Khoá luận tốt nghiệp 1 Học viện Ngân Hàng
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, trong điều kiện nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển, hoạt động
sản xuất kinh doanh ngày càng mở rộng và cạnh tranh là điều tất yếu đối với tất cả
các doanh nghiệp tham gia vào thị trường. Một trong các yếu tố quan trọng nhất
quyết định đến sự thành công của một doanh nghiệp, đó là họ phải tìm ra được cho
mình một phương án sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế cao nhất: thỏa mãn
được nhu cầu của nhiều đối tượng khách hàng khác nhau, đạt chỉ tiêu cao về chất
lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với ngân sách
nhà nước, cải thiện đời sống của người lao động, doanh nghiệp có lợi nhuận tích lũy
ngày càng cao, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh.
Để thực hiện tốt điều đó, đặc biệt trong tình trạng lạm phát tăng cao như hiện
nay, các doanh nghiệp xây lắp luôn cần phải tiến hành đồng bộ biện pháp quản lí
mọi yếu tố liên quan đến quá trình thi công xây dựng, từ khâu thu mua yếu tố đầu
vào ( nguyên vật liệu… ), tiến hành xây dựng, cho đến khi hoàn thành công trình,
bàn giao đưa vào sử dụng. Nguyên vật liệu là yếu tố đầu vào không thể thiếu trong
sản xuất, chi phí nguyên vật liệu thường chiếm tỉ trọng lớn ( 60% - 70% ) trong toàn
bộ chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. Sự biến động về giá cả của nguyên vật
liệu sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới sự biến động của giá thành. Hơn nữa, các công
trình XDCB hiện nay đang tổ chức theo phương thức đấu thầu, giá trị dự toán được
tính toán một cách chính xác và sát sao. Hạch toán chính xác chi phí là cơ sở để tính
đúng, tính đủ giá thành. Từ đó các doanh nghiệp sẽ có các biện pháp nhằm hạ thấp
chi phí, giá thành, nhưng vẫn đảm bảo được chất lượng sản phẩm, nâng cao các chỉ
tiêu về doanh thu, lợi nhuận và mức độ thỏa mãn của khách hàng.
Như vậy, kế toán nguyên vật liệu là một bộ phận cấu thành quan trọng trong hệ
thống các công cụ quản lí kinh tế của một doanh nghiệp. Công tác này sẽ giúp cho
các đơn vị sản xuất nói chung, và xây lắp nói riêng đảm bảo cung cấp nguyên vật
liệu kịp thời, đồng bộ trong quá trình sản xuất, kiểm tra và giám sát chính xác, chặt
chẽ việc chấp hành các định mức dự trữ, tiêu hao nguyên vật liệu, từ đó ngăn chặn
hiện tượng lãng phí nguyên vật liệu, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động, nhờ
CHƯƠNG 1: LÍ THUYẾT CHUNG VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN NGUYÊN
VẬT LIỆU TRONG NGÀNH SẢN XUẤT NÓI CHUNG VÀ NGÀNH XDCB
NÓI RIÊNG
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG THÀNH NAM
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ
TOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG THÀNH NAM
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: KTC – K12
2
2
Khoá luận tốt nghiệp 3 Học viện Ngân Hàng
CHƯƠNG 1
LÝ THUYẾT VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU
TRONG NGÀNH SẢN XUẤT NÓI CHUNG VÀ XDCB NÓI RIÊNG
1.1 Những vấn đề chung về nguyên liệu, vật liệu
1.1.1 Khái niệm NVL
Nguyên liệu, vật liệu trong doanh nghiệp là những đối tượng lao động mua
ngoài hoặc tự chế biến dùng cho mục đích sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
NVL là một bộ phận trọng yếu của tư liệu sản xuất, là TSLĐ thuộc nhóm hàng
tồn kho, được mua sắm bằng nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp.
1.1.2 Đặc điểm, vai trò của NVL trong sản xuất
* Đặc điểm:
- NVL khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh sẽ không giữ nguyên
được hình thái vật chất ban đầu.
- NVL chỉ tham gia vào một chu kì sản xuất kinh doanh.
- Giá trị của nguyên vật liệu được chuyển toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm
mới tạo ra hoặc vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kì.
* Vai trò của NVL:
Trong các doanh nghiệp sản xuất ( công nghiệp, xây dựng cơ bản ), NVL là yếu tố
quan trọng không thể thiếu, là cơ sở vật chất và điều kiện để hình thành nên sản phẩm.
với yêu cầu thi công thực tế.
Để làm tốt công tác hạch toán NVL đòi hỏi chúng ta phải quản lí chặt chẽ NVL
ở mọi khâu: từ thu mua, bảo quản đến dự trữ và sử dụng. Quản lí tốt NVL còn là
điều kiện để xác định hiệu quả kinh doanh và đánh giá tài sản của đơn vị một cách
đầy đủ, xác thực, đảm bảo tính trung thực, khách quan của các thông tin trên báo cáo
tài chính của doanh nghiệp.
1.1.4 Nhiệm vụ của kế toán NVL trong doanh nghiệp xây lắp
- Tổ chức ghi chép, phản ánh tổng hợp số liệu về tình hình thu mua, vận
chuyển, bảo quản, tình hình nhập, xuất và tồn kho vật liệu. Tính giá thành thực tế vật
liệu đã thu mua và nhập kho, kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch thu mua NVL về
các mặt: số lượng, chủng loại, giá cả, thời hạn nhằm đảm bảo cung cấp kịp thời, đầy
đủ, đúng chủng loại cho quá trình thi công xây lắp.
- Áp dụng đúng đắn các phương pháp về kỹ thuật hạch toán NVL, hướng dẫn,
kiểm tra các bộ phận, đơn vị trong doanh nghiệp thực hiện đầy đủ chế độ hạch toán
ban đầu về NVL (lập chứng từ, luân chuyển chứng từ) mở chế độ đúng phương pháp
quy định nhằm đảm bảo sử dụng thống nhất trong công tác kế toán, tạo điều kiện
thuận lợi cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo công tác kế toán trong phạm vi ngành kinh
tế và toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
- Kiểm tra việc chấp hành chế độ bảo quản, dự trữ và sử dụng NVL, ngăn ngừa,
phát hiện và đề xuất các biện pháp xử lí NVL thừa, thiếu, ứ đọng, mất phẩm chất…
Tính toán, xác định chính xác số lượng và giá trị NVL thực tế đưa vào sử dụng và đã
tiêu hao trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: KTC – K12
4
4
Khoá luận tốt nghiệp 5 Học viện Ngân Hàng
1.1.5 Các phương pháp phân loại, đánh giá NVL
1.1.5.1 Phân loại NVL
Phân loại NVL là việc phân chia, sắp xếp NVL theo từng nhóm, từng loại căn cứ
vào những tiêu thức nhất định nhằm phục vụ cho yêu cầu quản lí, sử dụng của mỗi
1.1.5.2 Đánh giá NVL
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: KTC – K12
5
5
Khoá luận tốt nghiệp 6 Học viện Ngân Hàng
Các loại NVL thuộc hàng tồn kho của doanh nghiệp, do đó về nguyên tắc đánh
giá NVL cũng phải tuân thủ nguyên tắc đánh giá hàng tồn kho.
Theo chuẩn mực kế toán 02 – Hàng tồn kho, công tác đánh giá NVL phải tuân
thủ các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc giá gốc: NVL phải được đánh giá theo giá gốc. Giá gốc, hay còn
gọi là trị giá vốn thực tế của NVL, là toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để có
được NVL tại địa điểm và trạng thái sẵn sàng sử dụng.
- Nguyên tắc thận trọng: Thực hiện nguyên tắc thận trọng bằng cách trích lập dự
phòng giảm giá hàng tồn kho. Kế toán đã ghi sổ theo giá gốc và phản ánh khoản dự
phòng giảm giá hàng tồn kho. Do đó, trên báo cáo tài chính, hàng tồn kho được trình
bày thông qua hai chỉ tiêu:
+ Trị giá vốn thực tế.
+ Dự phòng giảm giá hàng tồn kho.
- Nguyên tắc nhất quán: Theo nguyên tắc này, kế toán phải áp dụng thống nhất
một phương pháp kế toán đã chọn trong suốt niên độ kế toán.
Tuy nhiên, trong không ít doanh nghiệp, để đơn giản và giảm bớt khối lượng ghi
chép, tính toán hàng ngày, họ có thể sử dụng giá hạch toán để phản ánh tình hình
nhập xuất NVL.
Như vây, để đánh giá NVL, các doanh nghiệp thường dùng tiền để biểu hiện giá
trị của chúng. Trong công tác hạch toán ở các đơn vị sản xuất thì NVL được đánh
giá theo hai phương pháp chính:
- Đánh giá NVL theo trị giá vốn thực tế.
- Đánh giá NVL theo giá hạch toán.
a) Đánh giá NVL theo trị giá vốn thực tế
* Giá thực tế nhập kho
xuất lô hàng nào thì lấy giá thực tế của lô hàng đó ( căn cứ vào đơn giá nhập kho
theo từng lô, từng lần nhập và số lượng xuất kho theo từng lần ).
+ Ưu điểm: Đây là phương án tốt nhất, nó tuân thủ nguyên tắc phù hợp của kế
toán; chi phí thực tế phù hợp với doanh thu thực tế. Giá trị NVL tồn kho được phản
ánh đúng theo giá trị thực tế của nó.
+ Nhược điểm: điều kiện áp dụng khắt khe: chỉ phù hợp với những doanh
nghiệp có ít loại NVL, NVL có giá trị lớn và có tính tách biệt.
- Phương pháp bình quân gia quyền:
Theo phương pháp này, giá thực tế NVL xuất kho được tính căn cứ vào số lượng
NVL xuất kho và đơn giá bình quân theo công thức:
Giá thực tế NVL xuất kho = số lượng NVL xuất kho x đơn giá xuất kho bình quân
Trong đó đơn giá xuất kho có thể tính theo một trong các cách sau:
Cách 1: đơn giá bình quân cả kì dự trữ
Đơn giá bình quân cả kì =
+ Ưu điểm: đơn giản, dễ tính toán.
+ Nhược điểm: mức độ chính xác không cao. Công việc chỉ thực hiện vào cuối
kì nên ảnh hưởng đến độ chính xác và tính kịp thời của thông tin kế toán.
Cách 2: đơn giá bình quân tồn đầu kì
Đơn giá bình quân
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: KTC – K12
7
7
Khoá luận tốt nghiệp 8 Học viện Ngân Hàng
tồn đầu kì =
( cuối kì trước )
+ Ưu điểm: đơn giản, đáp ứng được yêu cầu kịp thời của thông tin kế toán.
+ Nhược điểm: kết quả có thể không chính xác vì không tính đến biến động của
giá NVL trong kì.
Cách 3: đơn giá bình quân sau mỗi lần nhập ( bình quân liên hoàn )
Đơn giá
Khoá luận tốt nghiệp 9 Học viện Ngân Hàng
Phương pháp này thích hợp khi giá NVL trên thị trường có xu hướng tăng.
b) Đánh giá NVL theo giá hạch toán
Đối với các doanh nghiệp có quy mô lớn, khối lượng, chủng loại NVL nhiều, tình
hình nhập xuất diễn ra thường xuyên; việc xác định giá thực tế của NVL hàng ngày rất
khó khăn và ngay cả trong trường hợp có thể xác định được hàng ngày đối với từng lần
nhập, đợt nhập nhưng tốn kém nhiều chi phí, không hiệu quả cho công tác kế toán, có
thể sử dụng giá hạch toán để hạch toán tình hình nhập, xuất hàng ngày.
Giá hạch toán là giá ổn định do doanh nghiệp tự xây dựng, được sử dụng thống
nhất trong doanh nghiệp, trong thời gian dài. Giá này không có tác dụng giao dịch với
bên ngoài. Như vậy, hàng ngày sử dụng giá hạch toán để ghi sổ chi tiết giá NVL xuất.
Cuối kỳ phải điều chỉnh giá hạch toán theo giá thực tế để có số liệu ghi vào sổ kế toán
tổng hợp và báo cáo kế toán. Việc điều chỉnh giá hạch toán theo giá thực tế tiến hành
như sau:
Trước hết phải tính được hệ số giữa giá thực tế và giá hạch toán của NVL luân
chuyển trong kì (H) theo công thức sau:
H =
Sau đó tính trị giá của vật tư xuất trong kì theo công thức:
Giá trị thực tế trị giá hạch hệ số giữa giá thực
của NVL xuất = toán của NVL x tế và giá hạch toán
trong kì xuất trong kì trong kì
1.2 Nội dung công tác kế toán NVL tại doanh nghiệp
1.2.1 Kế toán chi tiết NVL
NVL là một trong các đối tượng kế toán, các loại tài sản cần phải tổ chức hạch
toán chi tiết không chỉ về mặt giá trị mà cả hiện vật, không chỉ theo từng kho mà
phải chi tiết theo từng loại, nhóm, thứ…, và phải được tiến hành đồng thời cả ở kho
và phòng kế toán trên cùng cơ sở các chứng từ nhập, xuất kho. Các doanh nghiệp
phải tổ chức hệ thống chứng từ, mở các sổ kế toán chi tiết về lựa chọn, vận dụng
phương pháp kế toán chi tiết NVL cho phù hợp, nhằm tăng cường công tác quản lí
tài sản nói chung, quản lí NVL nói riêng.
hiệu quy cách, đơn vị tính, mã số vật liệu, sau đó giao cho thủ kho để hạch toán
nghiệp vụ ở kho, không phân biệt hạch toán chi tiết NVL theo phương pháp nào.
Ở phòng kế toán, tùy theo từng phương pháp kế toán chi tiết NVL mà sử dụng
sổ ( thẻ ) kế toán chi tiết, sổ đối chiếu luân chuyển, sổ số dư để hạch toán nhâp, xuất,
tồn kho NVL về mặt số lượng và giá trị.
Ngoài các sổ kế toán chi tiết nêu trên, các doanh nghiệp còn có thể mở thêm các
bảng kê nhập, bảng kê xuất, bảng kê lũy kế tổng hợp nhập, xuất, tồn kho vật liệu để
phục vụ hạch toán của đơn vị mình.
1.2.1.2 Phương pháp kế toán chi tiết NVL
NVL trong doanh nghiệp được hạch toán chi tiết theo từng người chịu trách
nhiệm vật chất và theo từng lô, từng loại, từng thứ vật liệu. Tùy theo yêu cầu quản lí
của từng doanh nghiệp để lựa chọn phương pháp hạch toán chi tiết thích hợp.
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: KTC – K12
10
10
Khoá luận tốt nghiệp 11 Học viện Ngân Hàng
Tổ chức hạch toán chi tiết NVL trong các doanh nghiệp cần kết hợp chặt chẽ với
hạch toán nghiệp vụ ở kho bảo quản nhằm giảm bớt việc ghi chép trùng lắp giữa các
loại hạch toán, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của kế toán đối với
hạch toán nghiệp vụ ở nơi bảo quản.
Hiện nay, trong các doanh nghiệp sản xuất nói chung và doanh nghiệp xây lắp
nói riêng, việc hạch toán chi tiết NVL giữa kho và phòng kế toán có thể được thực
hiện theo một trong ba phương pháp chủ yếu sau:
- Phương pháp thẻ song song.
- Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển.
- Phương pháp sổ số dư.
a) Phương pháp thẻ song song
* Nội dung
Tại kho:
- Thủ kho dùng thẻ kho, thẻ chi tiết để phản ánh tình hình nhập, xuất, tồn kho
: ghi hàng ngày
: ghi cuối kì
: đối chiếu
* Ưu, nhược điểm
- Ưu điểm: phương pháp này đơn giản trong khâu ghi chép, dễ kiểm tra đối
chiếu, dễ phát hiện sai sót, đồng thời cung cấp thông tin kịp thời, chính xác về tình
hình nhập, xuất, tồn kho đối với từng loại NVL.
- Nhược điểm: ghi chép trùng lắp giữa thủ kho và kế toán về mặt số lượng; làm
tăng khối lượng công việc của kế toán, tốn nhiều thời gian; ngoài ra việc kiểm tra
đối chiếu tiến hành vào cuối tháng làm hạn chế khả năng kiểm tra kịp thời của kế toán.
* Phạm vi áp dụng
Thích hợp với các doanh nghiệp thực hiện công tác kế toán máy và các doanh
nghiệp thực hiện kế toán bằng tay trong điều kiện doanh nghiệp có ít chủng loại vật
tư, khối lượng nghiệp vụ nhập xuất ít, không thường xuyên, trình độ chuyên môn của
cán bộ còn hạn chế.
b) Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển
* Nội dung
Tại kho: việc ghi chép của thủ kho cũng được thực hiện trên thẻ kho giống như ở
phương pháp thẻ song song, và chỉ ghi chép tình hình biến động cuat NVL về mặt số lượng.
Tại phòng kế toán:
- Kế toán mở sổ đối chiếu luân chuyển để ghi chép tình hình nhâp, xuất, tồn kho
của từng NVL ở từng kho. Mỗi tháng chỉ ghi một lần vào cuối tháng. Để có số liệu
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: KTC – K12
12
12
Sổ kế toán
tổng hợp
Thẻ kho, quầy
Phiếu nhập kho
Phiếu xuất kho
Thẻ quầy
Phiếu nhập kho
Phiếu xuất kho
Sổ số dư
Phiếu giao nhận chứng từ nhập
Phiếu giao nhận chứng từ xuất
Bảng lũy kế NXT
Khoá luận tốt nghiệp 14 Học viện Ngân Hàng
Phương pháp sổ số dư còn gọi là phương pháp nghiệp vụ - kế toán . Nội dung
của phương pháp này là sự kết hợp chặt chẽ của kế toán vật liệu tồn kho với hạch
toán nghiệp vụ ở nơi bảo quản.
* Nội dung
Tại kho:
- Thủ kho mở các thẻ kho để ghi chép, phản ánh số hiện có và sự biến động của
NVL về số lượng trên cơ sở các chứng từ nhập, xuất kho.
- Ngoài ra, thủ kho còn phải ghi số lượng tồn kho cuối tháng theo từng danh
điểm vào sổ số dư. Sổ số dư do kế toán lập cho từng kho, được mở cho cả năm. Trên
sổ số dư, vật liệu được sắp xếp thứ, nhóm, loại. Sau mỗi nhóm, loại có dòng cộng
nhóm, cộng loại.
Tại phòng kế toán:
- Không cần mở thẻ chi tiết cho từng loại, từng thứ vật liệu.
- Định kì ngắn ( 5-10 ngày ) nhân viên kế toán phải xuống kho để hướng dẫn và
kiểm tra việc ghi chép nghiệp vụ trên các thẻ kho ở các kho bảo quản, trực tiếp nhận
chứng từ nhập xuất kho. Sau đó kế toán kí xác nhận vào từng thẻ kho và kí vào phiếu
giao nhận chứng từ.
- Kế toán kiểm tra lại và hoàn chỉnh lại chứng từ, sau đó tiến hành tổng hợp số
liệu theo chỉ tiêu giá trị của NVL nhập xuất theo từng nhóm NVL để ghi vào bảng kê
lũy kế nhập và bảng kê lũy kế xuất. Đến cuối tháng, ghi vào phần nhập xuất tồn của
bảng kê tổng hợp.
- Đồng thời, cuối tháng, khi nhận sổ số dư từ thủ kho, kế toán tính giá trị của
- Phiếu xuất kho (mẫu số 02 – VT)
- Hóa đơn kiêm phiếu xuất kho (mẫu số 02 – BH)
- Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ (mẫu số 03 – VT)
- Biên bản kiểm kê vật tư (mẫu số 08 – VT)
- Biên bản kiểm nghiệm (mẫu hướng dẫn số 05 – VT)
- Phiếu báo vật tư còn lại cuối kì (mẫu hướng dẫn số 07 – VT)
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: KTC – K12
15
15
Khoá luận tốt nghiệp 16 Học viện Ngân Hàng
1.2.2.1 Kế toán tổng hợp NVL theo phương pháp kê khai thường xuyên
Phương pháp KKTX là việc nhập xuất vật tư được thực hiện thường xuyên, liên
tục căn cứ vào các chứng từ nhập xuất kho để ghi vào các tài khoản hàng tồn kho.
* Tài khoản sử dụng
Tài khoản 151 – Hàng mua đang đi đường: tài khoản này phản ánh trị giá vật
tư, hàng hóa doanh nghiệp đã mua, đã thanh toán tiền hoặc đã chấp nhận thanh toán
nhưng chưa nhập kho và số hàng đang đi đường cuối tháng trước.
Tài khoản 151
- Trị giá NVL đã mua đang đi đường - Trị giá NVL đang đi đường cuối
tháng thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. trước, tháng này đã về nhập kho
hay đưa vào sử dụng.
Dư nợ: trị giá NVL đang đi đường
cuối tháng.
TK 152 – Nguyên liệu, vật liệu: tài khoản này phản ánh giá trị hiện có và tình
hình biến động của nguyên liệu, vật liệu theo giá gốc.
TK này gồm có các tài khoản chi tiết cấp 2:
- TK 1521: NVL chính
- TK 1522: NVL phụ
- TK 1523: Nhiên liệu
- TK 1524: Phụ tùng thau thế
thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có)
(3b) Phản ánh thuế GTGT hàng nhập khẩu được khấu trừ
(4) Chiết khấu thanh toán được hưởng khi mua NVL
(5) Nhận lại vốn góp liên doanh bằng NVL
(6) NVL nhập từ thuê ngoài gia công chế biến, tự sản xuất, phế liệu thu hồi
(7) Kiểm kê phát hiện thừa NVL
(8) NVL được cấp, nhận góp vốn của đơn vị khác
(9) Tăng do đánh giá lại giá trị NVL
(10) NVL được biếu tặng không hoàn lại hay thu hồi từ sản xuất
Các nghiệp vụ ghi giảm NVL:
(11) Các khoản CKTM, giảm giá hàng mua, trả lại người bán
(12) Xuất kho NVL sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh
(13) Mang NVL đi góp vốn liên doanh
(13a) NVL được đánh giá cao hơn giá trị ghi sổ
(13b) NVL được đánh giá thấp hơn giá trị ghi sổ
(14) Giảm do đánh giá lại giá trị NVL
(15) Xuất NVL mang đi thuê ngoài gia công chế biến
(16) Xuất NVL trả lại góp vốn liên doanh
(17) Kiểm kê phát hiện thiếu NVL chưa rõ nguyên nhân
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: KTC – K12
17
17
Khoá luận tốt nghiệp 18 Học viện Ngân Hàng
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: KTC – K12
18
18
Khoá luận tốt nghiệp 19 Học viện Ngân Hàng
Sơ đồ 1.4: sơ đồ kế toán tổng hợp NVL theo phương pháp KKTX (VAT khấu trừ)
TK 111, 112, 141, 331 TK 151 TK 152 TK 111, 112, 141, 331
(2a) (2b)
(11’)
TK 151
(2a’) (2b’)
TK 331, 3332, 3333
(3’)
(1’): NVL mua ngoài, hàng về cùng hóa đơn.
(2’): NVL mua ngoài, hóa đơn về trước, hàng về sau.
(2a’): cuối tháng NVL chưa về nhập kho
(2b’): khi NVL đang đi đường về nhập kho
(3’): NVL nhập khẩu
(11’): các khoản CKTM, giảm giá hàng bán, trả lại hàng mua.
Các nghiệp vụ còn lại hạch toán tương tự phương pháp tính thuế GTGT theo
phương pháp khấu trừ.
1.2.2.2 Kế toán tổng hợp NVL theo phương pháp kiểm kê định kì
Phương pháp kiểm kê định kì không phản ánh thường xuyên, liên tục tình hình
nhập xuất NVL ở các tài khoản vật tư (TK152). TK này chỉ phản ánh giá trị NVL
tồn kho đầu kì và cuối kì. Việc nhập xuất NVL hàng ngày được phản ánh ở TK 611
– Mua hàng. Cuối kì, kiểm kê NVL, sử dụng phương pháp cân đối để tính giá trị
NVL xuất kho theo công thức:
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: KTC – K12
20
20
Khoá luận tốt nghiệp 21 Học viện Ngân Hàng
Trị giá trị giá trị giá trị giá
NVL = NVL + NVL nhập + NVL tồn
xuất kho tồn đầu kì trong kì cuối kì
* Tài khoản sử dụng
TK 611 – Mua hàng: TK này dùng để phản ánh tình hình thu mua, tăng, giảm
NVL theo giá thực tế. Từ đó xác định giá trị NVL xuất dùng.
Kết cấu của TK này như sau:
(2) NVL tăng do mua ngoài
(3) Nhận góp vốn liên doanh bằng NVL
(4) Nhận quà biếu tặng là NVL
* Các nghiệp vụ ghi giảm NVL
(5) CKTM, giảm giá hàng mua, trả lại hàng mua
(6) Xuất NVL dùng cho sản xuất kinh doanh
(7) Mang NVL đi góp vốn liên doanh
(7a) NVL được đánh giá cao hơn trị giá vốn thực tế
(7b) NVL được đánh giá thấp hơn trị giá vốn thực tế
(8) Kết chuyển tồn kho cuối kì về TK 152
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: KTC – K12
22
22
Khoá luận tốt nghiệp 23 Học viện Ngân Hàng
Sơ đồ 1.6: sơ đồkế toán tổng hợp NVL theo phương pháp kiểm kê định kì
(VAT khấu trừ)
TK 151, 152 TK 611 TK 151, 152
(1)
(8)
TK 111, 112, 141, 331
(2) TK 111, 112, 141, 331
TK 1331 (5)
TK 1331
TK 411
(3)
TK 621, 627, 641, 642
TK 711 (6)
(4)
TK 128, 222
TK 711, 3387 (7a)
Kiểm kê là một trong những biện pháp để quản lí tài sản, vật tư. Thông qua kiểm
kê, doanh nghiệp nắm được hiện trạng NVL cả về số lượng và chất lượng, ngăn ngừa
và phát hiện những hiện tượng tham ô, lãng phí và có biện pháp quản lí tốt hơn đảm
bảo an toàn tài sản, vật tư cho doanh nghiệp.
Đánh giá lại NVL thường được thực hiện trong trường hợp đem NVL đi góp
vốn liên doanh và trong trường hợp giá cả NVL có biến động lớn.
Tùy theo yêu cầu quản lí, kiểm kê có thể thực hiện theo phạm vi toàn doanh
nghiệp hay từng bộ phận, đơn vị; kiểm kê định kì hay kiểm kê bất thường.
Khi kiểm kê doanh nghiệp phải lập Hội đồng hoặc ban kiểm kê, sau khi cân, đo,
đong, đếm cụ thể với từng loại NVL phải lập biên bản kiểm kê theo quy định (mẫu
số 05 – VT).
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: KTC – K12
24
24
Khoá luận tốt nghiệp 25 Học viện Ngân Hàng
Sơ đồ 1.8: sơ đồ các nghiệp vụ liên quan đến kiểm kê và đánh giá lại NVL
TK 338 TK 152 TK 1381 TK 1388
(1) (2) (2a)
TK 412 TK 632
(3) (2b)
(3’) TK 411
TK 411
TK 412
(4) (4’)
(1) NVL thừa chưa rõ nguyên nhân
(2) NVL thiếu chưa rõ nguyên nhân
(2a) Nếu người chịu trách nhiệm vật chất về NVL phải bồi thường
(2b) Nếu NVL hao hụt được tính vào chi phí
(3) Giá trị NVL đánh giá lại lớn hơn giá ghi ở sổ kế toán
(3’) Chênh lệch tăng được ghi tăng nguồn vốn kinh doanh