1
LỜI CẢM ƠN
Được sự giúp đỡ của Khoa Chế Biến – Trường đại học Nha Trang, dưới sự
chỉ dẫn tận tình của thầy TS.Trang Sĩ Trung em đã hoàn thành đổ án tốt nghiệp. Em
xin chân thành cảm ơn các thầy, cô trong khoa Chế Biến đã tạo điều kiện thuận lợi
và giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đồ án. Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn
TS. Trang Sĩ Trung đã tận tình giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện đồ án này.
Trong quá trình làm đồ án do thời gian ngắn, hạn chế về chuyên môn cũng
như kiến thức thực tế nên bản đồ án này còn nhiều mặt hạn chế. Vì vậy em xin nhận
được sự góp ý của thầy cô và các bạn để bản đồ án được hoàn thiện hơn.
Nha Trang, tháng 11 năm 2007
Sinh viên thực hiện
Đinh Thị Hoa
2
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Sản lượng tôm nuôi của cả nước và tỉnh Khánh Hòa từ năm 1995÷2006. 3
Hình 1.2 Sản lượng tôm đông lạnh và phế liệu tôm từ 1991÷1997 7
Hình 1.3 Sản lượng tôm đông lạnh và phế liệu tôm từ năm 1997÷2000 7
Hình1.4 Phân tử astaxanthin (dạng all-trans) 15
Hình 1.5 Sự thay đổi cấu trúc phân tử astaxanthin khi tương tác với acid yếu 17
Hình 1.6 Astacene 17
Hình 1.7 Crustaxanthin 17
Hình 3.1: Sự phụ thuộc hàm lượng astaxanthin thu được vào nhiệt độ và tỷ lệ dầu/
nguyên liệu 41
3.1 Hàm lượng astaxanthin chiết được theo quy hoạch thực nghiệm 39
Bảng 3.2 Các mức của các yếu tố 40
Bảng 3.3 Kết quả xác định hàm lượng astaxanthin của các thí nghiệm tối ưu hóa
theo phương pháp đường dốc nhất 43
Bảng 3.4 Hàm lượng astaxanthin chiết được theo quy hoạch thực nghiệm 45
Bảng 3.5 Các mức của các yếu tố 46
Bảng 3.6 Kết quả xác định hàm lượng astaxanthin của các thí nghiệm tối ưu hóa
theo phương pháp đường dốc nhất 49
Bảng 3.7 Hàm lượng astaxanthin chiết được theo quy hoạch thực nghiệm 51
Bảng 3.8 Các mức của các yếu tố 52
Bảng 3.9 Kết quả xác định hàm lượng astaxanthin của các thí nghiệm tối ưu hóa
theo phương pháp đường dốc nhất 55
4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1. Tổng quan về tôm và phế liệu tôm 3
1.1.1. Giới thiệu về tôm .3
1.1.2. Phế liệu tôm 6
1.1.2.1. Cấu tạo vỏ tôm 8
1.1.2.2. Thành ph ần hóa học của vỏ tôm 9
1.2. Lý thuyết chiết 10
1.2.1. Các khái ni ệm cơ bản về quá tr ình chiết 10
1.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng tới quá tr ình chiết 11
1.2.3. Điều kiện chọn dung môi 12
1.2.4. Các phương pháp chi ết 13
1.3. Tổng quan về astaxanthin 14
3.2. Xác định điều kiện thích hợp cho cô ng đoạn chiết astaxanthin bằng dầu nành 44
3.3. Xác định điều kiện thích hợp cho cô ng đoạn chiết astaxanthin bằng dầu hướng dương 50
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
PHỤ LỤC
1
MỞ ĐẦU
Astaxanthin là một chất chống oxy hóa, ngăn ngừa một số bệnh ung thư,
chống lại tác hại của tia tử ngoại đồng thời có hoạt tính của một tiền Vitamin và
astaxanthin còn tạo nên màu sắc đặc trưng ở một số loài thủy sản như tôm, cua. Vì
vậy, trong những năm ngần đây astaxanthin được nghiên cứu rất nhiều đặc biệt là
việc nghiên cứu tìm ra loại dung môi cũng như điều kiện chiết thích hợp để có thể
được hàm lượng astaxanthin cao nhất. Những nghiên cứu này đa phần đều sử dụng
những dung môi như aceton, petro eter,…Đặc điểm của những dung môi này là có
khả năng chiết rút astaxanthin với hàm lượng cao nhưng lại rất độc hại. Chúng có
thể gây ra một số ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người như: Khi hít phải sẽ tạo
cảm giác say, mất thăng bằng giống như nghiện rượu và có hại cho phổi, khi dây ra
da sẽ làm ngứa, mẩn đỏ vùng quanh mắt, cổ,…Đồng thời việc sử dụng astaxanthin
được chiết bằng những dung môi hữu cơ để bổ sung vào thức ăn cho cá hiện nay
đang bị hạn chế bởi sự xuất hiện các chất phản ứng và phản ứng tức thì (những chất
có nguy cơ gây ra những biến đổi của tế bào sống) [12]. Vì vậy, chúng ta cần tìm ra
một loại dung môi mới vừa có khả năng chiết rút astaxanthin mà lại không độc hại.
Và dung môi dầu ăn đã được quan tâm đến. Do tính chất của nó là dung môi không
phân cực do đó có thể hòa tan được astaxanthin và có thể sử dụng bổ sung trực tiếp
vào thức ăn cho người và động vật.
Việt Nam đã có sản lượng tôm lớn. Với sự phát triển như vậy các nhà máy
chế biến tôm của nước ta mỗi năm cũng thải ra khoảng 33.000 tấn phế liệu/năm.
3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về tôm và phế liệu tôm [1], [2], [4]
1.1.1. Giới thiệu về tôm
Tôm là đối tượng rất quan trọng của ngành thủy sản nước ta hiện nay, tôm
chiếm tỷ lệ 70÷80% tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành. Tôm có giá trị dinh
dưỡng cao, tổ chức cơ thịt rắn chắc, có mùi vị thơm ngon đặc trưng rất hấp dẫn.
Chính nhờ những ưu điểm này mà nghề chế biến tôm, đặc biệt là tôm đông lạnh
đang được phát triển để đáp ứng cho nhu cầu ngày càng cao mà sản lượng tôm đánh
bắt có hạn, vì vậy nghề nuôi tôm đang được đầu tư phát triển rất mạnh. Hầu hết là
các loài có giá trị như: tôm Sú, tôm Bạc, tôm Thẻ, tôm Chì,…
Tôm là sinh vật đáy thuộc hệ thống phân loại:
Ngành: Arthropoda
Ngành phụ: Brabachista
Lớp: Crustacea
Bộ: Decapoda.
Theo số liệu của Tổng cục thống kê (2007) sản lượng tôm nuôi qua các năm:
1
Như vậy cho thấy nhu cầu về tôm là rất cao và ngành nuôi tôm đang rất phát
triển.
Thành phần cấu tạo của tôm gồm hai phần: phần đầu và phần thân. Hầu
hết các cơ quan nằm ở phần đầu ngực, phần thân chỉ có ruột và động mạch chủ, thịt
tôm nằm gần như hoàn toàn ở thân.
Vỏ tôm thường được tạo thành từ nhiều lớp protein, khoáng, lipid bao phủ
khung chitin. Toàn bộ lớp vỏ này không sinh trưởng vì vậy tôm phải lột xác theo
từng thời kỳ sinh trưởng của bản thân. Dưới lớp vỏ là lớp biểu bì có vai trò quan
trọng trong việc lột xác bỏ lớp vỏ cũ và hình thành lớp vỏ mới của tôm. Kề trong
lớp biểu bì là lớp trung bì có chứa sắc tố chủ yếu là astaxanthin. Chính nhờ sự biến
đổi của sắc tố này mà ta có thể phân biệt được chất lượng tôm.
Phần đầu thường chiếm khoảng 35÷45% trọng lượng, phần vỏ chiếm
10÷15% trọng lượng. Tỷ lệ giữa các phần đầu, thân, vỏ luôn thay đổi phụ thuộc vào
giống loài.
Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của tôm. Tôm là một trong
những loại thực phẩm có chứa đầy đủ các loại acid amin không thay thế. Vì vậy tôm
có giá trị cao về mặt dinh dưỡng. Thành phần hóa học của tôm bao gồm: protein,
lipit, nước, khoáng, enzym, vitamin. Thành phần hóa học khác nhau tùy thuộc vào
giống loài và điều kiện sinh sống, mùa vụ, nguồn thức ăn, thời tiết khí hậu.
Bảng 1.1 Thành phần hóa học của của thịt tôm [1]
Thành phần hóa học tính trên 100 g thịt tôm
g/100g mg/100g
Protein
Lipit Nước Tro Canxi
Photpho
Fe Na K
19÷33 0,3÷1,4
+ Chất ngấm ra: Hàm lượng chất ngấm ra chiếm 2÷3% trọng lượng tôm,
trong đó có khoảng 1/3 là chất hữu cơ mà thành phần lớn là chất hữu cơ có đạm,
phần còn lại là chất vô cơ. Chất ngấm ra nhiều ít đứng về mặt sinh lý, mùi vị thì nó
chiếm một vai trò quan trọng, nó quyết định mùi vị đặc trưng cho sản phẩm, có tác
dụng kích thích vị làm tăng khả năng tiêu hóa, chất ngấm ra dễ bị vi sinh vật gây
thối rữa làm giảm khả năng bảo quản nguyên liệu.
+ Lipit và glucid: Trong thịt tôm có rất ít mỡ chiếm 0,3÷1,4% trọng lượng
tôm. Hàm lượng glucid cũng rất ít.
+ Sắc tố: Tôm đem gia nhiệt như luộc, nấu hay dùng acid vô cơ hoặc rượu để
ngâm thì vỏ của chúng đều biến thành màu đỏ gạch, các sắc tố đó được gọi là
astaxin. Ataxin là sản phẩm của astaxanthin. Trong vỏ tôm astaxanthin kết hợp với
protein có màu xanh tím.
+ Vitamin: Trong thịt tôm có chứa một hàm lượng vitamin, đặc biệt là
vitamin nhóm B. Nhóm vitamin này tan trong nước nên trong quá trình bảo quản và
chế biến rất dễ bị thất thoát. Vitamin nhóm B có vai trò giúp tiêu hóa, tăng trọng
lượng và phát triển cơ thể.
+ Chất khoáng: Trong thịt tôm gồm có các chất khoáng như: Fe, Ca, K, P,…
6
Vì tôm có đầy đủ các thành phần dinh dưỡng giàu vitamin, giàu đạm, giàu
khoáng dễ bị tiêu hóa, cần thiết cho dinh dưỡng cơ thể con người. Vì thế sản phẩm
tôm ngày càng được sử dụng càng nhiều, xuất khẩu tôm ngày càng tăng bên cạnh đó
kéo theo lượng phế thải từ công nghiệp chế biến tôm đông lạnh cũng tăng.
Sự phân bố: Tôm tập trung nhiều ở vùng biển từ nam Vũng Tàu đến Rạch
Giá, sau đó có nhiều ở phụ cận cửa sông Hồng, sông Thái Bình, sông Mã và phân
bố rải rác ở ven biển Trung Bộ và Đồng Bằng sông Cửu Long.
Các loại tôm khác nhau có đặc điểm sinh lý, sinh thái khác nhau nên mùa vụ
thu hoạch tôm cũng khác nhau trong năm.
ngàn tấn trong năm 1997 và 140 ngàn tấn trong năm 2005) thì lượng phế liệu tôm
thải ra cũng tăng lên tương ứng (năm 1991 là 32.728 tấn, năm 1997 là 59.563 tấn và
năm 2005 là 114.545 tấn).
Hình 1.2 Sản lượng tôm đông lạnh và phế liệu tôm từ 1991÷1997 Hình 1.3 Sản lượng tôm đông lạnh và phế liệu tôm từ năm 1997÷2000
Phế liệu tôm
Sản lượng tôm
8
Từ đó cho thấy việc giải quyết lượng phế liệu thải ra là rất lớn. Do đây là
một vấn đề đáng quan tâm nếu chúng ta muốn phát triển mặt hàng tôm.
1.1.2.1. Cấu tạo vỏ tôm
Vỏ tôm được cấu tạo từ một phức hợp chitin-protein liên kết với một số hợp
chất hữu cơ khác (astaxanthin, lipid), bị hóa cứng do kết hợp với canxi cacbonat.
Lớp vỏ này bao gồm bốn lớp chính:
Lớp biểu bì (epiecuticle): không chứa chitin, bị hóa cứng do sự lắng đọng
của muối canxi cacbonat. Tuy nhiên, khác với lớp canxi hóa bên trong lớp vỏ này
liên kết với một lớp sáp nên khó bị hòa tan bởi acid ở nhiệt độ thường. Lớp này
thường có màu vàng rất nhạt do có chứa polyphenol-oxydaza và bị hóa cứng nhờ
quinon-tanin.
Lớp màu: nhìn chung màu sắc của động vật thủy sản thay đổi từ nâu xanh
đến nâu đỏ đến nâu đen rồi nâu xám. Sự khác nhau về màu sắc này là do sự có mặt
của ba lớp chất màu khác nhau:
O
5
N)
n
.
Protein trong vỏ tôm thường là loại protein không hòa tan, liên kết với lớp
vỏ chitin bởi liên kết cộng hóa trị bền vững tương tự như liên kết giữa các phân tử
amino acid với nhau trong phân tử protein. Do đó nó không bị tách ra khỏi vỏ tôm.
Lipid: ngoài lớp màng sáp bao phủ bên ngoài lớp vỏ epicuticle, lipid còn
tồn tại dưới dạng phức chất sterol-protein chứa trong lớp endocuticle.
Ngoài các thành phần trên trong vỏ tôm còn có:
Các enzym: như proteaza có trong đầu tôm, phenol-oxydaza có trong lớp
vỏ epicuticle.
Sắc tố: gồm các phân tử caroteinoid (chủ yếu là astaxanthin) ở dạng liên
kết với protein tạo thành phức hợp carotenoprotein màu xanh. Màu xanh này sẽ
Protein(%) Lipid(%)
Chitin(%) Tro(%) Canxi(%) Phosphat(%)
Đầu
tôm
53,5 8,9 11,1 22,6 7,2 1,68
Vỏ
tôm
22,8 0,4 27,2 31,7 11,1 3,16
10
M
KT
D
6
(1.2)
11
Trong đó: K: hằng số khuyếch tán.
T: nhiệt độ tuyệt đối.
M: độ dính của chất môi giới (dung môi).
ρ: bán kính phân tử khuyếch tán.
Khuyếch tán đối lưu là sự vận chuyển vật chất từ môi trường này sang môi
trường khác trong dòng chuyển động của chất lỏng ở chế độ chảy xoáy.
Khuyếch tán đối lưu là hình thái di chuyển vật chất trong dung dịch ở phạm
vi nhỏ. Khuyếch tán đối lưu tuân theo định luật Sucarep. Theo định luật thì lượng
vật chất đi từ bề mặt phân chia pha vào môi trường tiếp thu tỷ lệ với bề mặt phân
chia pha F và thời gian dτ và độ chênh lệch nồng độ dx.
Phương trình cơ bản về khuyếch tán đối lưu:
dm = - β.F.dc.dτ (1.3)
Trong đó: dm, dc, dτ, F cũng có ý nghĩa giống như trong công thức (1.1)
β: biểu thị hằng số tốc độ khuyếch tán đối lưu.
Hệ số tốc độ khuyếch tán đối lưu là biểu thị lượng vật chất di chuyển khi
chênh lệch về nồng độ là một đơn vị diện tích bề mặt và trong một đơn vị thời gian
(ở đây là lượng chất cần chiết).
Trong khuyếch tán phân tử sự di chuyển vật chất nhờ vào động năng của
chuyển động nhiệt phân tử. Trong khuyếch tán đối lưu sự di chuyển vật chất là nhờ
Ảnh hưởng của nhiệt độ, thời gian chiết, độ ẩm của nguyên liệu chiết,…
1.2.3. Điều kiện chọn dung môi
Dung môi sử dụng phải thỏa mãn điều kiện sau:
+ Dung môi chỉ hòa tan chất cần chiết với bất kỳ tỷ lệ nào.
+ Dung môi phải có thành phần hóa học ổn định không gây phản ứng phụ với
nguyên liệu.
13
+ Dung môi có nhiệt độ sôi thấp để dễ dàng tách dung môi ra khỏi chất cần
chiết.
+ Dung môi không độc hại ảnh hưởng tới sức khỏe, chất lượng sản phẩm.
+ Dung môi khó cháy nổ, an toàn trong sản xuất.
+ Dung môi không ăn mòn thiết bị chiết.
+ Rẻ tiền, dễ kiếm, có khả năng sử dụng quy mô công nghiệp.
Hiện tại chưa có dung môi nào đáp ứng được tất cả các điều kiện trên nhưng
tùy theo điều kiện sản xuất mà ta chọn dung môi chiết tốt nhất.
1.2.4. Các phương pháp chiết
a. Chiết theo phương pháp gián đoạn
Theo phương pháp này ta ngâm nguyên liệu vào dung môi, sau thời gian nhất
định giữa dung môi và nguyên liệu đạt nồng độ chất cần chiết ở mức cân bằng, tiến
hành đổ dịch chiết ra thay dung môi mới vào. Cứ như thế cho tới sạch.
Ưu điểm: Đơn giản, dễ thực hiện.
Nhược điểm: Tốn công, tốn thời gian cũng như dung môi nên không kinh tế,
không phù hợp với quy mô sản xuất lớn.
b. Phương pháp chiết bán liên tục
Nguyên lý của phương pháp là dùng nhiều thiết bị chiết gián đoạn bố trí
thành cụm liên hiệp tuần hoàn nhằm mục đích giảm thời gian chiết, ít tốn công hơn,
tiết kiệm được dung môi hơn. Theo phương pháp này quá trình chiết thực hiện theo
hay bị oxy hóa, liên kết giữa astaxanthin và protein bị cắt đứt, giải phóng
astaxanthin tự do có màu đỏ cam. 15
1.3.1.1. Cấu trúc phân tử astaxanthin
Astaxanthin là một trong các sắc tố xanthopyll, là dẫn xuất 3,3`dihydroxy
4,4`diketo của β, β`-caroten, có công thức phân tử C
40
H
52
O
4
và khối lượng phân tử
M= 595. Công thức cấu tạo phân tử như sau:
Hình1.4 Phân tử astaxanthin (dạng all-trans)
1.3.1.2. Tính chất lý học của astaxanthin
Sự hấp thụ ánh sáng và màu sắc: Astaxanthin hấp thụ rất mạnh bức xạ
trong vùng 470÷510 nm (cực đại hấp thụ thay đổi tùy theo dung môi sử dụng với hệ
số tắt phân tử khoảng 10
5
đầu mạch, astaxanthin rất nhạy cảm với các tác nhân oxy hóa, acid, bazơ…
Sự oxy hóa: astaxanthin dạng tự do rất dễ bị oxy hóa bởi tác nhân electrophil
như oxy phân tử hay các gốc tự do như các gốc hydroxyl, gốc peroxyl. Nhưng khi
tạo phức với protein hay ở dạng ester hóa thì astaxanthin trở nên bền hơn. Hoạt tính
chống oxy hóa của astaxanthin trong cơ thể được giải thích bởi khả năng bắt giữ
gốc tự do (ví dụ: như gốc peroxyl) tạo thành gốc cacbon trung tâm bền vững nhờ
hiệu ứng cộng hưởng:
ROO
*
+ Ast RCOO - Ast
Phản ứng với acid: astaxanthin phản ứng với acid yếu theo một cân bằng
thuận nghịch tạo thành các cấu trúc (II) và (III) (hình 1.5), làm chuyển dịch cực đại
hấp thụ của phân tử về phía bước sóng dài. Khi trung hòa bằng bazơ yếu, cấu trúc
phân tử của astaxanthin lại được phục hồi. Tuy nhiên khi phản ứng với acid mạnh
như HCl, H
2
SO
4
…có thể xảy ra sự phân hủy chuỗi polyen của astaxanthin làm nhạt
màu đỏ cam.
17
Hình 1.5 Sự thay đổi cấu trúc phân tử astaxanthin khi tương tác với acid yếu
Phản ứng với bazơ: Trong môi trường kiềm khi có mặt của không khí
Astaxanthin có tác dụng trong việc bảo vệ võng mạc khỏi bị oxy hóa
(Snodder, 1995 ), cải thiện những tổn thương võng mạc, bảo vệ các tế bào tiếp nhận
ánh sáng khỏi thoái hóa (Tso & Lam, 1996), đồng thời rất hữu hiệu trong việc giúp
đề phòng và chữa trị những tổn thương tế bào thần kinh như bệnh Alzheimer, bệnh
Parkinson, những tổn thương tủy sống,…
Astaxanthin có khả năng ngăn ngừa sự oxy hóa lipoprotein có trọng lượng
thấp (Miki et al,1998), do đó có khả năng ngăn ngừa bệnh xơ cứng động mạch,
chứng tắc nghẽn động mạch vành,…
Astaxanthin còn có chức năng bảo vệ chống tác hại của tia tử ngoại nhờ có
khả năng bắt giữ các gốc tự do hình thành do sự quang hóa (Krinsky, 1989). Ngoài
ra nó còn hữu hiệu trong việc phòng ngừa và điều trị các chứng nhiễm khuẩn
Helicobacter trong hệ tiêu hóa của động vật có vú (Alejung và Wadstroem, 1998).
Đặc biệt là đối với người và động vật có vú, astaxanthin không có hoạt tính
của một tiền vitamin A, vì vậy không có nguy cơ ngộ độc tích lũy quá nhiều
astaxanthin. Thực vậy những thử nghiệm trên chuột cho thấy không có một tác
dụng nguy hại nào khi sử dụng liều 400 ppm astaxanthin trong 41 ngày (Nishikawa
et al, 1997). Đối với người liều dùng an toàn có thể đến 14,4 mg/ngày trong vòng 2
tuần (Miki et al,1998).
19
Đối với các loài động vật thủy sản.
Astaxanthin cũng có một vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ tế bào
chống sự oxy hóa, chống tác hại của tia tử ngoại, tăng cường sức đề kháng, giúp
tăng khả năng tăng trưởng và khả năng sống sót của các loài thủy sản.
Astaxanthin còn tạo nên màu sắc đặc trưng ở một số loài thủy sản như tôm,
cua,…Màu sắc chính là dấu hiệu của sự thành thục, nó tạo nên sức hấp dẫn giới tính
và do đó có tác dụng tăng cường năng suất sinh sản ở các loài động vật này.
thức ăn sẽ cho màu sắc cá cảnh đẹp hơn so với thức ăn giàu đạm khác.
Do không phải là hoocmon nên không gây hại đến khả năng sinh sản của cá.
Cá sẽ chuyển hóa astaxanthin trong thức ăn thành tuaxanthin và tích lũy trong da,
làm cá có màu sắc rực rỡ. Cá có khả năng hấp thụ tốt các loại carotenoid theo thứ tự
sau: zeaxanthin (không phổ biến) > astaxanthin > lutein (trong thực vật như bắp).
Cá khi được bổ sung astaxanthin vào khẩu phần ăn liên tục sau 7 ÷ 10 ngày
sẽ đạt màu sắc rực rỡ.
Trong việc phòng bệnh đốm xanh ở tôm.
Theo Belinda K.Howell và Anthony D.Matthews nghiên cứu nguyên nhân
của bệnh đốm xanh ở tôm sú là do sự thiếu hụt sắc tố carotenoid trong dinh dưỡng.
Kết quả phân tích tôm sú nuôi bị bệnh đốm xanh chỉ chứa carotenoid ở bất kỳ nồng
độ nào đều không có ý nghĩa.
Trong nuôi gia cầm.
Astaxanthin được dùng làm phụ gia trong chế biến thức ăn nuôi gia súc, gia
cầm, làm tăng màu vàng cam cho lòng đỏ trứng, tăng tỷ lệ nở con, giảm khả năng
nhiễm khuẩn Samonell.
Trong y học.
Astaxanthin là dẫn xuất của β-caroten. Nó có thể dùng với hàm lượng nhiều
thay thế cho vitamin A mà không có nguy hiểm như vitamin A. Khi thừa β-caroten
sẽ được tích lũy tại gan.
Astaxanthin có khả năng dễ dàng xuyên qua hàng rào máu–não, bảo vệ võng
mạc chống lại các tác nhân oxy hóa, chống lại sự hao hụt các tế bào cảm thụ quang.
Do bảo vệ được nơron võng mạc nên cũng sẽ bảo vệ được nơron não và tủy sống,