đặc điểm nội dung và nghệ thuật tiểu thuyết tà dương của dazai osamu - Pdf 30

1
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN NGUYỄN THỊ HẢO
MSSV:6116178

ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT
TIỂU THUYẾT TÀ DƢƠNG
CỦA DAZAI OSAMU
Luận văn tốt nghiệp
Ngành Ngữ Văn

Cán bộ hƣớng dẫn: Ths.GV. TRẦN VŨ THỊ GIANG LAM

CHƢƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG TIỂU THUYẾT TÀ DƢƠNG
2.1.Vẻ đẹp truyền thống và vẻ đẹp của tầng lớp quý tộc Nhật Bản
2.2. Bi kịch nhân sinh của xã hội hậu chiến
2.3. Khát vọng vƣợt thoát khỏi hoàn cảnh khó khăn để tồn tại.
2.4. Tình yêu trong tiểu thuyết Tà dƣơng
2.5. Tình cảm gia đình trong tiểu thuyết Tà dƣơng 3

CHƢƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT TÀ DƢƠNG
3.1. Kết cấu nghệ thuật trong tiểu thuyết Tà dƣơng
3.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Tà dƣơng
3.2.1. Xây dựng nhân vật thông qua ngoại hình và hành động
3.2.2. Nghệ thuật khắc hoạ tâm lí nhân vật
3.3. Nghệ thuật tổ chức điểm nhìn trần thuật trong tiểu thuyết Tà dƣơng
3.4. Không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật
3.4.1. Không gian thời gian thực
3.4.2. Không gian thời gian của chiều sâu tâm lí

PHẦN KẾT LUẬN.
TÀI LIỆU THAM KHẢO.
Bản, đặc biệt là văn học hiện đại mà lại không nhắc đến tác giả Dazai Osamu.
Dazai Osamu là nhà văn tiêu biểu của văn xuôi Nhật Bản thời kì vừa chấm dứt
Đại chiến thế giới thứ hai, trên nền cảnh của một xã hội Nhật điêu tàn và sự vỡ mộng
cay đắng của niềm tự tôn dân tộc chủ nghĩa mang tên Nippon. Văn nghiệp của Dazai
không đồ sộ như nhiều nhà văn Nhật Bản khác nhưng ông lại có những tác phẩm để
đời, Tà dƣơng là một tác phẩm như thế.
Tà dƣơng, một trong những cuốn “tiểu thuyết Nhật Bản bán chạy nhất thời
hậu chiến”[6; tr.7] đã đưa Dazai lên hàng tác gia nổi tiếng nhất thời bấy giờ, góp phần
khai sinh một từ ngữ mới cho tiếng Nhật vẫn còn được sử dụng cho đến ngày hôm
nay: Tà dƣơng tộc. Tác phẩm nói đến tâm thức tan hoang của toàn Nhật Bản thời hậu
chiến thông qua sự sa sút của một gia đình quý tộc phải sống cuộc đời thường dân,
Tà dƣơng thực sự đã vươn tới những vấn đề mang tính nhân loại sâu sắc, đặc biệt là
cuộc vật lộn của con người trong hành trình cuộc đời để tìm thấy bản ngã đích thực
6

của mình, những khát khao cháy bỏng, những giá trị truyền thống tốt đẹp và cả những
ý nghĩa đích thực của cuộc sống, nhà văn Dazai đã chạm vào nơi sâu thẳm nhất trong
tâm hồn con người, khiến mỗi lần đọc xong tác phẩm của ông, người đọc không khỏi
giật mình ngỡ ngàng vì bắt gặp chính bản thân trong đó.
Tà dƣơng là một tiểu thuyết đặc sắc, có nhiều vấn đề để nghiên cứu. Vì thế,
người viết đã chọn thực hiện đề tài Đặc điểm nội dung và nghệ thuật tiểu thuyết Tà
dương của Dazai Osamu với mong muốn đóng góp một phần vào việc tìm hiểu và
phát hiện thêm những điều kỳ diệu, độc đáo trong văn chương Dazai Osamu, đồng thời
góp phần nhỏ bé vào việc tìm hiểu văn học nước ngoài trong bối cảnh mở cửa thân
thiện, học hỏi và giao lưu văn hóa hiện nay.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Dazai Osamu là một trong những tác giả tiêu biểu của văn học Nhật Bản sau
Thế chiến, tiếc là cho đến nay việc dịch thuật các tác phẩm, việc nghiên cứu về nghệ
thuật tiểu thuyết cũng như những đóng góp của ông đối với văn học chưa được chú
trọng ở Việt Nam. Tà dƣơng là một trong những cuốn tiểu thuyết tạo nên tên tuổi của

vật chính trong hai tiểu thuyết tiêu biểu của Dazai Osamu là Thất lạc cõi ngƣời và Tà
dƣơng.
Tà dƣơng sống hay không sống của tác giả Hoài Nam đề cập tới tác phẩm
bằng cách nêu đặc điểm của các nhân vật trung tâm “ba số phận cuộc đời nhuốm màu
của tà dương theo những cách khác nhau, nhưng đều để lại dư vị đắng chát trong
người đọc khi cuốn sách đã gấp lại”[9]. Trong đó, nhân vật Kazuko đại diện cho khả
năng sống, tưởng như mong manh, dễ vỡ nhưng đằng sau và bên trong đó là cả một
khối sống mạnh mẽ, cậu em trai Naoji đại diện cho khả năng không sống là mẫu hình
nhân vật văn học “Người xa lạ” kiểu Nhật Bản hoang mang mất định hướng. Tà
dƣơng phản ánh tâm trạng vỡ mộng và bế tắc đến cùng cực của một bộ phận nào đó
người Nhật thời hậu chiến, nhưng sống hay không sống trong Tà dƣơng còn là sự nhận
thức về một nỗi đau trong đời sống tinh thần của thời hiện đại đó là cái tầm thường
đang dần bức tử cái cao nhã. Đây có thể coi là bài viết có cái nhìn sâu sắc đối với tác
phẩm Tà dƣơng và nhà văn Dazai Osamu.
Đặng Khánh Ly trong bài viết Hơn cả cái chết đã thể hiện sự ngưỡng mộ tác
giả tiểu thuyết trong việc nắm bắt tâm lí nhân vật, đặc biệt là tâm lí phụ nữ, Đặng
Khánh Ly đã nêu ra những chi tiết tiêu biểu trong tác phẩm để chứng minh cho nhận
định của mình, như lời lẽ trong thư gửi Uehara, sự chuyển biến tâm lí của nhân vật
8

Kazuko, nét tinh tế của người mẹ qua cử chỉ hành động, sự mẫn cảm của cậu em trai
Naoji với ý thức về sự lạc loài của bản thân trước thế gian. Ngoài ra, tác giả còn phát
hiện ra nét bút tài hoa của Dazai Osamu trong việc xây dựng các hình ảnh trong
truyện, hình ảnh con rắn và Kazuko, hình ảnh hoa quỳnh và Naoji, hình ảnh người mẹ
và một quá khứ đẹp đẽ vĩnh viễn mất đi Dưới dạng một bài viết cảm nhận chủ quan
nhưng Đặng Khánh Ly đã mang lại những cảm xúc mới mẻ, tạo ra một cái nhìn khá
đầy đủ về tác phẩm.
Bài viết Cảm nhận về Tà dƣơng của nhà phê bình hiện đại Nhật Bản Kakuta
Mitsuyo là bài viết khá đặc biệt, nói về quá trình mà nhà phê bình này hiểu Tà dƣơng.
Mười tuổi, mặc dù yêu thích nhưng Kakuta chỉ có thể kết luận mình không hiểu lắm

Dazai Osamu do Hoàng Long dịch của NXB Hội Nhà văn phối hợp Phương Nam
Book giới thiệu năm 2012, từ đó rút ra những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của
tiểu thuyết. Ngoài ra người viết cũng tham khảo các tác phẩm cùng tác giả và một số
tài liệu có liên quan để phân tích, liên hệ so sánh nhằm giúp đề tài được sáng tỏ và
hoàn thiện hơn.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Sử dụng đúng và có hiệu quả các phương pháp luận nghiên cứu khoa học sẽ
tạo cho người viết những bước đi đúng hướng. Những phương pháp được vận dụng
trong quá trình nghiên cứu bao gồm:
Phương pháp lịch sử_xã hội: Nội dung và nghệ thuật ít nhiều chịu sự chi phối
của nền văn học và hoàn cảnh thời đại mà người cầm bút đang sống, vì vậy nghiên cứu
tiến trình lịch sử và hoàn cảnh xã hội giúp người nghiên cứu có cái nhìn đúng đắn hơn
về đối tượng đang khảo sát.
Phương pháp phân tích - tổng hợp: là một trong những phương pháp được vận
dụng xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu đề tài. Dựa vào một số nhận xét, đánh giá
của các nhà phê bình, nghiên cứu và sự phân tích dựa trên văn bản tác phẩm mà người
viết đưa ra những nhận xét, đánh giá của mình để bài viết mang tính khoa học và
thuyết phục hơn.
Phương pháp tiểu sử: Tìm hiểu mối quan hệ giữa cuộc đời đối với sự nghiệp
sáng tác của nhà văn, tìm ra sự ảnh hưởng để lý giải vấn đề trọng tâm.
10

Phương pháp so sánh - đối chiếu: là một phương pháp không thể thiếu. Bằng
phương pháp so sánh đối chiếu các tác phẩm giúp ta có thể đi sâu hơn từng khía cạnh
và làm sáng tỏ vấn đề. 11
Ngoài ra còn có rất nhiều nhận định khác về thể loại tiểu thuyết, nhưng dù cho
sơ khai hay hiện đại thì chúng cũng giao nhau ở một số điểm nhất định, có thể hiểu
tiểu thuyết là một thể loại của văn học dưới hình thức tự sự, có dung lượng lớn, có khả
năng tái hiện hiện thực cuộc sống cũng như miêu tả số phận con người trong các mối
quan hệ xã hội một cách sâu rộng.
1.1.1. Đặc điểm nội dung
Trên cơ sở so sánh với một số thể loại văn học khác, Phương Lựu và các tác
giả trong công trình Lí luận văn học đã đưa ra sáu đặc điểm cơ bản về nội dung của
tiểu thuyết như sau:
Đặc điểm đầu tiên làm tiểu thuyết khác với sử thi (anh hùng ca) và ngụ ngôn,
tiểu thuyết nhìn cuộc sống từ góc độ đời tư, yếu tố đời tư được xem là chất tiểu thuyết,
là đặc trưng nổi bật của thể loại. Tiểu thuyết miêu tả cuộc sống hiện tại không ngừng
biến đổi, phản ánh sâu rộng số phận con người trong các mối quan hệ xã hội. Ý thức
13

về số phận con người là nhân tố quyết định sự hình thành thể loại và là hạt nhân của
nghệ thuật sáng tạo tiểu thuyết. Tuỳ theo thời kì phát triển cái nhìn đời tư có thể kết
hợp với vấn đề thế sự hoặc lịch sử dân tộc.
Nét tiêu biểu thứ hai của tiểu thuyết là chất văn xuôi, miêu tả cuộc sống như
một thực tại cùng thời đang sinh thành, tức là một sự tái hiện không thi vị hoá, lãng
mạn hoá, lí tưởng hoá. Tiểu thuyết có sự pha trộn, chuyển hoá lẫn nhau của nhiều màu
sắc thẩm mĩ, tiểu thuyết hấp thụ vào bản thân nó mọi yếu tố ngổn ngang, bề bộn của
cuộc đời, bao gồm cả cái cao cả lẫn cái tầm thường, nghiêm túc và buồn cười, bi và
hài, cái lớn và cái nhỏ Chính chất văn xuôi đã mở ra một vùng tiếp xúc tối đa với
thời hiện tại đang sinh thành làm cho tiểu thuyết không bị giới hạn trong nội dung
phản ánh, phơi bày sự phức tạp muôn màu của cuộc sống, mọi vấn đề hiện lên với đầy
đủ những góc cạnh từ sự hài hoà đẹp đẽ đến cái gai góc xù xì. Tiểu thuyết tái hiện hiện
thức cuộc sống một cách chân thực và đa diện nhất.
Thứ ba, nhân vật tiểu thuyết là con người nếm trải, nhân vật xuất hiện như là
con người nếm trải tư duy, chịu khổ đau, dằn vặt ở đời. Tiểu thuyết miêu tả con người

hợp làm cho bản thân thể loại tiểu thuyết vận động không ngừng, tiểu thuyết là “thể
loại duy nhất đang hình thành và chưa xong xuôi” (Bakhtin). Yếu tố dung lượng là thế
mạnh của tiểu thuyết trong việc chứa đựng về nội dung cũng như khả năng tổng hợp
nghệ thuật. Tiểu thuyết có khả năng tổng hợp tính hiện thực của kí, chất trữ tình của
thơ, tính lịch sử, chính trị của sử thi,… để tạo nên một chỉnh thể toàn diện ngoài ra tiểu
thuyết không chỉ tổng hợp thi pháp của các loại hình văn học khác mà còn tiếp thu
những thủ pháp của các loại hình ngoại biên khác như hội hoạ, âm nhạc hay điêu
khắc… khả năng này giúp người viết thể hiện kiến thức của mình và người đọc tiếp
nhận nhiều miền kiến thức khác nhau.
Tóm lại, tiểu thuyết là thể loại tự sự dân chủ, năng động và giàu khả năng phản
ánh đời sống nhiều mặt bậc nhất trong các thể loại văn học.
1.1.2. Đặc điểm nghệ thuật
Tiểu thuyết là một thể loại không ngừng vận động nên các yếu tố đặc trưng cơ
bản như nhân vật, cốt truyện, hoàn cảnh, chi tiết, kết cấu,… đều phát triển phong phú
và không ngừng biến đổi. Tiểu thuyết là thể loại văn học chủ yếu của phương thức tự
sự, phương thức phản ánh hiện thực tường tận, tỉ mỉ như chính cuộc sống thực dạng tự
xuất hiện và diễn biến trước mặt người đọc.
15

Theo quan niệm cổ điển truyền thống, nhân vật tiểu thuyết là nhân vật của hư
cấu và tưởng tượng, là nhân vật có tính chất điển hình được xây dựng theo quan niệm
nghệ thuật của nhà văn, nhân vật tiểu thuyết được miêu tả nhiều mặt, chi tiết như con
người sống từ tính cách đến số phận, từ hành động đến tâm lí, ngôn ngữ các thuộc
tính của nhân vật được miêu tả trong quá trình, trong tổng hòa các bình diện. Do
không hạn chế về không gian và thời gian, tiểu thuyết cho phép người viết thể hiện
trong tác phẩm của mình một dung lượng cuộc sống hết sức rộng lớn, đặc điểm này
giúp nhà văn có thể khắc hoạ nhân vật, những kiểu mẫu, những điển hình sâu sắc cả về
nội tâm cũng như ngoại hình, về cuộc sống lí tưởng cũng như cuộc sống hiện thực của
nhân vật. Tiểu thuyết không chỉ viết về một người mà còn viết về cả gia tộc, cả thế hệ,
thậm chí nhiều thế hệ, số lượng nhân vật là không giới hạn. Cách tiếp cận nhân vật

cầu miêu tả cá tính của nhân vật.
Các đặc điểm trên làm cho tiểu thuyết đạt được trình độ phát triển cao so với
các thể loại văn học tự sự khác. Nhìn lại lịch sử hình thành có thể thấy ở một số nền
văn học, có những giai đoạn, tiểu thuyết không được coi trọng, bị coi là thứ văn xuôi
thứ cấp, phụ phẩm thì theo sàng lọc thời gian cùng với những ưu điểm vượt trội tiểu
thuyết đã dần khẳng định vị trí của mình so với các loại hình văn học khác và trở thành
hình thái chủ yếu của nghệ thuật ngôn từ, chẳng những đáp ứng nhu cầu đọc của công
chúng mà còn là nguồn tài liệu quan trọng cung ứng cho việc chuyển thể sang sân
khấu, điện ảnh, truyền hình.
1.2. Vài nét về lịch sử xã hội và văn học Nhật Bản sau Thế chiến thứ hai
1.2.1. Bối cảnh lịch sử xã hội
Năm 1945, việc Mỹ thả bom nguyên tử xuống hai thành phố Hiroshima và
Nagasaki cùng với sự tham chiến của Liên Xô đã làm cho chính phủ lẫn quân đội Nhật
chấn động tận gốc rễ. Ngày 15/08 Thiên hoàng tuyên bố chấp nhận sự thất trận. Sau
khi Nhật Bản kí vào Tuyên ngôn Postdam và đầu hàng vô điều kiện, quân Đồng Mình
đổ bộ lên đất nước mặt trời mọc, tiếng là quân Đồng Minh nhưng trên thực tế phải nói
là chỉ có người Mĩ cai trị trị Nhật Bản.
Theo Nguyễn Nam Trân trong Giáo trình Lịch sử Nhật Bản, cuối mùa hè năm
1945, Nhật Bản chỉ còn trơ trụi và điêu tàn, gần 200 vạn đồng bào mà một phần ba là
dân sự đã chết trong cuộc chiến tranh, những đống gạch vụn bao trùm 40% diện tích
các thành phố và dân số thành thị đã hao đi một nửa. Kỹ nghệ trở lại điểm xuất phát
đầu tiên. Nông nghiệp thiếu tất cả từ dụng cụ, thiết bị, phân bón đến nhân lực. Nhật
17

Bản vì chạy theo giấc mộng của các nhà lãnh đạo đã dồn hết tâm lực cho cuộc chiến
nên đã trắng tay. Người người bơ thờ, ngơ ngác, lần đầu tiên trong lịch sử của mình họ
bị quân đội nước ngoài chiếm đóng. Sau chiến tranh, đất nước bị mất hết vị thế. Tháng
01/1946, Thiên hoàng Showa đã đưa ra Nhân gian tuyên ngôn xác nhận rằng mình chỉ
là con người bình thường chứ không phải là một vị thần sống bất khả xâm phạm như
cách người ta vẫn tôn vinh, nó đưa đến hệ quả là chính phủ không còn quản đốc, chi

chính đáng nhớ là chủ quyền tại dân, tôn trọng các quyền làm người cơ bản, chủ
trương gìn giữ hoà bình, đặc biệt Điều 9 của Hiến pháp mà người Nhật hầu như không
ai không biết: Nhật Bản vĩnh viễn từ bỏ chiến tranh, đây là một Hiến pháp hoà bình
đánh dấu sự chuyển biến lớn của thời đại. Địa vị Thiên hoàng trước chiến tranh được
xem như là quyền uy tuyệt đối thì với Hiến pháp, chức vị này vẫn còn được minh định,
tuy nhiên, sự khác biệt lớn nhất so với trước là Thiên hoàng chỉ còn có tính cách tượng
trưng cho sự thống nhất toàn thể quốc dân. Hiến pháp cũng nhìn nhận Quốc hội do
dân chúng trực tiếp bầu ra là cơ quan tối cao nắm giữ quyền lực quốc gia. Xã hội Nhật
Bản về cơ bản đã được dân chủ hoá.
Tháng 09/1951, Hiệp ước hoà bình San Fancisco được kí kết, phục hồi chủ
quyền như quốc gia độc lập của Nhật sau 6 năm bị Mĩ chiếm đóng.
Đối với người dân Nhật Bản, hậu chiến có nghĩa là những khu nhà cửa cháy
sém đổ nát, vật giá leo thang, lạm phát thiếu thốn thế nhưng cũng trong những năm
đen tối ấy, xã hội Nhật đã bắt đầu nhìn thấy le lói những tia hi vọng của sự hồi sinh.
Năm 1947, tuyển thủ bơi lội Furuhashi Konoshin lập được kỉ lục thế giới 400 m tự do.
Năm 1949, giáo sư Yukawa Hideki đoạt giải Nobel vật lí. Kurosawa Akira đã đạt giải
thưởng của Đại hội điện ảnh Venise với tác phẩm Cổng Rashomon (1951) khẳng định
đẳng cấp quốc tế của phim Nhật. Năm 1968, nhà văn Kawabata Yasunari cũng được
trao tặng Giải Nobel Văn học.
Cho đến năm 1960, có nhiều biến chuyển rõ rệt về mọi mặt, điểm thứ nhất là
sự trung hoà về chính trị, tuy có sự khác nhau giữa cánh tả và cánh hữu nhưng không
có sự chống đối rõ rệt giữa hai phái nữa khi nền kinh tế đã ổn định. Thứ hai, đó là
những biến chuyển rõ nét về giá trị trong xã hội, người Nhật có ý thức về quyền lợi
và tự do cá nhân, tuy nhiên cái tôi của họ không phải là cái tôi Tây Phương mà là cái
tôi tập đoàn. Người Nhật vẫn sống trong một xã hội mà gia đình là đơn vị cơ bản.
Những năm 1940, người Nhật còn lo cái ăn, những năm 1950 mối lo của họ là nhà ở
19

nhưng bước qua thập niên 1960, với sự đô thị hóa và những giấc mơ vật chất của xã
hội tiêu dùng, an ninh và tiện nghi cá nhân mới chính là những cái thiết thân của con


không coi phép tắc hay kẻ cầu bơ cầu bất, không nơi nương tựa. Ở đây, có thể hiểu
như Buraiha là “kẻ bất cần đời”). Ishikawa Jun đã dùng từ tiếng Pháp libertins
(những kẻ phóng đãng) để nói về nhóm người viết văn cùng chung khuynh hướng này.
Trường phái Buraiha có những nhà văn tiếu biểu, Ishikawa Jun (1899-1987) nhà văn
năng nổ, dịch thuật và sáng tác dồi dào, chịu ảnh hưởng văn học Pháp nhất là trường
phái tượng trưng, các tác phẩm tiêu biểu của ông là Phổ hiền, Truyền thuyết hoàng kim
nói về sự đối lập giữa cái thánh thiện và cái trần tục trong cuộc đời, những cảnh tượng
tan hoang của thời hậu chiến. Tác giả Oda Sakunosuke (1913-1947) có truyện Người
đàn bà ngày thứ bảy và tập bình luận Loại văn chương có hiệu năng với chủ trương
chống đối đường lối viết văn hiện có. Sakaguchi Ango viết Bạch tri, Đi tìm tình yêu,
tập bình luận Bàn về sa đọa nói lên tinh thần phản kháng đối với những lề lối thường
tình đang chi phối xã hội. Dazai Osamu có Tà dƣơng, Thất lạc cõi ngƣời bày tỏ thái
độ chống đối lối sinh hoạt của xã hội hậu chiến, ông bị coi như là một tâm hồn yếu
đuối đứng trước sức ép của xã hội và thời thế. Hầu hết các nhà văn thuộc trường phái
này đều chết trẻ, hoặc vì mệt mỏi, hoặc vì dùng thuốc kích thích hay tự sát. Điểm
chung giữa họ là đứng dậy từ đống tro tàn của thời hậu chiến, có thể nói trên đống
gạch vụn, đổ nát và sự hoang phế của lòng người, văn học hậu chiến Nhật Bản đã
đứng dậy với nhóm Buraiha. Sự góp mặt của tiểu thuyết đại chúng là một đặc điểm
của văn học sau chiến tranh, tiểu thuyết mang tên đại chúng ghi chép lại chuyển biến
trong thế thái nhân tình từ khi xã hội bước vào thời hậu chiến. Nhóm Buraiha có
khuynh hướng sáng tác chống lại quan niệm văn dĩ tải đạo đầy dụng ý luân lý, và có
đời sống sa đoạ đi đến tự hủy. Xã hội Nhật Bản ngay sau chiến bại với những băng
hoại về luân lý và giá trị quan truyền thống khi đối đầu với bản năng tranh sống trong
hoàn cảnh khắc nghiệt của đổ nát và túng thiếu, đã cung cấp cho nhóm tác gia Buraiha
những điển hình văn học đặc biệt hậu chiến.
Ngoài những nhà văn tiểu thuyết đại chúng, những nhà văn khuynh hướng vô
sản là những nhà văn xông xáo nhất thời hậu chiến. Năm 1945, họ cùng nhau thành
lập tổ chức Hội Văn học Nhật Bản mới với ba nhân vật giữ vai trò chủ yếu là
Miyamoto Yuriko, Nakano Shigeharu và Kurahara Korehito, mục tiêu của họ là phát

Nhà văn Dazai Osamu (1909 - 1948) tên thật là Tsushima Shuji, là con thứ tám
trong một gia đình mười một người con ở Kanagi, Aomori, phía bắc đảo Honshu. Vì
cha làm chính trị, thường xuyên xa nhà và mẹ bị bệnh kinh niên sau khi sinh đến mười
một người con nên ông được một người cô nuôi nấng.
22

Theo tác giả Phạm Vũ Thịnh trong bài giới thiệu về Dazai Osaum – Tiểu
thuyết gia hiện đại Nhật Bản, thủa nhỏ, nhà văn từng học học ở trường trung học
Aomori và tốt nghiệp trường phổ thông Hirosaki. Ông là một học sinh xuất sắc với khả
năng viết tốt được phát hiện rất sớm lúc bấy giờ, ông tham gia chỉnh sửa và phát hành
những tập san sách báo dành cho học sinh, sinh viên. Cuộc đời của ông chỉ thay đổi
khi thần tượng văn học của ông lúc đó là nhà văn Akutagawa Ryunosuke tự tử năm
1927, ông bắt đầu lơ là việc học, phung phí chi tiêu của mình vào áo quần, rượu chè và
gái mại dâm, ông còn tiếp cận với phe cánh tả đang bị chính quyền đàn áp lúc đó. Năm
1929, đêm trước kỳ thi tốt nghiệp mà ông không hi vọng qua được, ông tự tử bằng
cách uống thuốc ngủ quá liều nhưng được cứu sống và tốt nghiệp năm sau đó. Dazai
Osamu ghi danh vào đại học Tokyo, chuyên ngành Văn chương Pháp, sau đó ông chạy
trốn cùng kỹ nữ Oyama Hatsuyo, tại thời điểm này, ông đã chính thức bị đuổi khỏi
nhà. Không mấy ngày sau khi bị từ, ông tự tự với một cô gái khác là Tanabe Shimeko,
Shimeko chết, nhưng Dazai được cứu bởi một chiếc thuyền đánh cá, việc này đã để lại
trong nhà văn một ám ảnh mạnh mẽ của tội lỗi. Sau sự kiện náo động này, gia đình đã
can thiệp để làm dịu đi tình hình, gia đình ông đồng ý để ông kết hôn với Hatsuyo.
Năm 1936, Dazai li hôn với Hatsuyo và đã nhanh chóng tái hôn với một giáo viên tiểu
học tên là Michiko Ishihara
Tháng 12/1941, Nhật Bản tham gia Chiến tranh Thái Bình Dương, nhưng nhà
văn được miễn đi lính do được chẩn đoán là mắc bệnh lao, căn bệnh tưởng chừng sẽ
ngăn ông tiếp tục văn nghiệp của mình, nhưng ông đã xoay xở để có thể xuất bản thêm
vài câu chuyện khác và trở thành một trong những nhà văn hiếm hoi còn chút hứng thú
trong sự nghiệp văn chương lúc bấy giờ. Nhà của ông bị dội bom hai lần nhưng gia
đình ông may mắn thoát chết với con trai một Masaki và con gái thứ ba Satoko, sau

với ý thức tự hủy và nổi loạn của ông.
1.3.2. Tiểu thuyết Tà dƣơng
Tà dƣơng là cuốn tiểu thuyết được xuất bản năm 1947 – một năm trước khi
Dazai Osamu tự sát, chính từ cuốn tiểu thuyết này mà trong từ điển tiếng Nhật đã xuất
hiện thêm một từ, bây giờ vẫn lưu hành: Tà dƣơng tộc dùng để chỉ sự sa sút của giai
cấp thượng lưu vì một biến chuyển gấp gáp của xã hội [6; tr.7]
Ở nước ta, việc giới thiệu văn học Nhật Bản diễn ra chậm hơn so với văn học
một số nước khác. Điều này không chỉ bị hạn chế bởi hàng rào ngôn ngữ (những dịch
giả thông thạo tiếng Nhật còn ít) mà do nước ta phải trải qua những năm tháng chiến
tranh, chia cắt lâu dài. Thời kì đầu chúng ta tiếp nhận văn học Nhật Bản thông qua các
24

bản dịch từ tiếng Hán, Trung Quốc, Nga, Pháp, Anh các bản dịch từ nhiều ngôn ngữ
khác nhau nên rất phong phú và đa dạng. Điều đặc biệt của tiểu thuyết Tà dƣơng vừa
ra mắt độc giả Việt Nam vào đầu tháng 07/2012 là tác phẩm này được dịch giả Hoàng
Long “một trong số ít dịch giả có khả năng và tư duy chuyên nghiệp về mảng văn
chương Nhật”[11] dịch trực tiếp từ nguyên tác Nhật ngữ. Tà dƣơng là tiểu thuyết thứ
hai sau Thất lạc cõi ngƣời của Dazai Osamu được Hoàng Long chuyển ngữ nằm trong
Tủ sách tinh hoa văn học của Nhà xuất bản Hội nhà văn.
Tiểu thuyết gồm có 8 chương hình thành trên nhật kí, những bức thư gửi nhà
văn Uehara của nhân vật Kazuko và di chúc của Naoji, cho ta cảm nhận về sự đối mặt
của con người trước hiện thực cuộc sống sau chiến tranh. “Tà dƣơng” thứ ánh sáng
heo hắt trong khoảnh khắc suy tàn của một ngày để rồi bóng tối ập xuống ngay sau đó,
là hình ảnh biểu đạt chính xác tình cảnh của gia đình tiểu thư Kazuko, nhân vật người
kể chuyện xưng “Tôi” trong tiểu thuyết, cũng là tình cảnh xuống dốc nhanh dần đều
của tầng lớp quý tộc Nhật Bản ngay sau khi nước Nhật thất trận…
Gia đình Kazuko gồm ba người: bà mẹ, Kazuko, và cậu em trai Naoji. Ba nhân
vật tiểu thuyết, ba số phận cuộc đời nhuốm màu của tà dương theo những cách khác
nhau. Sau chiến tranh, hai mẹ con Kazuko phải rời bỏ ngôi nhà ở khu phố Nishikata để
dọn về một sơn trang hẻo lánh nơi miền quê. Naoji đi lính trở về sa đọa, nghiện ngập,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status