danh tiếng “ông trạng”, “ông nghè” luôn là mơ
ƣớc. Bởi Trạng nguyên là học vị cao nhất của chế độ khoa cử thời Phong kiến
từ 1075 đến 1919. Ngƣời đậu Trạng nguyên là ngƣời đỗ đầu sau khi trải qua 3

chuyện của ông Trạng này ghép cho ông Trạng kia, hay những truyện đƣợc
thêm thắt. Rồi có cả những ngƣời không đỗ vẫn đƣợc tôn là Trạng".
Từ đó ta thấy rằng danh từ “trạng nguyên” có quan hệ về ngữ nghĩa với
tên gọi của thể loại truyện trạng.
Trong kho tàng văn học dân gian, truyện cƣời là một bộ phận đặc sắc.
Còn có nhiều ý kiến khác nhau về việc xếp truyện trạng vào bảng phân loại
các thể loại văn học dân gian Việt Nam nhƣ thế nào cho chính xác. Trong đó
có quan niệm chia truyện Cƣời thành 2 tiểu loại là Truyện cƣời không kết
chuỗi (bao gồm các truyện cƣời lẻ và truyện cƣời ở các làng cƣời) và Truyện
cƣời kết chuỗi (còn gọi là truyện trạng). Trong hệ thống truyện trạng, bên
cạnh những hệ thống truyện Thƣợng Nành, truyện Thủ Thiệm, truyện Ông Ó,
truyện Ba Giai - Tú Xuất, thì phổ biến và chiếm số lƣợng nhiều hơn cả là
truyện Trạng Quỳnh và truyện Trạng Lợn. Đồng thời, trong số những công

5
trình nghiên cứu về truyện trạng cũng chƣa có ai so sánh một cách có hệ
thống giữa truyện Trạng Quỳnh và truyện Trạng Lợn. Do đó, trong phạm vi
bài nghiên cứu luận văn thạc sĩ, chúng tôi chỉ xin đề cập tới sự giống và khác
nhau của truyện Trạng Quỳnh và truyện Trạng Lợn trên 2 phƣơng diện nội
dung và nghệ thuật nhằm góp tiếng nói vào nhận diện truyện Trạng Quỳnh,
truyện Trạng Lợn một cách chính xác hơn. 2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
So với các thể loại khác của Văn học dân gian, nhƣ ca dao, truyện cổ
tích, thì việc sƣu tầm, giới thiệu truyện trạng cũng nhƣ việc nghiên cứu truyện
trạng xuất hiện muộn hơn. Có thể chia việc nghiên cứu truyện trạng thành 2
giai đoạn: trƣớc và sau năm 1954.
2.1 Trƣớc năm 1954:
Lúc này, khoa học về folklore còn đang phát triển ở dạng phôi thai.

- Trong tiểu luận khoa học của ông Mai Hanh, năm 1956 đã đề cập Giá
trị của truyện Trạng Quỳnh.
- Tác giả Nguyễn Văn Phú trong cuốn giới thiệu truyện Trạng Lợn,
Trạng Quỳnh năm 1957 đã dành chƣơng 1 của cuốn sách để đề cập giá trị các
truyện Trạng Quỳnh, truyện Trạng Lợn.

7
- Đáng lƣu ý là công trình Truyện tiếu lâm Việt Nam của Nguyễn Hồng
Phong xuất bản năm 1957, tác giả đã tách truyện Trạng Lợn, Trạng Quỳnh ra
khỏi truyện tiếu lâm và gọi đó là những sáng tác trào phúng dài.
- Cũng năm 1957, công trình Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam các
tác giả Lê Quý Đôn, Vũ Đình Liên, Đỗ Đức Hiểu, Lê Trí Viễn, Trƣơng
Chính, Lê Thƣớc đã xếp truyện Trạng Lợn, Trạng Quỳnh vào những truyện
tiếu lâm đặc biệt, từ đó đánh giá giá trị của hệ thống truyện.
- Vũ Ngọc Khánh đƣợc xem là ngƣời dày công nghiên cứu truyện
Trạng. Ông đặt truyện Trạng trong một thể loại lớn là giai thoại. Tác giả đã
nhiều lần đƣa ra những bài nghiên cứu về truyện Trạng. Đầu tiên có thể kể tới
bài tiểu luận trong cuốn Truyện Trạng Việt Nam 3. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI TƢ LIỆU
Đối tƣợng của chúng tôi trong bài nghiên cứu này chính là sự giống và
khác nhau về nội dung và nghệ thuật của truyện Trạng Quỳnh và truyện Trạng
Lợn.
Phạm vi tƣ liệu: Chúng tôi sử dụng tập 9 - Truyện Cƣời - Phần Truyện
Trạng, Nguyễn Chí Bền chủ biên, thuộc bộ sách "Tổng tập Văn học dân gian
ngƣời Việt" của Viện Khoa học xã hội Việt Nam do Nhà xuất bản Khoa học
xã hội xuất bản. Có thể nói đây là bộ sách tập hợp đầy đủ nhất về truyện
Trạng.


1.2.2 Về mô hình cấu trúc văn bản
1.3 Vai trò thể loại của truyện trạng trong hệ thống các thể loại văn học
dân gian
CHƢƠNG II. SO SÁNH VỀ NỘI DUNG GIỮA TRUYỆN TRẠNG
QUỲNH VỚI TRUYỆN TRẠNG LỢN
1.1 Sự giống nhau về nội dung giữa truyện Trạng Quỳnh với truyện
Trạng Lợn
1.1.1 Ca ngợi nhân vật tài trí
1.1.2 Tinh thần yêu nƣớc chống ngoại xâm
1.2 Sự khác nhau về nội dung giữa truyện Trạng Quỳnh với truyện
Trạng Lợn
1.2.1 Tính đả kích trong truyện Trạng Quỳnh
1.2.2 Tính đả kích trong truyện Trạng Lợn
CHƢƠNG III. SO SÁNH VỀ NGHỆ THUẬT GIỮA TRUYỆN TRẠNG
QUỲNH VỚI TRUYỆN TRẠNG LỢN
1.1 Sự giống nhau về nghệ thuật giữa truyện Trạng Quỳnh với truyện
Trạng Lợn

10
1.1.1 Yếu tố gây cƣời
1.1.2 Sử dụng biện pháp phóng đại
1.1.3 Sử dụng biện pháp chơi chữ
1.1.4 Xây dựng tình huống có vấn đề
1.2 Sự khác nhau về nghệ thuật giữa truyện Trạng Quỳnh với truyện
Trạng Lợn
1.2.1 Yếu tố tục trong truyện Trạng Quỳnh
1.2.2 Yếu tố ngẫu nhiên trong truyện Trạng Lợn

11
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ THỂ LOẠI TRUYỆN TRẠNG

nhất là tham lam, hung bạo, mà phần chiến thắng luôn thuộc về nhân vật
trạng, nhằm đề cao trí tuệ, bảo vệ đạo đức và lẽ phải.” [10, tr.57]
Phân tích định nghĩa này, tác giả Triều Nguyên đã chỉ ra:
-Thứ nhất, xác định tƣ cách thể loại của truyện trạng, và phân biệt nó với
các thể loại tự sự bằng văn vần của văn học dân gian, nhƣ truyện, thơ, vè. Do
đó, ta thấy truyện Trạng là một thể loại tự sự bằng văn xuôi của văn học dân
gian.
- Thứ hai, truyện trạng là một tổng thể bao gồm các bộ phận, nhƣ là bộ
phận Trạng Quỳnh, bộ phận truyện Thủ Thiệm, bộ phận truyện Ông Ó,… có
kết cấu, cốt truyện, có sự nhấn mạnh về sự chiến thắng của nhân vật trạng
trong mọi tình huống. Do đó, có thể thấy truyện trạng bao gồm nhiều bộ phận
truyện kể xoay quanh các nhân vật trạng, trong cuộc đấu trí quyết liệt với
những đối tƣợng tiêu cực, nhất là tham lam, hung bạo, mà trạng vẫn luôn
giành phần thắng.
- Thứ ba, truyện trạng luôn mang mục đích, ý nghĩa và có tác dụng nhất
định, nhằm đề cao trí tuệ, bảo vệ đạo đức và lẽ phải.
1.2 Đặc điểm của truyện trạng
Để phân định truyện trạng với các thể loại, kiểu dạng tự sự dân gian
khác, các nhà nghiên cứu thƣờng đi vào hai bình diện là nhân vật và mô hình
cấu trúc văn bản tác phẩm.

13
1.2.1Về nhân vật
Truyện trạng nào cũng có sự xuất hiện của hai loại nhân vật là nhân vật
trạng và nhân vật là đối tƣợng bị hạ bệ hay thuyết phục bởi nhân vật trạng.
Ngoài ra, truyện trạng còn có nhân vật phụ. (Sự có mặt của nhân vật phụ chỉ
có ý nghĩa góp phần làm nổi bật tính cách của hai loại nhân vật trên, nên ít
đƣợc chú ý tới).
*Đặc điểm của nhân vật trạng:
Đây là nhân vật có tên tuổi, hành trạng nhất định, trạng trở thành nhân

hình nhƣ sau:
(1)Tạo mâu thuẫn giữa nhân vật trạng và nhân vật là đối tượng mà trạng cần
chiến thắng (theo lối hạ bệ, thuyết phục) – bước thắt nút hay khai đoạn.
(2) Nhân vật trạng tiến hành các phần việc theo mưu kế của mình, để tấn
công đối tượng – bước phát triển.
(3) Mưu kế được thực hiện trọn vẹn, nhân vật trạng chiến thắng, đối tượng
của nhân vật trạng bị hạ bệ hay thuyết phục – bước đỉnh điểm, cao trào.
(4) Nhân vât trạng hả hê, đối tượng của nhân vật trạng ê đòn (có khi, bước
này nhằm giải thích cho bước trước) – bước mở nút, kết thúc.[10, tr.44]

15
1.3 Vai trò thể loại của truyện trạng trong hệ thống các
thể loại văn học dân gian
Theo dòng lịch sử nƣớc nhà, truyện trạng đã tự khẳng định sự tồn tại
của mình, với tƣ cách là một thể loại độc lập, đồng đẳng với các thể loại khác
trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam.
Việc giao thoa, ảnh hƣởng lẫn nhau giữa các bộ phận của truyện trạng
cho thấy một điều quan trọng: đã có một tiếng nói chung giữa các nhân vật
trạng và những mẩu chuyện của họ. Đó là mấu số chung của truyện trạng.
Nhờ đó đã hình thành một sự chọn lọc, kết nối về mặt thể loại từ các bộ phận
truyện trạng trong dân gian.
Với hệ thống truyện trạng, văn học dân gian đã có một thể loại đề cao
trí tuệ và tinh thần đấu tranh chống lại cái ác, cái xấu. Nhằm đáp ứng nhu cầu
trí năng và phản ánh khát vọng về công lí và sự bình đẳng giữa các cá nhân
trong xã hội con ngƣời.
Do vậy, có thể khẳng định mỗi thể loại đều có một vai trò nhất định
trong đời sống tinh thần của cộng đồng đã sáng tạo nên chúng. Và, truyện
trạng đã khẳng định một vị trí riêng biệt trong hệ thống các thể loại văn học
dân gian Việt Nam.


kẻ trong giai tầng thống trị, kể cả cƣờng quyền hay thần quyền…
Cũng bởi vậy, suốt chiều dài lịch sử dân tộc với những dấu ấn khác
nhau, kho tàng truyện trạng gồm nhiều hệ thống truyện trạng đã làm nên một
bức tranh xã hội rộng lớn, lắm đƣờng nét, cung bậc. Và do mỗi nhân vật trạng
sinh thành, gắn bó với một thời đại, điều kiện lịch sử khác nhau, nên cái
chung của các nhân vật trạng là dù trạng đỗ đạt thật sự, hay trạng không đỗ
đạt mà do dân phong, hay là những ông trạng vô danh ở mỗi làng quê, thì họ
đều là những nhân vật đại diện cho lý tƣởng thẩm mỹ của ngƣời dân lao động
qua các thời kì lịch sử khác nhau. Nhân vật Trạng Quỳnh và nhân vật Trạng
Lợn trong truyện Trạng Quỳnh, truyện Trạng Lợn cũng không nằm ngoài vấn
đề đó.
2.1.1 Ca ngợi nhân vật tài trí:
Nằm trong đặc điểm của thể loại truyện trạng, truyện Trạng Quỳnh và
truyện Trạng Lợn cùng mang một số nét chung. Trong đó có thể kể tới đặc
điểm là truyện trạng gắn với một nhân vật cụ thể, có tính danh. Ở đây là
Trạng Quỳnh và Trạng Lợn.
Theo bản chữ Nôm của một ngƣời có hiệu là Mộng Quế, tập "Trạng
Dừa mộng lục" (soạn năm 1920), Trạng Lợn trƣớc có tên là Trạng Dừa, quê ở
làng Mạnh Chƣ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Trong hệ thống truyện, tên
của trạng là Dƣơng Đình Chung. Truyện Trạng Lợn có thể xuất hiện vào thế
kỉ XV. Hình ảnh Trạng Lợn thể hiện khát vọng thẩm mĩ của nhân dân, hiện
lên qua hệ thống truyện nhƣ một ngƣời thông minh, luôn gặp những may mắn
trên đƣờng đời dẫu là xuất thân trong một gia đình làm nghề bán thịt lợn.

18
Còn Trạng Quỳnh đƣợc xem nhƣ một ngƣời thông minh, tài hoa, mƣu
lƣợc và dũng cảm. Có tài liệu nói rằng ông họ Nguyễn, ngƣời Hoằng Hóa,
tỉnh Thanh Hóa. Theo "Thế phả họ Nguyễn, phần soạn thêm", ông là "Con
trai cả của ông tổ Nghiêm Giản tên tục là Thƣởng tên chữ là Quỳnh, tên hiệu
là Nhƣ Ôn, tên thụy là Điệp Hiên tiên sinh Ông sinh vào giờ Bính Dần,

“- Nếu chị bằng lòng cho em vay một phần tư số tiền chị hiện có, thì xin
chị cho sấp cả hai, nếu chị cho vay một phần ba, xin để hai đồng ngửa cả.
Còn nếu cho vay một nửa thì cứ “nhất âm nhất dương” chị nhé!”
Và chúa Liễu bằng sức mạnh vô hình đã khiến cho hai đồng tiền trạng
Quỳnh gieo cứ quay tít trong lòng đĩa. Lúc này, mọi ngƣời tƣởng Quỳnh thua
cuộc, ai ngờ, Quỳnh đã đảo ngƣợc tình thế, chuyển bại thành thắng chỉ bằng
một câu nói:
“- Ha ha, tiền múa chúa cười, chị thương em nghèo, chị cho em vay
tất.”
Rồi trạng nhanh tay vơ tất cả số tiền, mang về. Nhƣ thế, phải thừa nhận trạng
có cách ứng xử thật linh hoạt thông minh, có phần bạo gan, không sợ cả
cƣờng quyền lẫn thần quyền.
Hay nhƣ ở truyện “Anh lái đò”, ta có thể thấy sự thông minh, mƣu trí,
dự liệu chuẩn xác của trạng Quỳnh để tạo nên một sự sắp đặt hoàn hảo: “Một
lần, vua Thanh cửa đoàn sứ bộ sang ta để thăm viếng, thực chất là để dò xét
tình hình, tìm hiểu xem nhân tài của An Nam như thế nào. Quỳnh được đóng

20
vai anh lái đò ngang trên đường sứ bộ sẽ đi qua. Trong lúc sang song, do mải
ngắm cảnh đẹp, viên chánh sứ vô tình để buột ra một tiếng “bủm”. Ngượng
quá, không biết làm thế nào để chữa thẹn, y bèn ứng khẩu đọc: “Lôi động
Nam bang” (nghĩa là sấm động nước Nam).Nghe thấy vậy, Quỳnh vội vàng
buông mái chèo, trèo lên mũi thuyền, đứng bên cạnh đoàn sứ bộ, quay về
hướng Bắc, vạch quần đái tồ tồ xuống sông, miệng vừa đọc: “Vũ qua Bắc
hải” (nghĩa là mưa qua bể Bắc, tức nước Tàu. Đoàn sứ Thanh thấy anh lái đò
nhanh trí và giỏi chữ như vậy, tuy trong bụng rất tức, nhưng cũng phải phục
tài người Nam. Từ đó, không dám hống hách, kênh kiệu nữa”.[1, tr. 357]
Nhƣ thế, có thể thấy tài ứng đối linh hoạt là một phẩm chất đáng khâm
phục của các trạng. Bên cạnh đó, sự thông minh chính là một phẩm chất đáng
quí thứ hai của trạng. Điều đáng nói là, nhân vật Trạng Lợn trong hệ thống

- Được các anh về nhà thu xếp khăn gói, rồi lại đây uống rượu mừng với
ta, mai theo ta ra kinh đô sớm.
Anh nào anh nấy lật đật về nhà, vênh váo, đắc chí lắm, có anh về đến
cổng, thấy vợ đang làm lụng lam lũ liền bảo vợ:
- Ít nữa làm nên ông nọ bà kia, không được lam lũ thế mà người ta chê
cười cho.
Vợ hỏi:

22
- Bao giờ làm quan mà khoe váng lên thế?
- Nay mai thôi, sắp sửa khăn gói để mai đi sớm!
Nói xong, lại nhà Quỳnh đánh chén. Anh nào anh nấy uống say tít rồi mỗi
anh nằm một xó. Đến khuya, Quỳnh sai người đem võng, võng anh nọ về nhà
anh kia, anh kia về nhà anh nọ, nói dối rằng: Say rượu ngộ cảm phải bôi dầu
xoa thuốc ngay không thì oan gia!
Các "Bà lớn" đang mơ màng trong giấc mộng, thấy người gõ cửa mà nói
những chuyện giật mình như thế, mắt nhắm mắt mở, tưởng là chồng, ôm xốc
ngay vào nhà, không kịp châm đèn đom đóm, rồi nào bôi vôi, nào xoa dầu,
miệng lẩm bẩm: "Rượu đâu mà rượu khốn, rượu khổ thế! Ngày mai lên đường
mà bây giờ còn sai như thế này! Nhờ phúc ấm có làm được ông nọ bà kia thì
cũng lại phiền tôi thôi!"
Xoa bóp cho đến sáng, nhìn thì hóa ra anh láng giềng, các bà ngẩn người
mà các anh đàn ông kia lại càng thẹn, vội cuối gằm mặt xuống cút thẳng. Về
đến nhà, thấy vợ mình cũng đang đỏ mặt tía tai lại nói ngay:
- Ai ngờ nó xỏ thế. Tưởng ông nọ bà kia là thế nào. Thôi từ nay kệch
đến già!”
Đáng chú ý hơn cả là thái độ của ngƣời lao động trong cuộc đấu tranh
quyết liệt một mất một còn với giai tầng thống trị. Cuộc đấu giữa một bên là
Trạng Quỳnh, một bên là tất cả các đại diện của vƣơng quyền, thần quyền của
triều đình nhà Lê – Trịnh, khá quyết liệt, đấu tranh đến cùng. Truyện “Trạng

24
Thế là, cuối cùng thì Trạng Quỳnh đã chết, nhƣng trƣớc khi chết, cảm
quan dân gian đã khiến cho ông chúa Trịnh phải chết theo. Cái chết ấy là cái
chết của một ngƣời đã đấu trí quyết liệt với giai tầng thống trị, với thói hƣ tật
xấu của cuộc đời và con ngƣời.
Với truyện Trạng Lợn, cảm quan dân gian đƣợc gửi gắm vào nhân vật
Trạng Lợn với một niềm tin, một quan niệm dân gian truyền thống. Bởi toàn
bộ truyện Trạng Lợn có một bố cục khá chặt chẽ và nhất quán, phản ánh một
niềm tin dân gian là từ việc “kết” của mồ mả cha mẹ ông bà sẽ khiến cho
ngƣời con hay cháu liên quan đƣợc phát đạt (lên làm quan, hay trở nên giàu
có…). Truyện còn chứng minh rằng, mỗi cuộc đất có một hƣớng kết riêng.
Cha của ngƣời bán thịt lợn đƣợc chôn vào huyệt “sinh Trạng giúp vua, ngƣời
có tài trí vƣợt bậc, ứng đối giỏi, mà không phải học”, nên con trai của ngƣời
bán thịt lợn là Chung Nhi đã trở thành một “Chân Trạng nguyên” tài trí, ứng
đối giỏi, dù chỉ biết vọc vạch dăm ba chữ. Hoặc có thể thấy ở Trạng Lợn
thuyết thiên mệnh. Tức là mọi việc thành bại, sống chết của con ngƣời đều do
trời định. Đồng thời truyện còn đề cao Đạo giáo qua hình tƣợng Chử Đồng Tử
và coi trọng việc tu nhân tích đức. Chỉ xét riêng chuyện về cuộc tình duyên
của Chung Nhi với Phấn Khanh là do trời định và đƣợc báo trƣớc, hay Chử
Đồng Tử đã hiện hình, truyền nghề bói toán cho Chung Nhi, rồi bảo anh sau
này phải cứu ngƣời sẽ lên làm vua, hoặc chuyện trạng mất ở tuổi 72 là điều đã
đƣợc báo trƣớc từ đầu truyện, khi cậu bé thần đồng – là tiền kiếp của Trạng
Lợn, đã nói từ lúc Trạng chƣa sinh.
“ Nguyên từ nhà Lương ông ra chợ thì phải đi qua một cái gò kêu là gò
Thần Đồng. Lần nào đi chọ về Lương ông cũng thấy trong lùm cây có tiếng
trẻ con kêu the thé:

Trích đoạn Tinh thần yêu nƣớc, chống ngoại xâm: Xây dựng tình huống có vấn đề Sự khác nhau về nghệ thuật giữa truyện Trạng Quỳnh và truyện Trạng Lợn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status