TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
MAI THỊ THÚY VÂN
MSSV: 6116165
ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT
TRONG TẬP THƠ TRĂNG NON
CỦA RABINDRANATH TAGORE
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Ngữ văn
Cán bộ hướng dẫn: TRẦN VŨ THỊ GIANG LAM
Cần Thơ, 2014
1
ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU
PHẦN MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài
2.
Sự nghiệp sáng tác của R.Tagore
1.3
Vài nét về tập thơ Trăng non
1.3.1.
Hoàn cảnh ra đời tập thơ Trăng non
1.3.2.
Giới thiệu sơ lược về tập thơ Trăng non
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG TẬP THƠ TRĂNG NON
CỦA R.TAGOGE
2.1. Ca ngợi những phẩm chất đáng quý của trẻ em
2.1.1.
Sự hồn nhiên, vô tư và trong sáng
2.1.2.
Trí tưởng tượng vô cùng phong phú
2.2. Lòng yêu thương trẻ sâu sắc và chân thành
2.2.1.
Lòng vị tha khoan dung của người lớn
2.2.2.
nguyên thiên nhiên có trữ lượng phong phú, Ấn Độ còn có một nền văn hóa phát
triển và từ lâu nơi đây được xem là cái nôi của nền văn minh nhân loại. Chủ tịch Hồ
Chí Minh trong một lần đến thăm đất nước Ấn Độ đã cảm nhận: “Khi đến đất nước
Ấn Độ vĩ đại, chúng tôi rất cảm động và sung sướng được đến quê hương của một
trong những nền văn minh lâu đời nhất thế giới. Văn hóa, triết học và nghệ thuật
của nước Ấn Độ đã phát triển rực rỡ và có những cống hiến to lớn cho loài người.
Nền tảng và truyền thống của triết học Ấn Độ là lý tưởng hòa bình và bác ái. Liên
tiếp trong nhiều thế kỉ, tư tưởng Phật giáo, nghệ thuật, khoa học Ấn Độ đã lan khắp
thế giới” [18, tr. 3]. Chính vì thế, văn hóa Ấn Độ đã mang đến những triết lí và giá
trị nhân văn thật sâu sắc cho nhân loại. Những thành tựu về văn hóa – nghệ thuật
được xem là bước ngoặt lớn trong sáng tác văn học Ấn Độ và thúc đẩy quá trình
giao thoa văn học Việt Nam. Vì vậy, việc học tập nghiên cứu thơ ca Ấn Độ đã góp
phần phổ biến văn hóa Ấn Độ vào Việt Nam.
Đến với văn học Ấn Độ, ngoài thành công lớn thời văn học cổ đại với sử thi
Ramayana và Mahabarata, đến thời văn học hiện đại còn có sự đóng góp của nhiều
nhà văn, nhà thơ mà tiêu biểu là Rabindranath Tagore. Ông là một người đa tài, hoạt
động trên nhiều lĩnh vực: thơ ca, truyện ngắn, tiểu thuyết, hội họa, âm nhạc, kiến
trúc… Hầu như sáng tác nào của ông cũng mang tầm triết lý, đầy chất hiện thực về
4
cuộc sống và số phận con người. Những sáng tác của ông có mức độ lắng sâu và
tinh thần nhân văn cao cả được lưu truyền về sau.
Đại thi hào R.Tagore nhà thơ lớn của thế kỷ XX nổi tiếng trên thế giới. Thơ
ông phong phú với nhiều đề tài sáng tác chẳng hạn: thơ tình, thơ viết về phụ nữ,
đặc biệt là thơ viết về trẻ em. Tập thơ Trăng non là tập thơ tiêu biểu viết về trẻ em
của R.Tagore. Tập thơ với nhan đề Sisu viết bằng tiếng Ấn, The Crescent Moon
viết bằng tiếng Anh và Trăng non được dịch sang tiếng Việt. Đây là tập thơ khá
hay và đặc sắc, qua mỗi bài thơ độc giả cảm nhận được tình yêu thương dành cho
mệnh Ấn Độ với lí tưởng giải phóng con người và đất nước. Thời gian đã đi xa
nhưng ông vẫn được giới nghiên cứu đi sâu tìm hiểu về cuộc đời cũng như sự
nghiệp sáng tác, mà thơ ca là thành tựu xuất sắc của ông. Trăng non - tập thơ viết
về trẻ em của R.Tagore đã có một số công trình nghiên cứu:
Lê Từ Hiển trong bài viết Nguyên sơ một ánh trăng non đã chỉ ra ba điểm
mới khi nói về tập thơ Trăng non. Đầu tiên, theo Lê Từ Hiển tập thơ viết ra để dành
cho tuổi “vầng trăng non” ; thứ hai trẻ em trong tập thơ là món quà vô giá mà tạo
hóa đã ban tặng cho bậc làm cha, làm mẹ và trẻ cần được yêu thương; thứ ba theo
ông thế giới trong tập thơ là thế giới lấp lánh sắc màu, mang nhiều hàng hóa kỳ diệu
có khát vọng về tương lai. Khi nói về tập thơ Trăng non ông đã nhận định: “Đó là
một thế giới thơ ngây được kể bằng giọng trẻ thơ mà ngân vang bao điều về vũ trụ,
nhân sinh, tình mẹ con muôn đời… Dệt nên bởi những hình tượng tuyệt vời và tấm
lòng nhân hậu bao la” [23]. Theo nhận định trên, Lê Từ Hiển ca ngợi những vần
thơ thật ý nghĩa trong Trăng non của R.Tagore nó thể hiện tâm lý trẻ thơ và quy
luật cuộc sống về tình yêu thương, tình mẫu tử.
Cao Huy Đỉnh trong bài viết Tinh thần nhân đạo chủ nghĩa trong thơ
Tagor đã phần nào thể hiện thơ R.Tagore mang tinh thần nhân đạo với nhiều mảng
đề tài khác nhau: thơ lao động, thơ ca ngợi tình yêu đôi lứa, người phụ nữ và đặc
biệt là thơ viết về trẻ em. Tác giả khi nhắc về tập thơ dành cho trẻ em thì ông nhận
xét rất chân thật: “Đó là những bài thơ hết sức hồn nhiên trong sáng, những bức
tranh mĩ lệ về tâm lí nhi đồng. Đó còn là triết lý của Tagor về con người. Lòng yêu
con trẻ, tinh thần nhân đạo, trí tưởng tượng vô cùng phong phú của Tagor đã khám
phá cả một thế giới toàn thiện, toàn mỹ, một thế giới thần tiên và nghệ sĩ trong tâm
hồn em bé” [3]. Theo như dịch giả chính tâm hồn thánh thiện, trong sáng của trẻ em
đã được R.Tagore khắc họa đậm nét bằng vẻ hồn nhiên mà vô cùng chân thật. Đồng
thời, Cao Huy Đỉnh còn ca ngợi những bài thơ đã thể hiện sâu sắc triết lí về cuộc
đời, về số phận con người trên nhiều phương diện khác nhau tạo nên bức tranh tâm
lý nhi đồng thật đặc sắc. Ông ca ngợi tài khám phá ra thế giới thần tiên trong tâm
hồn trẻ thơ của R.Tagore.
cách nhuần nhuyễn giữa hiện thực và huyền ảo: để thể hiện hiện thực Tagore đã
dùng những huyền thoại, những viền giát xung quanh hiện thực của cuộc sống đem
lại cho nó một chiều sâu có tầm vũ trụ” [6, tr. 73]. Đây là một nhận xét khá đầy đủ
về nội dung cũng như nghệ thuật trong tập thơ Trăng non của R.Tagore. Theo Đỗ
7
Thu Hà, những bài thơ mang sự thơ mộng, dịu dàng và tràn ngập tình thương yêu đã
được R.Tagore khắc họa đậm nét để trả lời cùng với trẻ thơ. Thêm vào đó, nhận xét
về nghệ thuật mượn hình ảnh ảo để nói đến hiện thực là một sự sáng tạo độc đáo
của tác giả. Đỗ Thu Hà đã cho thấy sự am hiểu tâm lí trẻ em của R.Tagore, ông
muốn mang tâm hồn tốt đẹp của trẻ em vào hiện thực đời sống xã hội để hướng
thiện cái xấu.
Đào Xuân Quý ở quyển Thơ Tagor thì ông đã khen ngợi về tài của R.Tagore
trong việc sử dụng ngôn ngữ vô cùng phong phú trong Trăng non. Theo đó, ông
nhận định: “Thơ về trẻ em của Tagor trong sáng, hồn nhiên và chân thực. Ông tỏ ra
am hiểu được tâm hồn của các em và để tả một cái thế giới trẻ thơ này, Tagor đã
dùng ngôn ngữ thích hợp vô cùng phong phú” [12, tr. 27]. Theo Đào Xuân Quý
những hình ảnh trong sáng, ngôn ngữ phù hợp và vô cùng phong phú đã cho thấy
R.Tagore rất am hiểu tâm lý trẻ em một cách chân thật. Trong cảm nhận của dịch
giả, Trăng non được xây dựng bằng những hình ảnh trong sáng và những câu
chuyện kể rất phù hợp với trẻ thơ. Bởi thế, chính ngôn ngữ thích hợp đó đã làm nên
thành công cho tập thơ Trăng non của R.Tagore một cách trọn vẹn và ý nghĩa.
Bên cạnh đó, công trình nghiên cứu về tập thơ Trăng non còn được khai
thác ở phương diện khác chẳng hạn đề tài Thế giới trẻ thơ trong Trăng non trong
luận văn Thạc sĩ của mình Nguyễn An Thụy có viết: “Những bài thơ trong Trăng
non không phải là những triết lí, những mệnh đề khô cứng bởi tính chất giáo dục
của nó. Bốn mươi bài thơ trong Trăng non là những câu chuyện nhẹ nhàng về lòng
can đảm, sự chân thật và đức hiếu thảo ở mỗi con người” [15, tr. 15]. Công trình
Trong quá trình nghiên cứu đề tài “Đặc điểm nội dung và nghệ thuật trong
tập thơ Trăng non của Rabindranath Tagore”, chúng tôi tập trung khảo sát vào
tập thơ Trăng non (gồm 40 bài) do nhiều dịch giả mà tiêu biểu có sự đóng góp của
Lưu Đức Trung, Đào Xuân Quý, Cao Huy Đỉnh, Phạm Hồng Nhung và Phạm Bích
Thủy dịch. Tất cả những bài thơ được in trọn vẹn trong quyển R.Tagore tuyển tập
tác phẩm tập 2 [20]. Chúng tôi sẽ dựa vào bản dịch trong quyển này để tìm hiểu nội
dung và nghệ thuật của tập thơ.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài “Đặc điểm nội dung và nghệ thuật trong
tập thơ Trăng non của Rabindranath Tagore” chúng tôi đã sử dụng một số
phương pháp thích hợp:
Phương pháp khảo sát văn bản: để khảo sát các bài thơ có trong tập thơ
Trăng non mà tác giả đã thể hiện.
9
Phương pháp xã hội học: sử dụng phương pháp này nhằm thể hiện tình
hình đất nước Ấn Độ có tác động đối với con người cũng như quá trình sáng tác của
tác giả.
Phương pháp phân tích – tổng hợp: phương pháp này được xem là một
phương pháp quan trọng của việc nghiên cứu đề tài. Để làm sáng tỏ các luận điểm
chúng tôi sẽ đi vào phân tích những bài thơ tiêu biểu trong tập thơ. Thông qua việc
phân tích những bài thơ từ nội dung đến nghệ thuật, rồi tổng hợp các phần sẽ giúp
cho chúng tôi thấy được cái hay, cái đẹp và cuối cùng khẳng định lại được vấn đề
nghiên cứu.
Phương pháp so sánh- đối chiếu: từ việc cảm nhận về vấn đề chính của tập
thơ rồi đối chiếu so sánh với các bài thơ khác trong tập thơ Trăng non hoặc nhiều
bài thơ trong các tập thơ khác, hay các bài thơ viết về trẻ em có liên quan đến đề tài
đấu tranh mạnh mẽ. Các phong trào chống thực dân Anh và văn học hiện đại cũng
bước vào giai đoạn phát triển. Vì thế, ngay từ khi sinh ra R.Tagore đã có một tình
thần yêu nước mãnh liệt.
Một số tầng lớp tri thức Ấn Độ, những nghệ sĩ xuất thân từ tiểu tư sản tiến bộ
phương Tây, đã thấm nhuần sâu sắc nền văn học dân gian cổ điển Ấn Độ. Thế nên,
tất cả họ - những người tri thức Bengal đều tham gia tích cực các phong trào đấu
tranh của dân tộc và đặt vấn đề cứu sống con người và đất nước lên hàng đầu. Về
12
sau, những thủ đoạn cũng như âm mưu xâm lược, đặt ách thống trị của thực dân
Anh đã bị nhận ra. Họ muốn cải cách đất nước Ấn Độ, muốn đem văn hóa phương
Tây hòa lẫn với truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc nước Ấn một cách không
tổ chức. Do vậy, các tầng lớp này họ thay mặt cho nhân dân, họ đại diện cho những
người tri thức yêu nước đứng lên cùng nhau thống nhất thành lập ra Hội
Bơrắcmôxơdơ (1828). Hội này là một tổ chức cải cách văn hóa, tôn giáo, nhằm thực
hiện mục tiêu biến văn hóa thành phương tiện để giải phóng đất nước thoát khỏi ách
thống trị từ tay thực dân. Thế nhưng, trong quá trình tiến hành có nhiều ý kiến và
nhiều giải pháp mâu thuẫn, trái ngược nhau hoàn toàn. Có những người chạy theo
nền văn hóa Tây phương một cách mù quáng, “hãnh tiến” và tỏ thái độ coi thường
nền văn hóa dân tộc; ngược lại trong Hội lại có một số người “bảo thủ” loại bỏ văn
hóa ngoại, làm theo tất cả những gì gọi là Hindu xa xưa mà không còn thích hợp
trong giai đoạn này nữa. Ban đầu Rabindranth Tagore ở trong Hội này, đến khi Hội
tan rã ông vẫn giữ nguyên lập trường của riêng mình. Sự đấu tranh dung hòa giữa
cái cũ và mới, được một người trẻ tuổi như R.Tagore với tư tưởng tiến bộ phát triển,
để phù hợp cho dân tộc. Các tư tưởng tiến bộ được ông đưa vào những trang viết
một cách sâu sắc và đầy cảm xúc.
Ở Ấn Độ, phong trào khởi nghĩa giành độc lập tự do của nhân dân liên tiếp
bùng nổ và lan rộng nhiều nơi từ khi đặt dưới ách thống trị của thực dân Anh. Thế
quần chúng nhân dân trong cả nước hát vang lên khắp Ấn Độ, trong các buổi mít
tinh, biểu tình, chính trị lớn của đất nước. Những bài thơ yêu nước đã thể hiện tinh
thần nhân đạo của ông. Các sáng tác diễn ra trong các phong trào chính trị chống
thực dân Anh từ năm 1990 về sau đã được xuất bản: Xoa đê xi, Bau lơ, Sisu…
những bài thơ này khác hẳn với giai đoạn trước vì đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu
và cũng thể hiện tư tưởng của nhà thơ.
Chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ, bản chất độc ác của chủ nghĩa đế
quốc bị nhân dân vạch trần. Vì thế, tất cả nhân dân từ trên xuống dưới nước Ấn
tham gia chống lại thực dân Anh và bảo vệ nền độc lập tự chủ của dân tộc. Các
phong trào đấu tranh chính trị phát triển mạnh mẽ và thu hút quần chúng hưởng ứng
tham gia nhằm kêu gọi hòa bình chống chiến tranh bảo vệ đất nước.
Năm 1919, ở Ấn Độ một làn sóng vô cùng mạnh mẽ diễn ra khắp đất nước
nhằm chống lại thực dân Anh, do chúng đã tiến hành một cuộc thảm sát tàn bạo với
phong trào nông dân Pen – giáp.
Dưới sự ảnh hưởng của cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, các phong
trào yêu nước lan rộng khắp đất nước. Đặc biệt là phong trào yêu nước của Găng đi
14
vào khoảng năm 1920 - 1921, đã lôi cuốn nhiều người hoan nghênh cách mạng vô
sản Nga và kêu gọi đấu tranh chống đế quốc.
Năm 1941, vào những năm chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra được hai năm,
đất nước Ấn Độ cũng đang trải qua chiến tranh với những đọa đày của thực dân
Anh. Hàng triệu người lâm vào cảnh đói kém khắp vùng Bengal, bọn phát xít Nhật
lăm le vào bờ biển Ấn. Nhìn cảnh đất nước như thế, R.Tagore một người có tinh
thần nhân đạo càng thêm đau xót. Tuy nhiên nguồn sáng trong ông vẫn dồi dào
truyền hơi ấm mạnh mẽ cho đất nước, mong muốn thay đổi cho dân tộc mình một
cuộc sống tươi đẹp: “Tôi có một lòng tin mạnh mẽ vào nhân loại. Lòng tin đó cũng
như mặt trời, chỉ có thể bị mây che chứ không bao giờ tắt” [16, tr. 31]. Điều đáng
Cha ông - ông Đêvenđranát một điền chủ giỏi, đồng thời là một lãnh tụ của
phong trào cải cách đạo Hinđu của Ấn Độ vào cuối thế kỷ XIX. Bên cạnh đó, ông
còn là một nhà triết học, một nhà hoạt động xã hội lớn của vùng Bengal, các con
của ông đều thành công và cống hiến hết mình cho đất nước Ấn Độ trong đó có
thiên tài R.Tagore. Ông Đêvenđranát là một người cha hiểu được con cái và luôn
tôn trọng tự do của con cái. Ông luôn dạy con phải sống một cuộc sống giản dị, cần
cù, biết trao dồi sức khỏe, biết yêu văn hóa nghệ thuật, có một cuộc sống ý nghĩa và
cống hiến cho dân tộc.
Thuở nhỏ, nhà của R.Tagroe thường xuyên được các tầng lớp tri thức đến để
đàm luận, tổ chức hòa nhạc, diễn văn, diễn kịch, ngâm thơ và R.Tagore được cha
dẫn đi nhiều nơi…Vì thế, ngay khi còn nhỏ R.Tagore được hun đúc trong một môi
trường văn hóa đầy truyền thống và được dạy dỗ xuất sắc như thế. Cho nên, yếu tố
gia đình là động lực không nhỏ đến việc hình thành tư tưởng và triết lý về cuộc đời
để ông có những trang viết nhân đạo sau này.
R.Tagore vốn là một cậu bé thông minh, chăm chỉ, đa cảm với cuộc sống, khi
còn nhỏ đã trở thành “thần đồng” xuất sắc của vùng Bengal. R.Tagore lên 8 tuổi đã
biết làm thơ, viết văn giỏi nhất vùng và thơ của ông được đăng trên tờ nguyệt san
lấy nhan đề Bông hoa rừng. Đến năm 11 tuổi, ông đã dịch được kịch của
Shakespeare. Hơn thế nữa, năm 13 tuổi R.Tagore đã biết sáng tác nhạc, hội họa
cũng xuất sắc, và ông còn đọc được sách cổ của tiếng Phạn, tiếng Anh…
R.Tagore tự bản thân trao dồi học hỏi từ sách vở, người thân ngay từ nhỏ.
Bên cạnh đó, R.Tagore còn học hỏi thêm từ những người xung quanh, từ những
người lao động phụ việc ở nhà ông, mà khi đó ông gọi họ là “vương quốc những
người đầy tớ” một cách trân trọng và đầy yêu mến. Trong môi trường văn hóa này
họ đã kể cho R.Tagore nghe những câu chuyện cổ, những bản anh hùng xa xưa của
Ấn Độ. Những bản anh hùng ca đậm chất sử thi, trường ca Ramayana hoặc những
thứ đơn giản trong cuộc sống đều được ông khắc sâu. Ông được nghe hát những bài
16
17
Trong những năm từ năm 1902 đến năm 1907 tác giả R.Tagore đã gánh chịu
nỗi đau mất người thân to lớn. Lần lượt cha, vợ, con gái và con trai qua đời để lại
nỗi đau vô cùng chua xót đối với nhà thơ.
Năm 1915, R.Tagore được Vương quốc Anh phong tặng tước hiệu Hiệp sĩ
thuộc dòng quý tộc mà không phải ai cũng nhận được.
Năm 1919, thực dân Anh dùng những biện pháp bạo lực để đàn áp nông dân ở
Amritsar nên ông từ bỏ danh hiệu Hiệp sĩ để phản đối việc áp bức nhân dân, đất
nước mình.
Từ năm 1916 đến năm 1930, R.Tagore có dịp đi nhiều nơi trên thế giới, đến
đâu ông cũng học hỏi thêm từ nền văn hóa các nước và tiếp thu nền văn hóa tốt đẹp.
Bên cạnh đó, R.Tagore cũng giới thiệu nền văn hóa Ấn Độ cho các nước khác hiểu
thêm về nền văn hóa nước mình. Tại các nơi đi qua R.Tagore đều tổ chức các buổi
diễn thuyết, đàm phán, phê phán chủ nghĩa thực dân phản đối chiến tranh đã chà
đạp lên quyền sống của con người, và đồng thời ca ngợi chủ nghĩa yêu nước – dân
tộc, v.v… Những tư tưởng mang tính nhân đạo của R.Tagore góp phần xây dựng
một thế giới hòa bình hữu nghị, mang lại hạnh phúc cho nhân loại.
Năm 1922, ông đã thành lập trường VisuA Bharati (Thế giới Đại học) qua đó
để thu hút thanh niên đến học tập và hòa hợp dân tộc.
Năm 1924 tại Trung Quốc, R.Tagore một người mang nhiều tâm sự, trong
tập Hồi ức qua bài Đời tôi ông đã kể lại những bước trưởng thành và những cảm
giác xung quanh của ông đối với cuộc đời.
Được đi nhiều nơi và quen biết được nhiều nhân vật nổi tiếng của thế giới:
nhà thơ Sturge Moore (Anh), Nhà văn Thomas Mann (Đức), Nhà văn Romain
Rolland (Pháp) v.v… nên mối quan hệ của ông với mọi người luôn tốt đẹp. Trong
tình cảm cũng như mối quan hệ với bạn bè quốc tế thì R.Tagore đã dùng quan điểm
đúng đắn của mình để thuyết phục họ đồng tình tư tưởng chính trị và văn hóa nghệ
trong bảo tàng Ấn Độ. Từ những tác phẩm có giá trị R.Tagore được xem là thiên tài
Ấn Độ là một người hoạt động trên nhiều lĩnh vực.
Tác giả R.Tagore với niềm đam mê văn chương ngay từ nhỏ nên khi trưởng
thành đã sáng tác rất nhiều thơ ca và là thiên tài trong thơ ca của Ấn Độ. Về mảng
thơ ca, thì các sáng tác của ông đều mang một tinh thần nhân đạo sâu sắc, đưa con
người hướng đến ánh sáng, niềm tin và tình yêu với cuộc sống. Thơ được xem là
thành tựu xuất sắc nhất trong sự nghiệp sáng tác của R.Tagore, trong đó có 52 tập
thơ bao gồm các tập thơ như sau: Thơ dâng (Gitanjal), Người làm vườn (The
Gardener), Trăng non (The crescent moon), Hái quả ( Fruit gathering), Tặng vật (
Lovers gift) v.v… lần lượt ra đời. Trong đó tập thơ Thơ dâng (Gitanjal) gồm 103
19
bài được ông sáng tác bằng tiếng Bengal và nhiều thứ tiếng trên thế giới. Năm
1913, tập thơ được Viện hàn lâm Thụy Điển trao giải Nobel văn học. Qua giải
thưởng đó ông đã trở thành người châu Á đầu tiên nhận giải Nobel văn học cao quý
này. Trao giải cho R.Tagore với tập thơ Thơ dâng Viện sĩ Viện hàn lâm Thụy Điển
Pir trom đã khẳng định giá trị của tập thơ: “ Tập thơ nhỏ bé được chính tác giả dịch
ra tiếng Anh đã tạo ra Ấn tượng về sự phong phú tài năng thơ đáng kinh ngạc đến
mức không có gì là lạ hay vô lí trong đề nghị tặng thưởng cho nó” [18, tr. 120-121].
Từ giải thưởng cao quý đó tên tuổi của ông vang nhanh ra khắp đất nước Ấn Độ và
cả thế giới. Tập thơ trên được xem là “kỳ công thứ hai” sau Sơcuntơla của
Kalidasa ở thế kỷ thứ V (Hoàng đế thơ Ấn Độ). Thơ của ông giàu hàm súc, giàu
hình ảnh, uyển chuyển trong câu từ, mang tính triết lý sâu sắc về cuộc đời và số
phận con người.
Thơ là thành tựu xuất sắc của R.Tagore và được mọi người biết đến không
chỉ với tập thơ được nhận giải Nobel, mà còn nhiều tập thơ khác được dịch bằng
tiếng Bengal. Thơ của ông mang tấm lòng bác ái rộng lớn vì mang giá trị giải phóng
con người và đất nước Ấn Độ sâu sắc. Mặc dù, chủ nghĩa nhân đạo trong thơ
R.Tagore còn say mê viết kịch như say mê thơ, ngay từ khi còn nhỏ R.Tagore say
mê nghiên cứu các vở diễn lấy ra từ các bộ sử thi cổ của Ấn Độ, ông còn say mê
kịch của Shakespeare và nhiều nhà viết kịch phương Tây khác. Ngoài ra, R.Tagore
còn là nhà lý luận và phê bình văn học, nhà văn hóa lỗi lạc của Ấn Độ.
Qua các sáng tác của R.Tagore chúng ta nhận thấy sự nghiệp của ông phong
phú và có giá trị. Nhà thơ Lê Thanh Nghị khi nhận xét về tác phẩm của R.Tagore
ông viết: “Tagore, người châu Á đầu tiên nhận giải Nobel văn học, mà tác phẩm
của ông đang vượt qua thời gian, đổ bóng xuống thời đại thức tỉnh lương tri của
con người trên khắp trái đất, đồng cảm và an ủi họ trong những góc khuất của
những cuộc đời bất hạnh” [24]. Tác giả đã ca ngợi tài năng của R.Tagore khi những
tác phẩm của ông luôn mang sự đồng cảm với những cuộc đời bất hạnh trong cuộc
sống. R.Tagore là một người đa tài hoạt động trên nhiều lĩnh vực nên luôn có những
sáng tác trải nghiệm cuộc sống và con người thật sâu sắc. Do vậy, R.Tagore ở lĩnh
vực nào đi chăng nữa cũng thể hiện thành công vai trò của mình trên lĩnh vực đó và
đã đạt đến đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác.
1.3. Vài nét về tập thơ Trăng non
1.3.1. Hoàn cảnh ra đời tập thơ Trăng non
Bên cạnh các tập thơ xuất sắc thì Trăng non cũng là một tập thơ khá hay
của tác giả R.Tagore. Đây là tập thơ thể hiện tình cảm mà tác giả dành cho trẻ em,
và nó còn chất chứa bao nỗi niềm để ông viết lên tập thơ dành cho tuổi thần tiên.
21
Điều đặc biệt, Trăng non ra đời trong một hoàn cảnh vô cùng thương xót đối với
tác giả. Tập thơ mang bao nhiêu nỗi nhớ, niềm thương với nỗi đau mất người thân
của tác giả. Trước đó, cái chết của vợ (1902), cái chết của người con gái thứ hai
(1904) đã gây ra nỗi đau thương quá lớn cho R.Tagore. Thời gian sau, cái chết của
cha (1905), và người con trai (1907) để lại nỗi đau khôn nguôi cho nhà thơ.
nỗi đau thương cũng như tình yêu dành cho trẻ em của ông.
1.3.2. Giới thiệu sơ lược về tập thơ Trăng non
Thơ ca là thành tựu xuất sắc của Rabindranath Tagore nói riêng và cả nhân
dân Ấn Độ nói chung. Bởi trong thơ của ông luôn có một tấm lòng nhân đạo rộng
lớn và sâu sắc. Thơ R.Tagore mang tình thương vô hạn của một người suốt đời cống
hiến cho nhân dân và mong cho nhân dân có cuộc sống tốt đẹp. Tinh thần nhân đạo
của R.Tagore là điểm sáng thẩm mĩ trong toàn bộ sáng tác của ông. Ở mỗi tập thơ
tác giả đều thể hiện một tình cảm và sắc thái riêng, vì thế mỗi tập thơ đều mang triết
lý sâu sắc về cuộc sống thực tại.
Nếu như ở tập thơ Thơ Dâng nhà thơ ca ngợi con người và cuộc sống, về đức
tin Chúa của đất trời, của thế giới xung quanh. Đến với tập thơ Người làm vườn
R.Tagore lại dành hết trang viết của mình để ca ngợi tình yêu, về những người chăm
sóc khu vườn tình ái và ca ngợi tình yêu muôn sắc. Đến với tập thơ Trăng non này
độc giả còn biết đến R.Tagore là nhà thơ của thiếu nhi - tuổi thần tiên. Ông muốn
trở thành nhà thơ của nhi đồng, để thấy được hình ảnh của những đứa con thân yêu
qua vần thơ của mình. Ban đầu, tập thơ ra đời vào năm 1909 viết bằng tiếng Bengal
có tựa là SiSu (Trẻ thơ). Sau đó, đến năm 1915 tập thơ được tác giả dịch từ tiếng
Bengal sang tiếng Anh và đặt tên là The Cressent Moon (Trăng non), có bản còn
dịch là Mảnh Trăng non do Phạm Hồng Nhung và Phạm Bích Thủy dịch. Tập thơ
Trăng non là cả một tâm huyết và tấm lòng mà ông dành cho trẻ thơ, tác giả đã
khắc họa lên hình ảnh trẻ thơ tuyệt đẹp trong lòng của mọi người.
Tập thơ (bao gồm 40 bài), do các dịch giả Việt Nam dịch và giới thiệu. Mở
đầu tập thơ, bài Từ đâu đến bài Nhà văn (gồm 4 bài) do dịch giả Cao Huy Đỉnh
dịch dựa theo các bản tiếng Anh Collected poems and plays của R.Tagore. Tiếp
đến, từ bài Trên bờ biển đến bài Bản hợp đồng cuối cùng (gồm 13 bài) do dịch giả
Đào Xuân Quý dịch dựa theo các bản tiếng Anh Collected poems and plays của
R.Tagore (Nhà xuất bản Macmillan, London năm 1955) và Poems (Visa Bharati,
Calcutta, 1946). Thêm vào đó, Phạm Hồng Nhung và Phạm Bích Thủy dịch các bài
Nhà đến bài Mặc cảm lần cuối (gồm 18 bài) dựa theo các bản tiếng Anh Collected
hồn nhiên, vô tư, qua những suy nghĩ và hành động của các em. Bằng trí tưởng
tượng phong phú của trẻ cho thấy sự thấu hiểu tâm lí của nhà thơ đối với thiếu nhi.
Ngoài ra, lòng yêu thương trẻ em của ông còn được thể hiện là sự khoan dung, vị
tha dành cho nhi đồng. Qua tấm lòng của ông, độc giả cảm nhận được sự che chở
của người lớn dành cho những đứa con bé bỏng của mình. Ở tập thơ này tác giả còn
đặt niềm tin vào thế hệ sau hướng đến một nền giáo dục tốt đẹp của đất nước Ấn
24
Độ. Bên cạnh đó, tình mẫu tử thiêng liêng và cao cả trong Trăng non của R.Tagore
cũng khẳng định một tình cảm cao đẹp và sáng mãi trong lòng mọi người.
Về nghệ thuật, trong tập thơ Trăng non R.Tagore mang đến cho độc giả với
nhiều phương diện màu sắc trong việc thể hiện giá trị của tập thơ. Những biện pháp
tu từ sử dụng trong Trăng non: ẩn dụ, so sánh, nhân hóa một cách đầy sáng tạo
mang cái nhìn chân thật về trẻ em. Tác giả R.Tagore còn chắt lọc thêm nghệ thuật
sử dụng ngôn ngữ gần gũi để làm nổi bật tính cách, tâm lý đáng yêu của trẻ em..
Ngoài các thủ pháp nghệ thuật đó, tác giả đã làm nổi bật tâm hồn trong sáng của trẻ
qua cách xây dựng hình ảnh thiên nhiên mang tính tượng trưng. Việc khám phá
hình ảnh những đứa trẻ trong Trăng non đã khái quát toàn diện và mang một cái
nhìn đầy đủ của tập thơ này. Tập thơ đã thể hiện sâu sắc niềm tin vào cuộc sống và
lòng yêu thương sâu sắc của tác giả đến trẻ em.
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG TẬP THƠ TRĂNG NON
CỦA R.TAGORE
2.1. Ca ngợi những phẩm chất đáng quý của trẻ em
2.1.1. Sự hồn nhiên, vô tư và trong sáng
Trăng non là một tập thơ thể hiện sâu sắc tình yêu thương cũng như niềm
mong ước mà R.Tagore đã dành cho các em. Với R.Tagore, trẻ em là điều kỳ diệu
mà tạo hóa đã ban tặng cho con người, là một sợi dây kết nối mối giao hòa của thực