1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NV
BỘ MÔN NGỮ VĂN
ĐẶNG THỊ THÚY VI
MSSV: 6106371
ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT
TRONG TÁC PHẨM BORIX GODUNOV
CỦA ALECHXANDR XECGHEEVICH PUSKIN Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Ngữ Văn
Cán bộ hướng dẫn: ThS.GV. TRẦN VĂN THỊNH
2.1.3. Quan điểm “phản động” của giới quý tộc về nhân dân
3
2.2. Số phận của nhân dân dưới sự cai trị và tranh giành quyền lực
2.2.1. Nhân dân là nạn nhân của sự đàn áp bóc lột
2.2.2. Nhân dân là phương tiện trong cuộc chiến tranh giành quyền lực
2.3. Sự thật lịch sử về vai trò của nhân dân
2.3.1. Nhân dân là lực lượng cơ bản của mọi cuộc cách mạng
2.3.2. Nhân dân là chủ thể sáng tạo nên lịch sử
2.4. Giá trị tác phẩm qua đặc điểm nội dung trong tác phẩm Borix Godunov
Chương 3. ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT TRONG TÁC PHẨM
BORIX GODUNOV
3.1. Nghệ thuật miêu tả nhân vật độc đáo
3.2. Nghệ thuật xây dựng kết cấu đa dạng
3.3. Nghệ thuật xây dựng xung đột tính cách sâu sắc
3.4. Ngôn ngữ kịch giàu tính cảm xúc
3.5. Không gian nghệ thuật mang tính tương phản, đối lập
3.6. Thời gian nghệ thuật mở rộng, phá vỡ quy tắc thời gian của kịch cổ
điển
3.7. Giá trị tác phẩm qua đặc điểm nghệ thuật trong tác phẩm Borix
Godunov
C. PHẦN KẾT LUẬN 4
A. Phần Mở Đầu
1. Lí do chọn đề tài
Là một trong những nền văn học phong phú của nhân loại, văn học Nga được thế
hết sức lớn lao và mạnh mẽ. Trước chúng tôi đã có nhiều nhà nghiên cứu tiến hành tìm
hiểu về A.Puskin với toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp. Ở đây chúng tôi điểm qua một số
công trình nghiên cứu có liên quan gián tiếp hoặc trực tiếp đến đề tài “Đặc điểm nội
dung và nghệ thuật trong tác phẩm Borix Godunov”.
Đỗ Hồng Chung trong tuyển tập “Puskin – Nhà thơ Nga vĩ đại” có phần viết
đề tập tác phẩm Borix Godunov. Tác giả đi vào giới thiệu vở kịch Borix Godunov, một
trong những kiệt tác của đại thi hào A.Puskin và tóm lược một phần nội dung của tác
phẩm cùng với những nhận định về hoàn cảnh mà tác phẩm phải đối diện với sự kiểm
duyệt gắt gao của cơ quan chính phủ. Ông cho rằng “Puskin viết vở kịch Borix
Godunov từ tháng 12 năm 1824 đến tháng 11 năm 1825 nhưng vở kịch không được
phép diễn. Chỉ có một số công chúng nhỏ ở Matxcơva và Pêtécbua mấy lần được tác
giả đọc cho nghe. Phải chờ mãi đến năm 1876 nghĩa là 39 năm sau khi Puskin mất,
nghĩa là tác giả phải sống thêm một cuộc đời nữa, thì tác phẩm mới được ra mắt lần
đầu tiên trên sân khấu Pêtécbua, mà cũng chỉ được trình diễn với sự cắt xén của cơ
quan kiểm duyệt của nhà nước chuyên chế. Nếu đây chỉ là một vở kịch lịch sử “thuần
túy” thì có lẽ đã “được phép” ra mắt khán giả sớm hơn nhưng Borix Godunov lại là
kịch lịch sử có tính thời đại sâu sắc, những vấn đề đang được những người quý tộc
tiến bộ lúc bấy giờ đặc biệt quan tâm. Vấn đề chế độ nông nô, vấn đề Nga hoàng với
nhân dân, vấn đề vị trí của quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh giải phóng ở
nước Nga là những vấn đề cấp thiết của đời sống hiện đại” [2; tr.110]. Ở đây, Đỗ
Hồng Chung đi vào so sánh với quyển “Lịch sử quốc gia Nga” của Caramdin để thấy
được sự khác biệt giữa hai tác phẩm. Còn về vấn đề nghệ thuật thì tác giả vẫn chưa
bàn đến. Bên cạnh đó, Đỗ Hồng Chung dành khá nhiều bút mực của mình để nghiên
cứu về văn xuôi của A.Puskin. Tác giả nhận định nhà văn đã có mười năm để viết văn
xuôi (1827 – 1837 ), trong những sáng tác của mình A.Puskin đòi hỏi văn xuôi phải
“Chính xác và ngắn gọn, đó là những phẩm chất đầu tiên của văn xuôi. Văn xuôi đòi
hỏi tư tưởng, không có nó thì lối biểu hiện hào nhoáng chẳng có ích gì” [2; tr.133].
Tiếp theo sau đó, Đỗ Hồng Chung tiến hành tìm hiểu về một số tác phẩm văn
xuôi tiêu biểu của A.Puskin. “Người da đen của Piot đại đế”, là hình ảnh trung thực
6
không buông thả theo những cuộc phiêu lưu nhiều tình tiết li kì. Những tội ác đẫm
máu, thủ đoạn khôn ngoai, mưu đồ đen tối, tình duyên lạ lùng…đều phải nói đến khi
7
cần thiết, nhưng Puskin biết nắm lấy sợi chỉ đỏ xuyên suốt vở kịch, đó là thái độ của
nhân dân, sự phán xử của nhân dân đối với mọi diễn biến lịch sử. Nhân dân là quan
tòa công minh. Tòa án nhân dân là tòa án lịch sử xét công, định tội mọi cá nhân.
Không một cá nhân nào, dù ai đi nữa, trốn tránh khỏi tòa án ấy” [3; tr.71]. Về nghệ
thuật, tác giả nhấn mạnh vào những cách tân nghệ thuật của A.Puskin trong tác phẩm,
đem lại cho văn học Nga những bước tiến mới “Muốn thể hiện được “tinh thần thời
đại” với “đại dương nhân dân nổi sóng” thì kích thước của kịch truyền thống không
đủ sức dung nạp, luật lệ cổ điển không còn thích hợp nữa. Nội dung mới đòi hỏi hình
thức mới. Puskin phải phá vở “những hình thức lỗi thời của sân khấu” để “cải tạo hệ
thống kịch”. Puskin phải đổi mới nghệ thuật, tạo điều kiện phát triển cho kịch…Puskin
mạnh bạo và khéo léo kết hợp đầy sáng tạo “bi” và “hài”, “thơ” và “văn xuôi” trong
một vở kịch, là những điều mà kịch truyền thống cấm kị” [3; tr.72].
Trong “Con người năm tháng và những hoài niệm”, Hồ Sĩ Vịnh đã từng nhận
định tác phẩm Borix Godunov trong mục “A.Puskin – Bậc thầy văn hóa” để chứng
minh cho “Những tư tưởng lớn, những vấn đề trung tâm của thời đại mình, Puskin đã
mạnh dạn đổi mới và sáng tạo một thứ ngôn ngữ phong phú nhất mà chúng ta chưa
thấy” [12; tr.82]
Đến với “Puskin trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI” (Trung tâm khoa học xã
hội và nhân văn quốc gia viện thông tin khoa học xã hội), công trình nghiên cứu có đi
vào tiếp cận tác phẩm Borix Godunov với vai trò là tác phẩm lịch sử của mọi thời đại
trong mục “Puskin và lịch sử”. A.Puskin khai thác lịch sử với ý thức độc lập rằng
““Borix Godunov” tuyệt nhiên không phải là sự minh họa bằng văn học cho lịch sử
mà là cách nhìn nhận lịch sử theo kiểu Shakes Peare thực thụ” [11; tr.133].
Năm 2003, Nhà xuất bản thế giới cho ra đời “Từ điển bộ mới” với nhiều nghiên
cứu về những tác phẩm nổi tiếng của Nga, trong đó có kiệt tác Borix Godunov. Với bài
nghiên cứu này chúng ta lại bắt gặp tác giả Đỗ Hồng Chung với cái nhìn khách quan,
nhiều chiều khi tiếp cận tác phẩm “Tên vở kịch là Borix Godunov nhưng nội dung
tòi, xây dựng. Mục đích cuối cùng của việc tiếp cận đó là nhằm khẳng định giá trị nội
dung và nghệ thuật của tác phẩm Borix Godunov, từ đó khẳng định vị trí của tác phẩm
trong sự nghiệp sáng tác của A. Puskin. Hơn nữa, qua đó chúng tôi còn nhận biết được
vị trí, sự nghiệp to lớn của đại thi hào và những đóng góp ý nghĩa của A.Puskin đối với
văn học nhân loại. Việc nghiên cứu về tác phẩm Borix Godunov là vấn đề không đơn
giản, để có thể thấu hiểu một cách toàn diện, bao quát về cả nội dung và nghệ thuật
của tác phẩm là điều rất khó tuy nhiên chúng tôi sẽ cố gắng hết sức trong phạm vi và
giới hạn có thể.
9
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này chúng tôi tiến hành tiếp cận phương diện nội dung về
bức tranh tầng lớp quý tộc Nga thế kỷ XVII, tìm hiểu về số phận và vai trò của nhân
dân, những con người nhỏ bé mà nhà văn tập trung xoáy sâu, miêu tả. Bên cạnh đó,
chúng tôi cũng nghiên cứu về những nét nghệ thuật đặc sắc mà nhà văn dày công tìm
tòi, xây dựng. Mục đích cuối cùng của việc tiếp cận đó là nhằm khẳng định giá trị nội
dung và nghệ thuật của tác phẩm Borix Godunov, từ đó khẳng định vị trí của tác phẩm
trong sự nghiệp sáng tác của A. Puskin. Hơn nữa, qua đó chúng tôi còn nhận biết được
vị trí, sự nghiệp to lớn của đại thi hào và những đóng góp ý nghĩa của A.Puskin đối với
văn học nhân loại. Việc nghiên cứu về tác phẩm Borix Godunov là vấn đề không đơn
giản, để có thể thấu hiểu một cách toàn diện, bao quát về cả nội dung và nghệ thuật
của tác phẩm là điều rất khó tuy nhiên chúng tôi sẽ cố gắng hết sức trong phạm vi và
giới hạn có thể.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài “Đặc điểm nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm Borix
Godunov” chúng tôi vận dụng một số phương pháp sau đây. Đầu tiên là phương pháp
lịch sử xã hội. Với phương pháp này chúng tôi quyết định đặt tác phẩm vào hệ thống
kịch nước Nga khi tiếp cận, nhìn nhận và đánh giá về phương diện nội dung. Về
phương diện nghệ thuật, chúng tôi dựa vào hệ thống những phương pháp, hình thức
sáng tác kịch cổ điển để tìm ra sự mới lạ, hấp dẫn trong phong cách sáng tác của
A.Puskin. Bên cạnh đó việc áp dụng phương pháp phân tích là điều cần thiết. Với
họng bị cắt. Một ban điều tra do Vasil Ivanovitch Suiski dẫn đầu đến thành phố
Uglitch, đã kết luận rằng hoàng tử Đimitri bị đâm vào dao khi lên cơn động kinh.
Nhưng dân chúng tin chắc rằng hoàng tử nhỏ bị giết theo lệnh của Boris Godunov.
Tháng 1 năm 1598, sa hoàng Phedor qua đời. Ông không có con, triều đại nhà
Ivan Kalita kết thúc ở đây. Hội đồng tự quản địa phương tôn Boris Godunov lên làm
sa hoàng. Godunov là một vị hoàng đế thông minh, sáng suốt, biết nhìn xa trông rộng,
ông quan tâm đến việc khôi phục kinh tế và củng cố khả năng quốc phòng của đất
11
nước. Dưới thời trị vì của sa hoàng Godunov đã hình thành sự cai trị của Đại giáo chủ.
Nhà thờ nước Nga tách khỏi sư cai quản của Đại giáo chủ thành Constantinople.
Godunov trị vì đất nước dựa vào tầng lớp quý tộc khiến các lãnh chúa không hài lòng.
Họ cho rằng Godunov chỉ là một kẻ chơi trội, một sa hoàng trái pháp luật và họ toan
lật đổ ông ta.
Nước Nga bị mất mùa trong 3 năm đầu tiên của thế kỷ XVII, nạn đói khủng
khiếp hoành hành khắp nước. Người dân Nga phải ăn rơm, ăn cỏ. Các lãnh chúa và địa
chủ không nuôi kẻ hầu người hạ nữa, chỉ riêng trong các nghĩa trang ở Moxcva đã
chôn 127.000 người bị chết đói, ở khắp nơi diễn ra các cuộc khởi nghĩa của nông dân
cùng những người hầu và các thị dân bị đói. Năm 1603, trong thái ấp của công hầu Ba
Lan Adam Visnheveski xuất hiện một thanh niên tự gọi mình là Hoàng tử Đimitri.
Ông ta cho biết, ông đã thoát chết khỏi âm mưu ám sát Borix Godunov đặt ra. Thực ra
đó là một tu sĩ nghèo trong tu viện Trudov tên là Grigori Atrepev. Công hầu Adam
Visnheveski quyết định lợi dụng người thanh niên mạo hiểm đầy dũng cảm này, ông ta
đã giới thiệu Grigori Atrepev với chỉ huy quân đội Iuri Mnhisek ở Sandomir và đại
diện các tầng lớp nhân dân Ba Lan. Tháng 3 năm 1604 kẻ mạo danh được quốc vương
Balan, ngày Sigizmund III đón tiếp. Quốc vương đồng ý ủng hộ hoàng tử Đimitri giả
và cho phép Đimitri tuyển chọn lính đánh thuê để tấn công Moxcva. Kẻ mạo danh đã
hứa với Quốc vương Ba Lan sẽ cho ông ta thành phố Smolenk, vùng đất phía bắc
Novgorod và sẽ kí một hiệp ước liên minh bền vững với Ba Lan, cho phép truyền bá
rộng rãi đạo thiên chúa trên lãnh thổ nước Nga. Kẻ mạo danh bí mật theo đạo thiên
chúa và kí một hiệp ước với các tu sĩ dòng Tên. Trong bức thư gửi Đimitri, giáo hoàng
uống rượu say và càn quấy trong thành Moxcva, sáng 17-5-1606 vang lên những hồi
chuông dóng dả, dân Moxcva xông vào nhà quân Ba Lan ở, họ đánh đập những vị
khách không mời mà đến. Gần 200 người do lãnh chúa Vasili Suiski dẫn đầu đã tiến
vào cung điện Kremlin. Đimitri mạo danh cố chạy thoát, nhảy qua cửa sổ và bị gãy
chân, đám đông rượt đuổi theo bắt được và giết chết kẻ mạo danh. Xác của ông ta
được đưa ra quãng trưởng Đỏ và bị thiêu ở đó. Vasili Ivanovich Suixki, người chủ
mưu của tầng lớp lãnh chúa được đưa lên ngai vàng.
1.1.2. Vài nét về xã hội Nga thế kỷ XIX
Cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX ở châu Âu là thời kỳ chế độ phong kiến tan
rã trước sức tấn công của cách mạng tư sản. Nhưng lúc này nước Nga vẫn còn là một
nước nông nghiệp lạc hậu, chủ nghĩa tư bản chỉ mới bắt đầu phát triển. Năm 1810 mới
có khoảng 6,5 phần trăm dân số sống ở thành thị và 2500 xí nghiệp. Đến năm 1825 số
xí nghiệp tăng lên 5261.
13
A lếch xan I (làm vua từ 1800 đến 1825) run sợ trước ảnh hưởng của cách mạng
Pháp nên phải đeo chiếc mặt nạ tự do chủ nghĩa. Y ban bố một số đạo dụ nói về việc
cấm bán người không kèm theo ruộng đất, về “những nông dân tự do”…Nhưng trên
thực tế cả hai đạo dụ này đều không được thực hiện. Nhà vua cùng với M.Xpê-ran-xki,
một người trí thức có tài, vào triều thảo dự luật chung về quản lí quốc gia. A-lếch-xan
còn tiến hành một số cải cách khác nữa về giáo dục, văn hóa…Nhưng tất cả những cải
cách này đều không động chạm gì đến cơ sở của chế độ nông nô chuyên chế.
Cuộc chiến tranh ái quốc năm 1812 đã thức tỉnh ý thức dân tộc và tinh thần cách
mạng trong nhân dân Nga. Chính những người dân Nga đã đánh tan hơn 60 vạn quân
xâm lược của Na-pô-lê-ông, giải phóng đất nước và góp phần giải phóng châu Âu, rút
cuộc vẫn còn nằm trong cảnh nô lệ. Bất bình trước cảnh nô lệ đó, làn song đấu tranh
của nông nô dân cao, riêng trong phần tư đầu thế kỷ đã có tới 280 vụ biến động.
A-lếch-xan sợ hãi vội vứt bỏ chiếc mặt nạ tự do chủ nghĩa, hiện nguyên hình là
một tên chuyên chế. Y cấu kết với Áo và Phổ lập ra “liên minh thần thánh” để chống
lại cách mạng tư sản Pháp. Y gạt bỏ Xpê-ran-xki và dùng kẻ bảo thủ như Si-scốp làm
quốc vụ khanh, kẻ tàn bạo như A-rắc-sê-ép làm thượng thư bộ chiến tranh.
nhóm những tư tưởng ấy lên…
Nói chung, tình trạng của nông nô là hầm thuốc nổ đặt dưới nhà nước và nguy
hiểm hơn nữa là quân đội lại bao gồm những nông nô đó. Đối ngoại, Ni –cô-lai I đã trở
thành tên sen đầm quốc tế. Y giúp Pháp đàn áp cách mạng ở Pa-ri, trực tiếp đem
14000 quân sang dập tắt cách mạng 1848 ở Hung-ga-ri. Mặt khác, y gây chiến tranh ở
miền Nam để mở rộng lãnh thổ. Cuộc chiến tranh Cơ-ri-mê giữa Nga và Thổ liên minh
với Anh, Pháp kéo dài trong gần một năm (1855-1856). Đó là cuộc chiến tranh phi
nghĩa về cả hai phía. Mặc dầu binh lính Nga chiến đấu rất anh dũng, cuối cùng nước
Nga vẫn bị thất bại. Cùng với cái chết của Ni-cô-lai I vào năm 1855, chiến tranh Cơ-ri-
mê đã chấm dứt một giai đoạn đen tối trong lịch sử nước Nga. Lê nin viết “Cuộc chiến
tranh Cơ-ri-mê đã chứng tỏ cảnh thối nát và bất lực của nước Nga phong kiến” [13].
1.2. Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp của Alechxandr Xecgheevich Puskin
Alechxandr Xecgheevich Puskin sinh ngày 6-6-1799 tại Matxcova. Gia đình
thuộc dòng dõi quý tộc đã sa sút. Cha thi sĩ là một người rất ham mê văn học, thích sân
khấu, ông đã từng làm thơ bằng tiếng Pháp. Chính vì thế thi sĩ đã sớm được tiếp xúc
không khí văn học.
Năm 1811, A.Puskin vào học tại trường Li xê. Ở đây thi sĩ được tiếp xúc với
những thầy giáo, bạn bè có tư tưởng tự do. Do đó tư tưởng tự do đã bắt rễ ngay vào
tâm hồn nhạy cảm của A.Puskin. Thời gian này nhà văn bắt đầu sáng tác liên tục “Gửi
15
Na ta sa” (1813), “Gừi bạn thơ” (1814) “Hồi ức ở Hoàng thôn” (1814) “Gửi Li xi
nhi” (1815). “Tu sĩ” (1813), “Bô va”(1814), kịch “Bước vào xã hội thượng lưu như
thế”, “Nhà hiền triết”….
Nhìn chung nội dung sáng tác của A.Puskin thời kì học ở Li xê tương đối phong
phú. Về mặt nghệ thuật thì trình độ còn non, chịu ảnh hưởng của các nhà thơ lớn đàn
anh. Tuy nhiên, có nhiều dấu hiệu chứng tỏ rằng A.Puskin sẽ vươn cao hơn, đi xa hơn
các bậc nghệ sĩ tiền bối của mình.
Năm 1817 A.Puskin tốt nghiệp trường Li xê. Sau đó thi sĩ được bổ nhiệm vào
cơ quan ngoại giao. Do liên hệ với các nhà hoạt động cách mạng, làm bạn với những
thanh niên có tư tưởng tự do, lập trường chính trị và văn học của A.Puskin được xác
(1828), “Pôu ta va” (1828).
Nửa sau những năm 20 cũng là giai đoạn A.Puskin viết những chương chính
của tiểu thuyết “Epghenhi Onheghin” (5,6,7,8) và bắt đầu chú ý đến văn xuôi, truyện
ngắn “Người da đen của Piôt đại đế” (1827)
Giai đoạn cuối cùng trên bước đường sáng tác của A.Puskin có thể kể từ 1830
trở đi. Tháng 2-1831 nhà văn lập gia đình. So với thời kỳ trước thì giai đoạn này
A.Puskin sáng tác ít hơn: “Tôi trở lại thăm” (1835), “Đài kỷ niệm” (1836), “Người kỵ
sĩ đồng” (1833). Năm 1831, A.Puskin kết thúc tiểu thuyết “Epghenhi Onheghin”.
Trong giai đoạn sáng tác cuối cùng này, thiên tài chú ý nhiều đến kịch (4 bi
kịch ngắn (1830), “Rút xan ca” (1833), “Những màn từ thời hiệp sĩ” (1835), và đặc
biệt là văn xuôi. Trong văn xuôi, A.Puskin đề cập đến các tầng lớp nhân dân “Lịch sử
làng Gô ri u khi nô” (1830) đến cuộc đấu tranh của nông dân chống địa chủ “Đu bơ
rốp xki” (1833). Xuất sắc nhất là quyển “Người con gái viên đại úy” (1836) mô tả
cuộc khởi nghĩa nông dân thật sự.
Để bảo vệ danh dự gia đình trước dư luận xã hội, A.Puskin buộc phải quyết đấu
với tên Đăng tét. Cuộc quyết đấu xảy ra buổi chiều ngày 8-2-1837. Thế là “Mặt trời
thi ca Nga đã lặn”.
1.3. Vài nét về tác phẩm Borix Godunov
1.3.1. Tóm tắt tác phẩm
Vở kịch Borix Godunov kể về nhân vật lịch sử có thật, tên là Borix Godunov. Mở
đầu vở kịch là cảnh ở cung điện Cremli, khi hoàng đế băng hà, không có người kế vị,
vì em trai nhà vua là Đimitri đã bị sát hại khi mới bảy tuổi. Bấy giờ các triều thần, các
cha cố và dân chúng phải tìm người trao vương miệng, lãnh đạo đất nước. Đại thần
Borix Godunov là anh vợ của nhà vua, cũng là người bấy lâu nay vẫn phò vua trị nước
được tôn lên làm vua nước Nga. Một triều đại mới bắt đầu. Năm năm sau, vào một
17
đêm trăng, dưới ánh đèn le lói trong một căn phòng tu sĩ, đức cha Pimen, người là tác
giả cuốn sử biên niên đã kể lại cho Grigori, một học trò tu sĩ nghe câu chuyện về cái
chết của hoàng tử Đimitri cùng tội ác của nhà vua sát nhân Borix Godunov cách đây
mười hai năm. Grgori đã chạy trốn khỏi tu viện, vượt qua biên giới Litva và trở thành
phẩm “Borix Godunov”, vở bi kịch hiện thực đầu tiên trong văn học Nga ra đời.
1.4. Một số vấn đề lí luận chung
1.4.1. Khái niệm về thể loại kịch
Kịch được hiểu theo hai cấp độ:
Ở cấp độ loại hình, “Kịch là một trong ba phương thức cơ bản của văn học (bên
cạnh tự sự và trữ tình). Kịch vừa thuộc về sân khấu, vừa thuộc về văn học. Kịch vừa để
diễn là chủ yếu vừa để đọc vì kịch bản chính là phương diện văn học của kịch. Song
nói đến kịch là phải nói đến sự biểu diễn trên sân khấu của các diễn viên bằng hành
động, cử chỉ, điệu bộ và những lời nói” [5; tr.169], sân khấu là cơ sở đầu tiên của vở
diễn, vừa được cảm thụ bằng việc đọc.
Ở cấp độ thể loại, “Thuật ngữ kịch được dùng để chỉ những thể loại văn học –
sân khấu có vị trí tương đương với bi kịch và hài kịch. Với ý nghĩa này kịch cũng còn
gọi là chính kịch. Cũng giống như hài kịch, kịch tái hiện cuộc sống riêng của con
người bình thường nhưng mục đích chính không phải là cười nhạo, chế giễu các thói
hư tật xấu mà là mô tả cá nhân trong các mối quan hệ chứa đựng kịch tính đối với xã
hội. Và giống với bi kịch, kịch chú trọng tái hiện những mâu thuẫn gay gắt song những
xung đột của nó không căng thẳng đến tột độ, không mang tính vĩnh hằng và về
nguyên tắc có thể giải quyết được ổn thỏa” [5; tr.169]
Kịch hình thành trên cơ sở sự tiến triển của các diễn xướng mang tính sân khấu,
việc đẩy lên tiền cảnh những diễn viên kết hợp trình diễn pantomin với trình diễn lời
đã dẫn tới sự xuất hiện của kịch. Cơ sở của kịch là những mâu thuẫn xã hội, lịch sử,
hoặc những xung đột muôn thuở của con người nói chung. Nét chủ đạo ở kịch là kịch
tính - một đặc tính tinh thần của con người do các tình huống gây nên, khi những điều
thiên liêng, cốt thiết không được thực hiện hoặc bị đe dọa.
Kịch thường được xây dựng trên những diễn biến của duy nhất một hành động
bên ngoài, gắn liền với sự đấu tranh của các nhân vật. Hành động kịch hoặc được theo
dõi từ thắt nút đến mở nút, bao quát một khoảng thời gian dài hoặc được nắm bắt chỉ ở
đỉnh điểm, gần tới cởi nút.
Cơ sở chung cho kết cấu của kịch là việc phân chia tác phẩm thành các hồi và
cảnh, bằng cách đó mỗi thời điểm (được miêu tả ở mỗi hồi) nối tiếp với các thời điểm
nhà văn kể ra, là cái mà người đọc có thể đem kể lại” [5; tr.101]. Cốt truyện phải thật
tập trung, không thừa không thiếu cho nên nhiều kịch tác gia có kinh nghiệm khi viết
kịch bản xong, phải tự mình rút gọn. Nếu tác giả không tự cắt thì buộc đạo diễn cũng
phải bỏ bớt. Cốt truyện và hành động kịch phải thống nhất tập trung, đòi hỏi chi tiết,
20
tình tiết, sự kiện không những phải cô đúc, gãy gọn mà còn phải liên đới nhau một
cách chặt chẽ, lôgích, tất yếu, tự nhiên. Mối liên hệ chặt chẽ ở đây theo đúng quy luật
nhân quả. Tất nhiên quy luật này cũng có hai hình thức trực tiếp và gián tiếp.Trong
hình thức nhân quả trực tiếp, bất kì một hành động chính nào cũng là nguyên nhân và
kết quả trực tiếp của cái liền trước và sau đó. Trong hình thức nhân quả gián tiếp, tác
động nhân quả không liền mạch kề nhau mà cách quãng.
Cốt truyện và hành động kịch phải tập trung, thống nhất nhưng không có nghĩa là
đơn nhất, đơn giãn. Cốt truyện là nhằm triển khai xung đột, những xung đột đòi hỏi
nghệ thuật phải góp phần giải quyết, có nghĩa là không dễ dàng giải quyết trong thực
tế.
Nhân vật kịch
Nhân vật kịch được chia thành nhiều loại có thể là nhân vật chính – phụ, nhân
vật phản diện – chính diện. Thông qua những lời thoại và hành động tính cách, xung
đột kịch thể hiện chủ đề của vở kịch.
Do hạn chế của thời gian và không gian sân khấu, cốt truyện nên trong kịch bản
văn học phải thật tập trung, điều đó tất yếu cũng sẽ kéo theo một hệ quả là số lượng
nhân vật không thể nào quá nhiều như trong tiểu thuyết được. Đặc biệt, kịch bản viết
ra là để diễn viên trình diễn trên sân khấu, cho nên không có nhân vật kể chuyện.
Cũng do những hạn chế như trên, nhân vật trong kịch không thể được khắc họa
với nhiều khía cạnh tỉ mỉ. Hơn nữa những tính cách quá phức tạp như trong tiểu thuyết
không thể nào thích hợp với việc thương thức liền mạch của một tập thể khán giả trong
cùng một thời gian ngắn ngủi. Người đọc tiểu thuyết có thể lật lại những đoạn đã đọc
để tìm ra những khúc mắc. Khán giả sân khấu không thể làm như thế, tính cách trong
kịch, do đó phải thật nổi bật. Đó cũng là điều được xác nhận xưa nay, nhưng tính cách
nổi bật, xác định không có nghĩa là đơn giản một chiều. Xoay quanh nết tính cách nổi
thoại là biện pháp quan trọng nhất, nhưng không phải là biện pháp duy nhất để miêu tả
nội tâm của nhân vật. Người ta còn dùng những phút im lặng, những lời ngâm, sự quan
sát của những nhân vật khác, thậm chí cả sự phục hiện hoặc tái hiện những tình huống
và tâm trạng trong quá khứ hoặc hiện tại của nhân vật bằng những lớp kịch xen kẽ.
Bàng thoại là lời nói riêng với khán giả. Có khi đang đối đáp với một nhân vật
khác, bỗng nhiên nhân vật tiến lên hướng về phía khán giả nói vài câu để giải thích
một cảnh ngộ, một tâm trạng, một điều bí mật. Loại này rất hiếm, chỉ thấy trong kịch
tự sự.
Ngôn ngữ trong kịch phải có tính hành động, tính khẩu ngữ, tính hàm súc, tính
tổng hợp và phải phù hợp với tính cách nhân vật. Diễn viên lên sân khấu không phải
22
chỉ đọc lại kịch bản mà là biểu diễn với nhiều loại hành động khác nhau: hành động
hình thể, hành động tâm lí và hành động ngôn ngữ. Chính vì thế “Trong tác phẩm,
ngôn ngữ văn học là một trong những yếu tố quan trọng thể hiện ca tính sáng tạo,
phong cách tài năng của nhà văn. Mỗi nhà văn lớn bao giờ cũng là tấm gương về mặt
hiểu biết sâu sắc ngôn ngữ nhân dân, cần cù và lao động để trau dồi ngôn ngữ trong
quá trình sáng tác” [5; tr.215],
Xung đột, không gian, thời gian trong kịch
Xung đột là đặc điểm về đề tài và chủ đề của kịch bản văn học. Tác phẩm văn học
thông qua việc phản ánh hiện thực, nêu lên một vấn đề trước mắt công chúng, không
thể không trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến những mâu thuẫn trong cuộc sống.
Những mâu thuẫn này mặc dù có những trạng thái, mức độ và tính chất khác nhau
nhưng đều tồn tại trong hiện thực. Nhưng chỉ đến một giai đoạn phát triển nhất định
thì những mâu thuẫn mới trở thành những xung đột đối lập và bộc lộ rõ bản chất hiện
thực. Nhưng do không hạn chế về không gian và thời gian cho nên tiểu thuyết có thể
phản ánh cả những mâu thuẫn trong cuộc sống một cách tỉ mỉ, sâu rộng. Nó có thể đề
cập đến những mâu thuẫn trong trạng thái manh nha, âm ỷ cũng như ở những giai đoạn
đối lập, đấu tranh, xung đột. Nhưng kịch bản văn học chủ yếu là để diễn trên sân khấu,
xét hai mặt trình diễn cũng như thưởng thức, phải chịu nhiều hạn chế về không gian và
thời gian. Dĩ nhiên không thể đánh đồng một cách thô thiển không gian thời gian sân
Trong bất kì một đất nước, ngoài mặt thống nhất mang tính chất bắt buộc giữa
tầng lớp thống trị và tầng lớp bị trị thì luôn luôn tồn tại những mối mâu thuẫn, sự chống
đối ngấm ngầm giữa các thành viên. Trải dài từ đầu đến cuối vở kịch Borix Godunov,
A.Puskin cho chúng ta thấy sự “Chống đối giữa tầng lớp quý tộc với Nga hoàng” là
một trong những vấn đề trọng tâm mang đến cho nước Nga thế kỷ XVII nhiều u ám,
bóng tối bao trùm. Mối quan hệ giữa các nhân vật đều nảy sinh nhiều vấn đề trái chiều,
tạo nên những mâu thuẫn gay gắt.
Việc lên ngôi sa hoàng của nhân vật Borix Godunov đã tạo nên một làn sóng dư
luận, những sự chống đối, thái độ không thỏa hiệp của tầng lớp quý tộc. “Dân chúng sẽ
cầu khẩn, khóc mếu, Borix sẽ cau có thêm giống thằng nát rượu nhăn nhó trước cốc
rượu vang, nhưng cuối cùng mở lòng độ lượng dễ dãi thuận lòng nhận cây quyền
trượng còn sau đó ông ta lại sẽ trông coi bọn chúng ta như trước” [8; tr.9], những lời
nhận xét không mấy thiện chí của nhân vật Suixki dành cho vị sa hoàng sắp lên ngôi
kèm theo một thái độ dửng dưng, bất hợp tác. Suixki hay Vorotưnxki cho rằng xuất
thân của Borix vốn thuộc dòng dõi không lấy gì làm vinh quang và tự hào, ông ta chỉ
thích hợp với những con người bần tiện, sống cuộc đời nô lệ vì thế lẽ tất nhiên là không
xứng đáng với ngôi vị cao sang “Thật là vinh dự đối với chúng ta, với cả nước Nga!
Một tên vốn thân nô lệ, một gả Tartar rể của Maliuta tên đao phủ và chính bản thân
thực ra cũng là một tên đao phủ, ông ta rồi đây sẽ nhận vương miệng và áo bào
Monomakh Nga hoàng” [8; tr.12].
Borix trong con mắt giới quý tộc chỉ là một kẻ tầm thường, dưới quyền cai quản
của họ, vốn dĩ ông ta thuộc một tầng lớp thấp kém trong xã hội. Khi một điều gì đó đã
ăn sâu vào tiềm thức của một con người thì trong một thời gian ngắn nó khó mà có thể
thay đổi và chấp nhận được cái mới. Nếu ở nhân vật Suixki ta nhận thấy thái độ không
thỏa hiệp, chống đối thì với Vorotưnxki ngài lại cho rằng “Ông ta vốn không phải hạng
dòng dõi mà chúng ta còn quyền quý hơn” [8; tr.12]], đã có những sự so sánh xuất hiện
khi những con người không cùng chung chí hướng, mục tiêu. Đáng lẽ ra, ngôi vị đầy
quyền lực kia phải được trao cho một người thuộc dòng dõi và quyền quý hơn. Sự kiện
25
Borix Godunov thừa kế ngai vàng là một điều bất thường, không hợp lí, làm sao một
khủng khiếp mà cái tên mạo danh Đimitri mang đến “Nhưng xin thú thật là một hiểm