TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
----------
LÊ THỊ HỒNG ĐOAN
MSSV: 6116121
NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT TRUYỀN KỲ
VIẾT BẰNG CHỮ HÁN CỦA VIỆT NAM
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Ngữ Văn
Cán bộ hƣớng dẫn: BÙI THỊ THUÝ MINH
Cần Thơ, 2014
1
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tiểu thuyết là một trong những thể loại quan trọng bƣớc đầu của nền văn học
viết. Tiểu thuyết chữ Hán của Việt Nam chịu ảnh hƣởng khá sâu sắc của nền văn
học Trung Quốc từ nội dung đến thể loại, kế thừa lối chép sử ghi lại những sự kiện
quan trọng của các triều đại phong kiến, các danh nhân lịch sử văn hóa, những bƣớc
ngoặc trọng đại của một quốc gia một dân tộc. Tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam dần
tách ra với tiểu thuyết Trung Quốc và có đƣợc nhiều thành tựu nhất định. Bƣớc vào
thế kỷ XV và đến cuối thế kỷ XVII đây là giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của thể
loại truyện ngắn nói chung và tiểu thuyết truyền kỳ nói riêng với hai tác phẩm để lại
tiếng vang là Thánh Tông di Thảo của Lê Thánh Tông và Truyền kỳ mạn lục của
thời đại, nhiều vấn đề mới lạ của cuộc sống mà con ngƣời không tìm đến đƣợc nên
mƣợn các câu chuyện truyền kỳ nhằm thể hiện ƣớc mơ và quan điểm của mình. Đã
có một số nhà nghiên cứu đã đi vào tìm hiểu các tác tập truyện của tiểu thuyết
truyền kỳ ở những phƣơng diện khác nhau. Nên cùng với việc tham khảo các công
trình nghiên cứu đó ngƣời viết thấy đƣợc sự phong phú về nội dung, đa dạng về
nghệ thuật mà các nhà nghiên cứu trƣớc đã chỉ ra từ các tác phẩm truyền kỳ, từ đó
ngƣời viết có thêm nguồn tƣ liệu để tiếp tục nghiên cứu hoàn thành đề tài của mình.
Chọn đề tài “Nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết truyền kỳ viết bằng chữ Hán
của Việt Nam”, ngƣời viết mong góp một phần công sức để bổ sung thêm những
vấn đề mà ngƣời viết tìm ra thông qua việc tìm hiểu đề tài này, đút kết và khái quát
một số vấn đề mà các nhà nghiên cứu trƣớc đã nói đến hoặc chƣa đề cập tới.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ra đời từ rất sớm, các tập tiểu thuyết truyền kỳ chữ Hán đã có những ảnh
hƣởng sâu rộng đến nền văn học Việt Nam nhất là giai đoạn văn học trung đại.
Ngoài ra, trong lịch sử nghiên cứu và phê bình văn học thì vấn đề tìm hiểu tiểu
thuyết truyền kỳ bằng chữ Hán của Việt Nam cũng đƣợc các học giả trong và ngoài
nƣớc quan tâm.
Đối với đề tài này, ngƣời viết nhận thấy tiểu thuyết chữ Hán và nhất là thể loại
tiểu thuyết truyền kỳ là những vấn đề đã đƣợc giới nghiên cứu và các nhà phê bình
tìm hiểu và khai thác. Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu còn mang tính nhỏ
lẻ, hầu hết là những bài nghiên cứu về một tác phẩm nằm trong thể loại tiểu thuyết
truyền kỳ hoặc nhận định về một tác phẩm nào đó. Ngoài ra, trên các tạp chí nhƣ là
Tạp chí Hán Nôm, Tạp chí Văn học và trong các luận văn thạc sĩ, các bài viết của
các giáo sƣ, tiến sĩ cũng có những bài viết có đề cập đến các khía cạnh của đề tài mà
ngƣời viết nghiên cứu. Những bài viết nêu lên một cách khái quát nhận định chung
3
Tạp chí văn học số 3 với nhan đề Hành trình của nhân vật ma trong văn học Việt
4
Nam đã đƣa ra những quan niệm về hồn ma trong văn học cũng nhƣ trong đời sống
tâm linh con ngƣời thông qua một số tác phẩm thuộc thể loại truyền kỳ. Đồng thời
ông cũng nhận định: “Ma quỷ thần quái là nét đặc trưng cơ bản của truyền kỳ trung
đại. Nếu xếp các truyện Truyền kỳ mạn lục, Thánh Tông di thảo, Lan trì kiến văn
lục, Vân nang tiểu sử, Truyền kỳ tân phả…cạnh nhau, người ta sẽ không khỏi ngạc
nhiên trước một thế giới ma phong phú, nhiều màu vẻ”.[26, tr. 15]
Đây là các nhận định của một số nhà nghiên cứu về thể loại tiểu thuyết
truyền kỳ. Liên quan đến các tác phẩm ngƣời viết tìm hiểu trong đề tài này thì còn
có một số các bài viết, nhận định của các nhà nghiên cứu về các tác phẩm cụ thể mà
ngƣời viết có đề cập đến trong đề tài của mình.
Truyền kỳ mạn lục - một tác phẩm đặt nền móng cho truyện truyền kỳ Việt
Nam có một số công trình nghiên cứu đáng chú ý nhƣ:
Công trình nghiên cứu đầu tiên là bài nghiên cứu của Bùi Duy Tân có tựa đề
Truyền kỳ mạn lục, một thành tựu của truyện ký văn học viết bằng chữ Hán đƣợc in
trong quyển Văn học Việt Nam (thế kỷ thứ X nửa đầu thế kỷ thứ XVIII) đã đánh giá:
“Truyền kỳ mạn lục là một tác phẩm có giá trị. Giá trị ấy chủ yếu là ở sức mạnh
tố cáo những tệ lậu của chế độ phong kiến, ở sự tin tưởng vào phẩm giá con người
và ở tấm lòng thông cảm với nỗi đau khổ và niềm mơ ước của nhân dân. Giá trị ấy
lại còn là ở những thành tựu của thể loại tự sự nói riêng, của văn học dân tộc viết
bằng chữ Hán.”[16, tr. 273]
Trong cuốn Lịch sử văn học Việt Nam (1980), các nhà nghiên cứu đã đánh
giá: “Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ được nhiều tác gia ngày xưa ca ngợi là
“thiên cổ kỳ bút”, “thiên cổ kỳ thư”. Xét cho kỹ thì Truyền kỳ mạn lục quả là một
thành công xuất sắc, một cái mốc quan trọng trên con đường phát triển của thể loại
tự sự trong văn học.”[28, tr. 270]
tiểu thuyết truyền kỳ mà ngƣời viết có đề cập đến sau:
Tập Thánh Tông di thảo của Lê Thánh Tông đƣợc Nguyễn Sĩ Cần và Hoàng
Ngọc Trí đề cập đến trong quyển Văn học Việt Nam (Từ thế kỷ X đến giữa thế kỷ
XVIII) là: “Riêng truyện văn xuôi chữ Hán, tập Thánh Tông di thảo tương truyền
của ông nhưng vì là “di thảo” do người đời sau sưu tập, sắp xếp nên có thể lẫn lộn
một số truyện của người khác nên giới nghiên cứu sử dụng rất dè dặt, sợ nhầm
truyện người khác hoặc là truyện của nhà vua mà do người đời sau ghi chép lại có
sửa chữa cho hiện đại hơn.”[16, tr. 447]
Bên cạnh những tác phẩm kể trên thì tiểu thuyết truyền kỳ Việt Nam còn có sự
đóng góp vô cùng quan trọng của một văn tài là Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm với
tập truyện Truyền kỳ tân phả, tập truyện đƣợc giới nghiên cứu đƣơng thời đánh giá
6
cao và có giá trị mãi đến ngày nay. Không chỉ có đóng góp trong nền thơ văn chữ
Nôm với Chinh phụ ngâm mà bà còn có tác phẩm bằng chữ Hán là tập truyện
Truyền kỳ tân phả, đây là tập truyện đƣợc nhiều nhà nghiên cứu chú ý đến tuy nhiên
các công trình nghiên cứu chỉ tập trung vào nội dung của tác phẩm chƣa nói nhiều
đến giá trị của tác phẩm so với nền văn học chữ Hán nói chung và thể loại tiểu
thuyết truyền kỳ nói riêng. Trong quyển Tổng tập văn học Việt Nam đã đề cập đến
nội dung của tập truyện này: “Truyền kỳ tân phả là tập truyện có chủ đề nhất quán
ca ngợi tình yêu và đề cao đạo đức, tài năng của người phụ nữ. Chủ đề tư tưởng
như vậy đã làm cho tác phẩm này mang ý nghĩa xã hội đậm nét. Đây là thành công
căn bản của tập truyện”[24, tr. 454]
Luận văn thạc sĩ của Lê Thị Mỹ Xuyên Tìm hiểu Truyền kỳ tân phả của Đoàn
thị Điểm đã rút ra nội dung chính của tác phẩm là ca ngợi nhân vật ngƣời phụ nữ
với những phẩm chất tiêu biểu nhƣ chung thủy, hi sinh, chịu đựng và đặc biệt là tài
năng. Qua đó phản ánh hiện thực xã hội phong kiến đƣơng thời mà ngƣời phụ nữ
phải gánh chịu đồng thời thể hiện ƣớc mơ về hạnh phúc cá nhân của con ngƣời nhất
Phạm vi nghiên cứu của một đề tài đóng một vai trò không kém quan trọng
đến việc thành công của một công trình nghiên cứu. Việc xác định và giới hạn đúng
phạm vi nghiên cứu sẽ giúp ngƣời viết tránh sự lang man dài dòng, không đi đúng
vào nội dung của đề tài cần nghiên cứu. Với đề tài Nội dung và nghệ thuật tiểu
thuyết truyền kỳ viết bằng chữ Hán của Việt Nam ngƣời viết tập trung tìm hiểu về
nội dung và nghệ thuật qua một số tiểu thuyết truyền kỳ tiêu biểu nhƣ :Truyền kỳ
mạn lục 傳奇漫錄 của Nguyễn Dữ 阮嶼, Truyền kỳ tân phả 傳奇新譜 của Đoàn
Thị Điểm 团氏點, Thánh Tông di thảo 聖宗遺草 của Lê Thánh Tông 黎聖宗 .
Nguồn tƣ liệu để ngƣời viết làm cơ sở văn bản của tác phẩm là quyển Tổng tập tiểu
thuyết chữ Hán Việt Nam gồm 4 tập do Trần Nghĩa dịch và Viện nghiên cứu Hán
Nôm phát hành. Tuy nhiên do hạn chế về kến thức chữ Hán và không tiếp cận đƣợc
với nguyên văn bản gốc của các tác phẩm nên ngƣời viết chỉ khảo sát tìm hiểu dựa
trên bản dịch phổ biến nhất hiện nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Mỗi thể loại văn học có những đặc trƣng khác nhau nên góp phần vào sự
thành công của đề tài nghiên cứu là có đƣợc phƣơng pháp nghiên cứu phù hợp với
đề tài và thể loại văn học đó. Vì vậy, với đề tài “Nội dung và nghệ thuật tiểu
thuyết truyền kỳ viết bằng chữ Hán của Việt Nam” này ngƣời viết sử dụng những
phƣơng pháp cụ thể sau:
8
Phƣơng pháp so sánh – đối chiếu: đây là một phƣơng pháp quan trọng trong
suốt quá trình nghiên cứu đề tài. Bằng việc so sánh đối chiếu các tác phẩm giúp
ngƣời viết đi sâu tìm hiểu từng khía cạnh của vấn đề.
Phƣơng pháp phân tích - tổng hợp: đây là một phƣơng pháp không kém phần
quan trọng. Dựa vào một số nhận xét đánh giá của các nhà phê bình, nghiên cứu và
phân tích trên văn bản tác phẩm mà ngƣời viết đƣa ra những nhận xét đánh giá của
mình để bài viết mang tính khoa học và thuyết phục hơn.
thuyết. Có thể thấy rằng, thể loại tiểu thuyết dần đƣợc con ngƣời tiếp nhận và có
bƣớc phát triển qua từng thời kỳ. Mầm mống tiểu thuyết ở Trung Quốc xuất hiện
khá sớm dƣới dạng “chí quái”, “chí nhân” ghi chép những chuyện quái dị. Ngƣời
Trung Quốc xƣa chia tiểu thuyết thành ba loại là: đoản thiên tiểu thuyết, trung thiên
tiểu thuyết và trƣờng thiên tiểu thuyết. Đây là ba loại tiểu thuyết cổ điển Trung
Quốc đã có quá trình hình thành và phát triển qua nhiều giai đoạn. Quan niệm tiểu
thuyết của Trung Quốc có ảnh hƣởng không chỉ đến Việt Nam mà còn đến các
quốc gia ở Đông Nam Á nhƣ Nhật Bản, Triều Tiên.
Trong giai đoạn sơ khai của thể loại tiểu thuyết Việt Nam, ta đã có một số
truyện ngắn viết bằng văn xuôi chữ Hán có thể xem đó là tiểu thuyết nhƣ Lĩnh nam
10
chích quái, Việt điện u linh, Thượng kinh ký sự, Hoàng Lê nhất thống chí. Đó là
những câu chuyện văn xuôi viết về những nhân vật là anh hùng, liệt nữ, những con
ngƣời có tài đức phi thƣờng nhằm mục đích giáo huấn đạo đức con ngƣời. Theo
thời gian tiểu thuyết ngày càng có giá trị và dần phát triển thành một thể loại văn
học. Nƣớc ta kế thừa thể loại tiểu thuyết từ đó và dần xác định đƣợc thể loại riêng
của dân tộc. Đến ngày nay thì tiểu thuyết đƣợc hiểu là một thuật ngữ chỉ thể loại
tác phẩm tự sự, trong đó sự trần thuật tập trung vào số phận một cá nhân trong quá
trình hình thành và phát triển của nó. Biêlinxki gọi tiểu thuyết là “sử thi của đời
tư” [7, tr. 1716]. Giáo sƣ Trần Đình Sử quan niệm “Tiểu thuyết là hình thức tự sự
cỡ lớn đặc biệt phổ biến trong thời cận đại và hiện đại. Với những giới hạn rộng
rãi trong hình thức trần thuật, tiểu thuyết có thể chứa đựng lịch sử của nhiều cuộc
đời, những bức tranh phong tục đạo đức xã hội, miêu tả cụ thể các điều kiện sinh
hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều
thể loại tiểu thuyết chiếm địa vị trung tâm trong hệ thống thể loại văn học hiện
đại” [10, tr. 225]. Thể loại tiểu thuyết đƣợc hình thành qua một quá trình vận động
lâu dài. Và trên cơ sở tổng hợp nhiều quan niệm về tiểu thuyết khác nhau, để phù
tiếp thu nhiều từ tiểu thuyết chí quái, truyền kỳ và chƣơng hồi của Trung Quốc.
Bên cạnh các ảnh hƣởng về nhiều mặt và sâu sắc của Trung Quốc, tiểu thuyết chữ
Hán Việt Nam còn vay mƣợn các đề tài, cốt truyện và các môtíp. Nếu một tác
phẩm ra đời đƣợc phần đông con ngƣời quan tâm coi nhƣ chuẩn mực cho một thể
loại nào đó thì tác phẩm ấy sẽ trở thành đối tƣợng để ngƣời sau bắt chƣớc, học tập.
Nhƣ trong quyển Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam của Trần Nghĩa có đề cập
một số tác phẩm đƣợc mô phỏng từ các tác phẩm trƣớc đó, ngƣời viết trích dẫn một
số tác phẩm sau: “sau khi Công dư nghiệp ký, đỉnh cao của tiểu thuyết bút ký ra
đời, liền có Công dư nghiệp ký tục biên, Công dư nghiệp ký bổ di…; sau khi Lĩnh
Nam chích quái, đỉnh cao của tiểu thuyết chí quái ra đời, liền có Lĩnh nam chích
quái tăng bổ, Lĩnh Nam chích quái tục bổ…; sau khi Truyền kỳ mạn lục, đỉnh cao
của tiểu thuyết truyền kỳ ra đời, liền có Truyền kỳ tân phả, Tân truyền kỳ lục…; và
sau Hoàng Lê nhất thống chí, đỉnh cao của tiểu thuyết lịch sử ra đời, lần lược có
Hoàng Việt long hưng chí, Việt Lam xuân thu…”[14, tr. 22]
Vì thế sự tiếp thu và phát triển là điều tất yếu trong mỗi thể loại văn chƣơng,
nhƣng trong đó sự tiếp thu có thể đến độ bão hòa thì các tác giả đời sau lại khai
thác những đề tài nhỏ hơn trong tác phẩm chuẩn mực đó. Nhƣ vậy, thể loại tiểu
thuyết của Việt Nam luôn tồn phát triển và dần theo thời gian thì càng có nhiều đề
tài, và số lƣợng trở nên phong phú và đa dạng hơn.
12
1.1.3. Phân loại tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam
Theo nhƣ ghi nhận của Trần Nghĩa trong quyển Tổng tập tiểu thuyết chữ
Hán Việt Nam thì tiểu thuyết chữ Hán đƣợc chia làm các loại sau:
Tiểu thuyết bút ký (小說筆記)
Tiểu thuyết bút ký hay còn gọi là tiểu thuyết “chí nhân”, gồm những mẫu chuyện
ngắn, những “di văn dật sự” liên quan đến các anh hung dân tộc, các danh nhân
cái thiện đƣợc chiến thắng, cái các bị đẩy lùi. Bút pháp của thể loại tiểu thuyết này
có thể là “thực”, cũng có thể là “hƣ”, hoặc là “thực” và “hƣ” kết hợp.
Tiểu thuyết diễm tình (小說豔情)
Tiểu thuyết diễm tình hay còn gọi là truyện “tài tử giai nhân”. Nội dung viết về trai
tài gái sắc, bút pháp sử dụng chủ yếu ở đây là hƣ cấu.
Tiểu thuyết du ký (小說遊記)
Tiểu thuyết du ký kể lại những điều tai nghe mắt thấy trong một chuyến đi, cùng
những tƣ tƣởng tình cảm nảy sinh của tác giả. Bút pháp sử dụng chủ yếu là “thực
lục”, nhƣng vẫn có sự sắp xếp cần thiết.
1.2.
Tìm hiểu tiểu thuyết truyền kỳ
1.2.1. Khái niệm truyền kỳ
Tiểu thuyết truyền kỳ là một hình thức văn xuôi tự sự cổ điển Trung Quốc
thƣờng đƣợc gọi là văn ngôn đoản thiên tiểu thuyết, vốn bắt nguồn từ truyện kể dân
gian, sau đƣợc các nhà văn nâng lên thành văn chƣơng bác học, sử dụng những
môtíp kỳ quái hoang đƣờng lồng trong một cốt truyện có ý nghĩa trần thế, nhằm gợi
hứng thú cho ngƣời đọc. Truyền kỳ là một thể loại xuất hiện khá sớm ở Trung
Quốc và dần dần phát triển mạnh mẽ ảnh hƣởng đến các nƣớc khác trong đó có
Việt Nam. Truyền kỳ có thể hiểu bằng nhiều cách khác nhau, có khi đƣợc hiểu theo
tính chất câu chuyện, khi thì dựa vào đặc điểm thể loại ở một thời kỳ nào đó nhất
định. Truyền kỳ (傳奇)có nghĩa là ý chuộng cái lạ, đặc điểm của truyền kỳ là
chứa đựng nhiều thể có thể nhận thấy tài viết sử, làm thơ, tài nghị luận trong tác
phẩm truyền kỳ. Theo Trần Đình Sử thì “truyền kỳ” bao hàm hai ý nghĩa: “Một là
có ý chuộng lạ (hiếu kỳ), như Hồ Ứng Lân đời Minh nói, kể những việc khác
Ở Việt Nam, khi nói đến thể loại truyền kỳ thì hầu hết các nhà nghiên cứu
đều có chung nhận định rằng đây là thể loại có nguồn gốc từ Trung Quốc. Nhƣng
trong cách phân chia thể loại văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam thì ngƣời Việt có
sự phân chia không giống nhau và có quá trình phát triển riêng. Quá trình phát triển
riêng đó xuất phát từ nền văn hóa và sự vận động của nền văn học dân tộc làm cho
tiểu thuyết truyền kỳ của Việt Nam có sự khác biệt so với các nƣớc trong khu vực
mặc dù vẫn tiếp thu, ảnh hƣởng và hòa vào dòng chảy của thể loại truyền kỳ trong
khu vực. Truyện truyền kỳ Việt Nam ra đời sau và chịu ảnh hƣởng sâu sắc của
truyền kỳ Trung Quốc nên dễ dàng nhận thấy nó mang những đặc điểm của truyền
kỳ Trung Quốc và cả đặc điểm của thể loại truyền kỳ trong khu vực. Nói truyện
truyền kỳ Việt Nam tiếp thu truyện truyền kỳ Trung Quốc là vì truyền kỳ Việt Nam
cũng bắt đầu từ u linh, chí quái rồi mới phát triển đỉnh cao thành truyện truyền kỳ.
15
Truyện truyền kỳ Việt Nam là một bộ phận gắn liền với truyện ngắn trung
đại Việt Nam, là một bộ phận góp phần làm phong phú thêm thể loại truyện ngắn
trung đại. Vì vậy, khi đề cập đến các giai đoạn phát triển của thể loại truyền kỳ thì
ngƣời viết đã dựa theo tiến trình phát triển của truyện ngắn trung đại để phân chia
giai đoạn phát triển cho thể loại truyền kỳ. Tiếp nhận ý kiến nghiên cứu của phó
Giáo sƣ Tiến sĩ Nguyễn Đăng Na thì truyện ngắn trung đại Việt Nam phát triển qua
bốn giai đoạn khác nhau để có quá trình phát triển riêng.
Giai đoạn thứ nhất từ thế kỷ thứ X – XIV là giai đoạn đặt nền móng khởi
đầu cho bƣớc phát triển đầu tiên của truyện ngắn trung đại. Giai đoạn này vẫn còn
chịu ảnh hƣởng mạnh mẽ của văn học dân gian từ nội dung đến hình thức. Vẫn còn
xuất hiện các mô-típ dân gian nhƣ “thụ thai thần kỳ”, “xuống thủy phủ”, “lên trời”,
“diệt yêu quái”. Nội dung chủ yếu là khẳng định một quốc gia độc lập, có nền văn
hiến riêng, có lịch sử lâu đời, đâu đâu cũng có anh tài nhân kiệt.
Giai đoạn thứ hai từ thế kỷ XV – XVII là giai đoạn thể hiện sự phát triển rực
truyền kỳ giai đoạn này về mặt nghệ thuật đây là một bƣớc thục lùi bởi lẽ khi viết
về những điều mắt thấy tai nghe ngoài đời càng thực bao nhiêu thì sự huyền ảo đặc
trƣng của truyền kỳ không còn nữa. Truyện truyền kỳ giai đoạn này rơi vào sự
khủng hoảng. Các tác giả đã chuyển sang sáng tác các truyện ngƣời thật việc thật
hoặc truyền kỳ về ngƣời thật việc thật và truyện ngụ ngôn để đƣa loại hình truyện
ngắn giai đoạn này ra khỏi ngõ cụt.
Giai đoạn cuối là giai đoạn chuyển giao giữa văn xuôi trung đại và văn xuôi
cận – hiện đại.
Qua bốn chặng đƣờng phát triển, văn xuôi Việt Nam trung đại dần chuyển
sang chủ nghĩa hiện thực đặc biệt là sự tích hợp của kí và tiểu thuyết chƣơng hồi.
Tuy nhiên ở thể loại truyền kỳ do không đáp ứng đƣợc nhu cầu của thời đại vì vậy
thể loại này dần mất đi những đặc trƣng của truyền kỳ, có thể thể loại truyền kỳ sẽ
tồn tại dƣới hình thức khác ở thời hiện đại.
Có thể thấy,tiểu thuyết truyền kỳ văn học trung đại phát triển rực rỡ ở thế kỷ
XV – XVII với những tác phẩm để lại tiếng vang và những đặc điểm đặc trƣng của
truyền kỳ đƣợc các tác giả khác họa một cách rõ nét. Nhƣng đến thế kỷ XVII –
XIX thì tiểu thuyết truyền kỳ rơi vào tình trạng khủng hoảng và xuống dốc. Các tác
phẩm không còn đáp ứng đƣợc nhu cầu của thời đại, xu hƣớng hiện thực hóa dẫn
đến các tác phẩm truyền kỳ không còn thể hiện đƣợc những “bản sắc” riêng của nó.
Từ đó, các thể loại khác dần thay thế vai trò của truyền kỳ ở giai đoạn văn học thời
hiện đại.
17
1.3.
Vấn đề văn bản và tác giả trong tiểu thuyết truyền kỳ viết bằng
chữ Hán
18
ánh số phận con ngƣời chủ yếu là ngƣời phụ nữ. Tác phẩm nói lên một cách sâu
sắc khát vọng chân chính của ngƣời phụ nữ và những bi kịch mà ngƣời phụ nữ phải
gánh chịu nhƣ bi kịch tình yêu, bi kịch gia đình, bi kịch bị chà đạp về nhân phẩm.
Qua những số phận, những bi kịch ấy có thể thấy đƣợc chính cái thế lực xã hội
cƣờng quyền và thần quyền là nguyên nhân chính. Tác phẩm cũng là những mâu
thuẩn phức tạp trong tƣ tƣởng của chính nhà văn vừa bảo thủ vừa nhân đạo.Về
nghệ thuật đây là một tác phẩm đánh dấu bƣớc phát triển mới trong văn xuôi tự sự
chữ Hán Việt Nam. Truyền kỳ mạn lục đã đạt đƣợc những thành tựu nghệ thuật nổi
bật ở các phƣơng diện nhƣ: xây dựng tình tiết, kết cấu câu truyện, xây dựng nhân
vật phong phú, sự kết hợp giữa các yếu tố thực và ảo làm cho tác phẩm lãng mạn,
trữ tình, tăng sức hấp dẫn và mang một ý nghĩa xã hội sâu sắc. Truyền kỳ mạn lục
đƣợc ngƣời đời tôn vinh là “Thiên cổ kỳ bút” là “áng văn hay của bậc đại
gia”.[11, tr. 389]
Truyền kỳ tân phả 傳奇新譜 của Đoàn Thị Điểm là tác phẩm viết bằng văn
xuôi chữ Hán gồm 6 truyện. Tập truyện hiện có nhiều bản in và chép tay đƣợc lƣu
giữ tại Thƣ viện Viện nghiên cứu Hán Nôm. Một số nhà nghiên cứu cho rằng
Truyền kỳ tân phả có tên gọi là Tục truyền kỳ gồm 6 truyện: Bích Câu kỳ ngộ, Hải
khẩu linh từ lục, Vân Cát thần nữ, Hoành Sơn tiên cục, An Ấp liệt nữ và Nghĩa
khuyển khuất miêu.
Các truyện đều mang tính huyền thoại, hoang đƣờng nhƣng các truyện đều có
nguồn gốc từ các bản thần tích, thần phả hay các truyền thuyết dân gian, mƣợn các
yếu tố thần linh ma quái để qua đó gửi gắm thái độ của mình đối với hiện thực cuộc
sống. Với tập truyện Truyền kỳ Tân phả Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm đã đề cập
sâu sắc đến vai trò của ngƣời phụ nữ trong đời sống gia đình và xã hội. Trong
Truyền kỳ tân phả tác giả đã thể hiện một cái nhìn mới về khát vọng tình yêu và
hạnh phúc lứa đôi, cuộc sống ở cõi trần quá ngắn ngủi vì thế con ngƣời có mong
ƣớc lên cõi tiên để tận huởng cuộc sống hạnh phúc vĩnh hằng và phản ánh đúng
Lê Thánh Tông sáng tác cả văn thơ chữ Nôm và chữ Hán:
Về chữ Nôm, Thập giới cô hồn quốc ngữ văn viết theo thể biền ngẫu, gồm
đoạn mở đầu và 10 đoạn răn 10 loại cô hồn (thiền tăng, đọa sĩ, quan liêu, nho sĩ,
tƣớng quân, lƣơng y, thiên văn địa lý, hoa nƣơng, thƣơng cổ, đãng tử), thể hiện
khuynh hƣớng chính thống của nhà nƣớc phong kiến đối với 10 hạng ngƣời của xã
hội với mục đích giáo huấn ngƣời sống.
Về chữ Hán, Lê Thánh Tông có một số tập tập truyện nhƣ: Liệt truyện tạp
chí ghi chép những ý hay tứ lạ khi đọc sự tích, danh ngôn Trung Quốc, rút ra
những bài học về tu dƣỡng đạo đức. Tác phẩm thể hiện khá rõ tƣ tƣởng sùng Nho
20
của tác giả, đồng thời cũng cho thấy sự dung hòa Nho – Phật – Đạo ở những mặt
có lợi cho việc giáo dục tƣ tƣởng và đạo đức phong kiến; Lam Sơn Lương thủy
phú viết về ngọn núi, dòng sông ở nơi căn cứ địa khởi nghĩa Lam Sơn, ca ngợi sự
nghiệp khai quốc của Lê Thái Tổ, miêu tả khí thế hào hùng của non song kỳ vĩ và
cuộc kháng chiến chống quân Minh thần thánh.
Nguyễn Dữ với tập truyện Truyền kỳ mạn lục (傳奇熳錄). Theo sự biên soạn
của Lã Nhâm Thình thì nhà văn Nguyễn Dữ sống vào khoảng thế kỷ thứ XVI. Ông
là ngƣời làng Đỗ Tùng, Gia Phúc, Hồng Châu (nay là tỉnh Hải Dƣơng). Nguyễn Dữ
là con cả của tiến sĩ khoa Bính Thìn niên hiệu Hồng Đức thứ 27 (1496) Nguyễn
Tƣờng Phiêu từng giữ chức Thƣợng thƣ. Nguyễn Dữ từ nhỏ đã ham học, học rộng
nhớ nhiều muốn theo nghiệp văn chƣơng. Ông từng thi đỗ Hƣơng tiến, nhiều lần
thi Hội đỗ Tam trƣờng, sau làm tri huyện huyện Thanh Tuyền. Ông làm quan đƣợc
một năm thì lấy cớ xa nhà xin từ chức để về hầu cha mẹ. Sau khi nhà Mạc cƣớp
ngôi, ông ở quê dạy học. Ông viết Truyền kỳ mạn lục để gửi gắm tâm sự của mình
trƣớc những biến động của thời cuộc và sự xuống cấp về đạo đức xã hội lúc bấy
giờ. Theo tƣ liệu của các nhà nghiên cứu trƣớc cho biết, Nguyễn Dữ còn để lại duy
nhất một tập tiểu thuyết bằng chữ Hán là Truyền kỳ mạn lục. Gồm 20 truyện, chủ
Các tác giả của tiểu thuyết truyền kỳ xuất thân từ nhiều tầng lớp giai cấp
khác nhau vì vậy nội dung phản ánh ở nhiều góc độ và có cái nhìn khác nhau. Thể
loại tiểu thuyết truyền kỳ viết bằng chữ Hán cũng đƣợc ngƣời đọc tiếp nhận ở nhiều
khía cạnh.
Khi ra đời, các tác phẩm tiểu thuyết truyền kỳ chủ yếu phản ánh về hiện
thực, về con ngƣời với nhiều phƣơng diện. Điều khó khăn trong vấn đề tiếp nhận
tiểu thuyết chữ Hán giai đoạn này là tƣ tƣởng của con ngƣời còn bó hẹp trong lễ
giáo. Con ngƣời trung đại vẫn còn chịu ảnh hƣởng rất lớn của tƣ tƣởng phong kiến,
Nho gia xƣa cũ. Những đổi mới về mặt tƣ duy nhận thức chƣa đƣợc con ngƣời tiếp
nhận, và một số còn bị loại trừ. Những tiểu thuyết truyền kỳ đầu tiên ra đời chƣa
đƣợc tiếp nhận nhiều mà bị xếp vào dạng văn học không chính thống bởi còn vay
mƣợn nhiều cốt truyện và những motip của văn học dân gian. Lực lƣợng đọc và
hiểu đƣợc thể loại này phần nhiều là nho sinh, quan lại, vua chúa, còn những ngƣời
thƣờng dân hầu nhƣ chƣa với tới thể loại này cho nên có thể nhận định rằng vào giai
đoạn manh nha ban đầu thể loại này chƣa đƣợc phổ biến rộng rãi.
Phản ánh hiện thực là một trong những nội dung quan trọng của nền văn học
giai đoạn này. Con ngƣời có thể nhìn thấy số phận của mình xuất hiện trong những
tác phẩm văn học và thể loại tiểu thuyết chữ Hán đã làm đƣợc điều đó một cách
xuất sắc, đã khắc hoạ một cách rõ nét những số phận đau khổ trong cuộc sống. Với
dung lƣợng dài, các tác giả có thể thể hiện một cách rõ ràng hơn những số phận,
22
những con ngƣời ấy và đồng thời bằng việc sử dụng hình thức chữ Hán – một lối
chữ viết xuất hiện rất sớm ở nƣớc ta từ những thiên niên kỷ thứ nhất trƣớc công
nguyên đƣợc sử dụng phổ biến giai đoạn lúc bấy giờ. Đến thế kỷ XI chữ Hán vẫn
còn đƣợc sử dụng rộng rãi và đó còn là một phƣơng tiện ghi chép, giao tiếp, giao
lƣu kinh tế và là một phƣơng tiện để phát triển văn hóa dân tộc quan trọng của
ngƣời Việt xƣa. Từ đó, các tác giả truyền kỳ đã chọn chữ Hán làm ngôn ngữ chính
thấy dù ngƣời phụ nữ có tài đến đâu khi tồn tại trong xã hội phong kiến thì cái tài đó
cũng sẽ bị vùi lấp theo những lễ giáo đã đƣợc định sẵn. So với con ngƣời hiện đại,
nhất là đối với ngƣời phụ nữ thì ngày nay phụ nữ có đƣợc quyền làm chủ mình,
đƣợc quyền thể hiện bản thân và tìm hạnh phúc cho mình, cái nhìn của phụ nữ ngày
nay cũng có phần thoáng hơn vì thế một số vấn đề phản ánh trong các tác phẩm
truyền kỳ lúc bấy giờ đối với ngày nay không còn phù hợp. Dƣới góc nhìn hiện đại,
một số quan niệm xƣa cũ không còn đạt đƣợc giá trị nhƣ trƣớc đó.
Vì vậy có thể thấy rằng, tiếp nhận thể loại tiểu thuyết chữ Hán nhất là đối với
tiểu thuyết truyền kỳ có những thuận lợi và khó khăn riêng. Điều quan trọng là việc
các tác giả truyền tải nội dung nhƣ thế nào để ngƣời đọc tiếp nhận dễ dàng, đạt
đƣợc những thành công nhất định và thể loại tiểu thuyết truyền kỳ giai đoạn này đã
làm đƣợc điều đó.
24
Chƣơng 2. NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC TIỂU THUYẾT
TRUYỀN KỲ CHỮ HÁN VIỆT NAM
2.1. Nội dung tiểu thuyết truyền kỳ Việt Nam
2.1.1. Phản ánh hiện thực xã hội
Tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam sƣu tầm ghi chép những tập tiểu thuyết ra đời
từ những năm thế kỷ XVI đến những năm đầu thế kỷ XIX, ghi chép lại những sự
kiện lịch sử quan trọng của một thời đại, một quốc gia, dân tộc hay của một tên tuổi
nào đó dựa vào chứng sử và sự hƣ cấu của tác giả. Các thể loại văn học đều muốn
truyền tải một nội dung, một tƣ tƣởng nào đó thông qua tác phẩm và nhất là nội
dung phản ánh một vấn đề nào đó của xã hội, của con ngƣời và cả của thế giới thần
linh.
Tiểu thuyết truyền kỳ mang những nội dung vô cùng phong phú và giá trị sâu
sắc, phản ánh nhiều mặt của hiện thực xã hội và là một bức tranh thu nhỏ của xã
hội đƣơng thời. Hiện thực xã hội của giai đoạn lịch sử này là phản ánh sự tranh