LỜI MỞ ĐẦU
Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu nhằm phục vụ nền kinh tế trong
nước phát triển trên cơ sở khai thác và sử dụng có hiệu quả các tiềm năng và thế
mạnh lao động, đất đai và các tài nguyên khác của nền kinh tế nước ta, giải
quyết công ăn việc làm cho nhân dân lao động, đổi mới trang thiết bị kỹ thuật và
quy trình công nghệ sản xuất, thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá đất
nước, đáp ứng các yêu cầu cơ bản và cấp bách về sản xuất và đời sống, góp phần
điều hoà cung cầu để ổn định thị trường trong nước .
Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu được tiến hành theo nguyên tắc
hoạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền tự chủ và tự chụi trách
nhiệm trong kinh doanh của tất cả các tổ chức kinh tế tham gia kinh doanh xuất
nhập khẩu. Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, cũng như các doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh khác của nhà nước có quyền tự chủ về tài chính, chủ động trong
kinh doanh, tự hoàn vốn bằng tiền Việt Nam và hàng ngoại tệ, tự chịu trách
nhiệm về kết qủa và hiệu quả kinh doanh, hoàn thành nghĩa vụ với Nhà nước.
Vì điều kiện trang bài viết có hạn và để có thể đi sâu vào phân tích nội
dung của đề tài. Nên em xin được giới hạn nội dung vận tải hàng hoá xuất nhập
khẩu bằng đường biển .
Em xin chân thành cảm ơn thầy, cô giáo đã giúp đỡ để em hoàn thành tốt
bài tiểu luận này.
1
CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM CHUNG VỀ VẬN TẢI VÀ KINH DOANH
THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
1.1. Khái niệm chung về vận tải
1.1.1. Khái niệm vận tải:
Vận tải là một hoạt động kinh tế có mục đích của con người nhằm đấp
ứng nhu cầu di chuyển vị trí của đối tượng vận chuyển. Đối tượng vận chuyển
gồm con người và vật phẩm (hàng hoá).Sự di chuyển vị trí trong không gian rất
phong phú, đa dạng và không phải mọi di chuyển đều là vận tải. Vận tải chỉ bao
gồm những di chuyển do con người tạo ra nhằm mục đích kinh tế( lợi nhuận) để
đáp ứng nhu cầu vận chuyển đó mà thôi.
kinh tế quốc dân của mỗi nước. Hệ thống vận tải được ví như mạch máu trong
cơ thể con người, nó phản ánh trình độ phát triển của mỗi nước . Vận tải phục vụ
tất cả các lĩnh vực đời xã hội : sản xuất, lưu thông, tiêu dùng, quốc phòng. Trong
sản xuất , ngành vận tải chuyển nguyên , nhiên vật liệu, bán thành phẩm, thành
phẩm, lao động để phục vụ cho quá trình sản xuất, vận tải là yếu tố quan trọng
của lưu thông.
* Tác dụng của vận tải đối với nền kinh tế quốc dân thể hiện trên những
mặt sau:
+ Ngành vận tải sáng tạo ra một phần đáng kể tổng sản phẩm xã hội và
thu nhập quốc dân.
+ Vận tải đáp ứng nhu cầu vận chuyển ngày càng tăng của hàng hoá và
hành khách trong xã hội.
+ Vận tải góp phần khắc phục sự phát triển không đều giũă các địa
phương mở rộng giao lưu , trao đổi hàng hoá trong một nước và quốc tế.
+ Rút ngắn khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và
miền núi, góp phần cải thiện đời sống nhân dân.
+ Mở rộng quan hệ với nước ngoài.
+ Tăng cường khả năng quốc phòng và bảo vệ đất nước.
1.2. Mối quan hệ giữa vận tải và kinh doanh thương mại quốc tế
1.2.1. Mối quan hệ giữa vận tảI và kinh doanh thương mại quốc tế.
3
Vận tải, đặc biệt là vận tải quốc tế ( là việc chuyên chở hàng hoá trên
lãnh thổ của ít nhất 2 nước) và kinh doanh thương mại quốc tế có mối quan hệ
chặt chẽ, khăng khít với nhau, có tác dụng thúc đẩy nhau cùng phát triển. Vận
tải quốc tế là tiền đề, là diều kiện tiên quyết để buôn bán quốc tế ra đời và phát
triển. Lê Nin nói “ vận tải là phương tiện vật chất của mối liên hệ kinh tế với
nước ngoài”. Khi hoạt động kinh doanh thương mại phát triển lại tạo ra yêu cầu
để thúc đẩy vận tải phát triển. Vận tải phát triển là cho giá thành vận chuyển hạ,
tạo điều kiện để nhiều mặt hàng có giá trị thấp có thể tham gia kinh doanh
thương mại quốc tế.
+ Vận tải biển phụ thuộc nhiều vào diều kiện thiên nhiên, điều kiện hàng
hải,các tàu thường gặp rất nhiều rủi ro hàng hải : mắc cạn, dắm, cháy,đâm vào
nhau, đâm phải đá ngầm, hàng tháng trên thế giới có khoảng300 tàu biển bị các
tai nạn trên, trong đó có nhiều trường hợp tổn thất toàn bộ.
+ Tốc độ của các tàu biển tương đối thấp, tốc độ của các tàu trở hàng
hiện nay khoảng 14-20 hảI lý trên giờ. Tốc độ này là thấp so với tốc độ của máy
bay , tàu hoả. Về mặt kỹ thuật, người ta có thể đóng các tàu biển có tốc độ cao
hơn nhiều. Tuy nhiên , đối với các tàu trở hàng, người ta phải duy trì một tốc dộ
kinh tế nhằm giảm giá cước vận tảỉ.
1.3.2. Vai trò.
- Đảm bảo chuyên trở khối lượng hàng hoá xuất nhập khẩu ngày càng
tăng trong thương mại quốc tế.
- Làm thay đổi cơ cấu hàng hoá và cơ cấu thị trường trong buôn bán quốc
tế.
- Vận tải quốc tế ảnh hưởng trực tiếp đến cán cân thanh toán của nước.
Vận tảI quốc tế ảnh được coi là lĩnh vực xuất nhập vô hình (Invisible trade) nó
có thể góp phần cải thiện hay làm trầm trọng thêm cán cân thanh toán của mỗi
nước.
5
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA NGHÀNH HÀNG HẢI
VIỆT NAM
2.1. Cơ sơ vật chất của nghành hàng hải.
2.1.1 Hệ thống cảng biển Việt Nam.
- Hệ thống cảng biển Việt Nam bao gồm các khu vực sau:
• Khu vực phía Bắc (từ Quảng Ninh đến NInh Bình).
Khu vực này gồm các cảng ở Quảng Ninh (Cẩm Phả, Cửa Ông, Cái
Lan, Cây xăng dầu B12), ở Hải Phòng (HảI Phòng, Thượng Lý, Hải Đăng….) ở
Thái Bình(Diêm Điền). Cảng Hải Phòng là cảng lớn nhất miền bắc, có chiều dài
cầu cảng 2576m, diện tích kho 52.052m2, hàng năm có thể xếp dỡ 5-5,5 triệu
tấn hàng hoá. Tuy nhiên cảng có luồng sa bồi rất lớn nên chỉ tiếp nhận tàu 6000-
Trong những năm qua cùng với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân,
đội tàu biêt quốc gia Việt nam dã có sự tăng trưởng đáng kể cả về lượng và chất.
Theo thống kê của Cục dăng kiểm Việt nam đầu năm 1998, đội tàu biển nước ta
đạt hơn 1 triệu tấn trọng tải tăng 1,5 lần so với nam 1995.
Quá trình hiện đại hoá đội tàu biển quốc gia còn được dánh giá bằng sự
xuất hiện của những tàu Container hiện đại, có khả năng chạy cận viễn dương.
Những tàu Container không chỉ đa dạng hoá phương thức vận chuyển hàng hoá
mà thực tế đem lại nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước, đáng dấu sự xuất
hiện diện của đội táu Container Việt nam trên thị trường vận chuyển Container
quốc tế. Về cơ cấu tổ chức doanh nghiệp những năm qua nghành hàng hải đã
sắp xếp lại cơ cấu tổ chức nhằm mục tiêu nâng cao hiệu quả sản xuất và kinh
doanh. Trong đó nghành đã chú trọng sắp xếp lại các công ty vận tải biển. Thành
quả nổi bật của công tác này là sự ra đời của Tổng công ty hàng hải Việt
Nam( VINALINES) một trong 10 tổng công ty sản xuất kinh doanh có hiệu quả
nhất của nước ta hiện nay.
Xét riêng về lĩnh vực vận tải biển, VINALINES hiện nay có 7 doanh
nghiệp đó là :
1: Công ty vận tải biển Việt Nam (VOSCO).
2: Công ty vận tải và thuê tàu biển Việt Nam ( VITRANSCHART)
7