Vai trò của Thành phố Đà Nẵng trong sự phát triển hành lang kinh tế Đông - Tây Việt Nam - Pdf 23

JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE
Social Sci., 2011, Vol. 56, No. 2, pp. 161-168
VAI TRÒ CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TRONG SỰ PHÁT T RIỂN
HÀNH LANG KINH TẾ ĐÔNG – TÂY VIỆT NAM
Trương Văn Cảnh
Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng
1. Mở đầu
Hành lang kinh tế là một hình thức tổ chức lãnh thổ mới xuất hiện ở nước ta
trong mấy thập niên gần đây nhưng đã mang lại nhiều hiệu quả tích cực. Nó hình
thành dựa trên “tuyến trục giao thông gắn với sự phân bố tập trung các hoạt động
kinh tế dọc tuyến. Nhờ sự phát triển và phân bố như vậy đã tạo ra các yếu tố thuận
lợi cho sự phát triển toàn tuyến, làm cho các hoạt động kinh tế của tuyến trở thành
động lực lôi kéo sự phát triển chung” [1]. Hành lang kinh tế Đông – Tây (EWEC)
nằm trong mạng các hành lang kinh tế trong Hợp tác Tiểu vùng sông Mê Công mở
rộng (GMS) và đang được ưu tiên thực hiện. Hành lang này dài 1.450 km, đi qua
4 nước, bắt đầu từ thành phố cảng Mawlamyine của Myanma, qua Thái Lan, Lào
và kết thúc trên lãnh thổ Việt Nam tại thành phố (TP) Đà Nẵng. Hành lang này
đặc biệt quan trọng vì nó nối liền GMS với không gian kinh tế sông Hằng (Ấn Độ)
và rút ngắ n khoảng cách giao lưu giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Hành
lang kinh tế Đông – Tây Việt Nam chạy từ cửa khẩu Lao Bảo qua ba tỉnh, thành
phố là Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế và Đà Nẵng. Trong đó, TP Đà Nẵng có vị trí
chiến lược quan trọng hơn cả, là cửa ngõ ra biển về phía Đông, điểm nhấn trên toàn
tuyến hành lang; là cực tăng trưởng có vai trò chủ yếu trong phát triển kinh tế của
hành lang. TP Đà Nẵng không chỉ là trung tâm kinh tế phát triển nhất của Hành
lang kinh tế Đông – Tây Việt Nam mà còn của cả hành lang kinh tế Đông – Tây nói
chung (cùng với Kon Kaen của Thái Lan) [3]. Vì vậy, việc đánh giá vai trò của TP
Đà Nẵng trong phát triển hành lang kinh tế Đông – Tây Việt Nam (HLKTĐ-TVN)
là việc làm có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Những thế mạnh nổi bật để TP Đà Nẵng trở thành cực
tăng trưởng, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển

,
có các động vật biển phong phú trên 266 giống loài, với tổng trữ lượng là 1.136.000
tấn hải sản các loại. Hàng năm có khả năng khai thác trên 150.000 - 200.000 tấn.
Thành phố có hơn 700 ha diện tích mặt nước có khả năng nuôi trồng thuỷ sản, tạo
điều kiện tốt để xây dựng thành vùng nuôi thuỷ sản với các hình thức như nuôi bè
(tôm hùm, cá) ở Thọ Q uang, nuôi tôm ở Nại Hiên Đông, Hoà Cường, vùng biển Cổ
Cò, Hoà Hiệp quanh chân đèo Hải Vân [7]
– Tài nguyên rừng
Theo số liệu kiểm kê rừng thành phố và qua số liệu về diện tích rừng trồng
từ năm 199 2 đến nay thì diện tích đất lâm nghiệp là 67,8 nghìn ha, chiếm 52,8%
diện tích lãnh thổ. Trong đó diện tích rừng tự nhiên là 36,5 nghìn ha, diện tích rừng
trồng là 10,5 nghìn ha. Tỉ lệ che phủ là 36,6% [5]. Trữ lượng gỗ khoảng 3 triệu m
3
.
Rừng phân bố chủ yếu nơi có độ dốc lớn, địa hình phức tạp, tập trung ở Sơn Trà,
Hải Vân và Tây Hoà Vang. Rừng của thành phố ngoài ý nghĩa kinh tế còn có ý
nghĩa phục vụ nghiên cứu khoa học, bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển du
lịch. Thiên nhiên đã ưu đãi ban cho t hành phố các khu bảo tồn thiên nhiên đặc sắc
như: Khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà, Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà và Khu văn
hóa lịch sử môi trường Nam Hả i Vân.
162
Vai trò của thành phố Đà Nẵng trong sự phát triển hành lang kinh tế
– Tài nguyên du lịch
TP Đà Nẵng có tiềm năng lớn để phát triển du lịch và thực tế là một trong
những trung tâm du lịch lớn của cả nước. Đà Nẵng nằm trên con đường di sản thế
giới của Việt Nam, trung tâm của 5 di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, về phía
Bắc là Quảng Bình với Phong Nha – Kẻ Bàng, là Huế với Cố đô Huế và Nhã nhạc
cung đình; phía Nam là Quảng Nam với Phố cổ Hội An và Thánh địa Mỹ Sơn. Bản
thân thành phố có tài nguyên du lịch phong phú, có nhiều danh lam thắng cảnh
ngoạn mục như đèo Hải Vân, bán đảo Sơn Trà, núi Bà Nà, Ngũ Hành Sơn Bờ biển

hàng không quốc tế Đà Nẵng có khả năng tiếp nhận các loại máy bay hiện đại như
163
Trương Văn Cảnh
B747, B767, A320. Ngoài ra, hệ thống cấp nước, cấp điện và thông tin liên lạc (Đà
Nẵng là nơi ghé bờ của trạm cáp biển quốc tế tại Việt Nam) phát triển mạnh và
ngày càng được hiện đại hóa, chỉ đứng sau Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh [7].
– Chính sách thông thoáng
Trong những năm gần đây, Đà Nẵng luôn đứng đầu cả nước về năng lực cạnh
tranh cấp tỉnh (CPI). Đà Nẵng được đánh giá là địa phương có chính sách thu hút
đầu tư rất thông thoáng. Thời gian cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh không
quá 5 ngày làm việc; thay đổi, bổ sung giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh không
quá 3 ngày là m việc; cấp giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư không quá 10 ngày làm
việc [8]. Các thủ tục liên quan đến chủ trương đầu tư, địa điểm đầu tư, quy hoạch,
giải phóng và bàn giao mặt bằng, hợp đồng thuê đất hoặc chuyển quyền sử dụng
đất v.v được thực hiện theo cơ chế ”một cửa” tại Trung tâm Xúc tiến Đầu tư Đà
Nẵng. Việc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và giấy chứng nhận ưu đãi
đầu tư được thực hiện theo cơ chế ”một cửa” tại Sở Kế hoạch và Đầu tư. Nhà đầu
tư được miễn mọi chi phí có liên quan đến công tác giải quyết các thủ tục đầu tư
ngoài.
2.2. TP Đ à Nẵng là trung tâm kinh tế lớn nhất miền Trung,
là cực tăng trưởng, đóng vai trò chủ yếu trong phát triển
HLKTĐ-TVN
2.2.1. TP Đà Nẵng đóng góp lớn nhất vào GDP và tăng trưởng kinh tế
của HLKTĐ-TVN
Trong cả nước cũng như trong HLKTĐ-TVN, Đà Nẵng có diện tích và dân
số tương đối nhỏ (chỉ chiếm 0,3% diện tích và 1,0% dân số của cả nước) nhưng là
nơi có mật độ kinh tế (thể hiện sản xuất kinh tế trên một km
2
, được tính bằng
GDP/km

2.2.2. Cơ cấu kinh tế của thành phố định hình cơ cấu kinh tế của toàn
hành lang
– Xét cơ cấu kinh tế theo ngành: năm 2009, nếu trong cơ cấu GDP của 2
tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế tỉ trọng nông nghiệp còn cao (tương ứng là
29,6% và 16,8%), 2 ngành còn lại có tỉ trọng khá (công nghiệp tương ứng là 34 ,8 %
và 37,5%, dịch vụ tương ứng là 35 ,6 % và 45,7%); thì ở Đà Nẵng GDP của công
nghiệp và dịch vụ chiếm tỉ lệ lớn t rong toàn hành lang (chiếm hơn 50%), trong cơ
cấu GDP của thành phố dịch vụ đóng góp tới 52,0%, công nghiệp 44,2%, còn nông
nghiệp chỉ chiếm 3,8%. Điều này góp phần quan trọng trong việc hình thành cơ cấu
kinh tế tiến bộ của HLKTĐ-TVN.
– Ở khía cạnh cơ cấu theo thành phần kinh tế, Đà Nẵng cũng đóng vai trò chủ
đạo. Năm 2007, G DP khu vực kinh tế nhà nước của thành phố chiếm tới 63% GDP
khu vực kinh tế nhà nước của toàn hành lang, tương tự như vậy, khu vực ngoài nhà
nước chiếm 41,0% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 46,0%.
* TP Đà Nẵng là trung tâm công ngh iệp lớn nhất của vùng kinh
tế trọng điểm miền Trung và của HLKTĐ-TVN
– TP Đà Nẵng là một trong hai trung tâm công nghiệp lớn nhất trong hành
lang kinh tế Đông Tây và là trung tâm công nghiệp lớn nhất của vùng kinh tế trọng
điểm miền Trung và của HLK TĐ-TVN. Công nghiệp đã tạ o ra 44,2% trong tổng
GDP của thành phố, và luôn chiếm từ 60 – 70% giá t rị sản xuất công nghiệp của
HLKTĐ-TVN.
Bảng 2. Giá trị sản xuất công nghiệp (GTSXCN) của TP
Đà Nẵng trong HLKTĐ-TVN giai đoạn 2000 – 2 0 0 9 [2]
2000 2005 2007 2008 2009
GTSXCN Đà Nẵng (Tỉ đồng
- giá thực tế)
4197,3 11850,2 13900,0 20077,0 22934,0
Đóng góp vào GTSXCN toàn
hành lang
64,1 69,5 65,4 65,7 63,7

và gần 4 lần của Thừa Thiên – Huế.
Bảng 3. Đóng góp vào tổng kim ngạch xuất nh ậ p khẩu của TP
Đà Nẵn g trong HLKTĐ-TVN, giai đoạn 2000 – 2009 [5]
2000 2005 2007 2009
Tổng kim ngạch XNK Đà Nẵng
(Triệu USD)
551,7 787,1 991,7 991,7
% trong HLKTĐ-TVN 86,4 83,0 83,0 75,0
Cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu và quan hệ thương mại với các nước của Đà
Nẵng là biểu hiện chủ yếu trong hoạt động ngoạ i thương của HLKTĐ-TVN. Trong
những năm qua xuất khẩu đã có nhiều cải thiện và đạt những kết quả khả quan. Tỷ
trọng hàng xuất khẩu có hàm lượng tinh chế và chế biến liên tục tăng đạt khoảng
gần 60%. Điều đáng chú ý nhất là kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp
chế biến và dịch vụ tăng nhanh tạo sự chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng
tích cực. Trong cơ cấu hàng xuất khẩu của thành phố năm 20 09, các sản phẩm nông
nghiệp chiếm 10,7%, hàng thủy sản chế biến chiếm 15,1%, hàng công nghiệp và tiểu
thủ công nghiệp chiếm 6 8 ,4 % với các mặt hàng chủ yếu là sản phẩm may mặc, giày
các loại, thực phẩm chế biến, đồ chơi trẻ em, dăm gỗ, đèn cầy Thị trường được
mở rộng theo hướng đa phương hóa quan hệ kinh tế, tích cực thâm nhập các thị
trường truyền thống và phát triển thị trường mới. Đến nay, Đà Nẵng đã có quan hệ
166
Vai trò của thành phố Đà Nẵng trong sự phát triển hành lang kinh tế
thương mại với hơn 70 quốc gia và vùng lãnh thổ, tăng bình quân 6 thị trường/năm.
Đây là một trong những yếu tố có tầm quan trọng đặc biệt trong việc duy trì tốc
độ tăng trưởng xuất khẩu cao và ổn định trong thời gian tương đối dài. Xuất khẩu
của Đà Nẵng chủ yếu hướng vào những thị trường có sức nhập khẩu lớn: Nhật Bản,
EU, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Đài Loan và đã có sự chuyển dịch từ EU sang Đông
Bắc Á và Hoa Kỳ. Nhập khẩu của Đà Nẵng không ngừng tăng lên để đáp ứng nhu
cầu phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế trong vùng hành lang. Các mặt hàng nhập
khẩu chủ yếu là phụ liệu may mặc, sắt thép, phân bón, hóa chất, hàng điện tử

hình cơ cấu kinh tế của hành lang; là nơi tập trung các hoạt động sản xuất công
167
Trương Văn Cảnh
nghiệp và dịch vụ (nhất là hoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư nước ngoài). Cùng
với Kon Kaen của Thái Lan, Đà Nẵng trở thành một trong hai trung tâm kinh tế
phát triển nhất của hành lang kinh tế Đông – Tây.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bộ Kế hoạch – Đầu tư, 2007. Quy hoạch phát triển hành lang kinh tế Côn Minh
– Lào Cai – Hà Nội – Hải Ph òng.
[2] Cục Thống kê các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế và Tp Đà Nẵng, 2010.
Niên giám Thống k ê tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, Tp Đà Nẵng 2009. Nxb
Thống kê.
[3] Nguyễn Xuân Thắng, 2006. Hành lang kinh tế và hành lang kinh tế Đông – Tây,
một số vấn đề lí luận và giải pháp. Viện Kinh tế và Chính trị thế giới.
[4] Tổng cục Thống kê, 2006. Tư liệu kinh tế - xã hội 671 huyện, quận , thị xã, thành
phố trực thuộc tỉnh Việt Nam. Nxb Thống kê.
[5] Tổng cục Thống kê, 2010. Niên giám thống kê Việt Nam 200 9 . Nxb Thống kê.
[6] Viện Chiến lượ c và Phát triển, Sở Kế hoạch – Đầu tư thành phố Đà Nẵng, 2005.
Tác động của hành lang kinh tế Đôn g – Tây đến phát triển kinh tế - x ã hội và quá
trình hội nhập thành phố Đà Nẵng. Hà Nội.
[7] Lê Thông (chủ biên), 2002. Địa lí các tỉnh và thành phố Việt Nam, tập 4 (Các
tỉnh và thành phố Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên). Nxb Giá o Dục.
[8] Websitwe: danang.gov.vn
ABSTRACT
The role of Danang Da Nang in the development
of the V ietnam East-West economic corridor
Da Nang is an important location which is the east gateway of the east-west
economic corridor going throughout the East Sea. In addition, it has relatively multi-
form natural resources, self-motivated and qualitative labour, perfect infrastructure,
clear policies. Da Nang has become a great centre of economics in the east-west eco-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status