LỜI MỞ ĐẦU
Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đã trải qua nhiều giai đoạn. Trong giai
đoạn độc quyền chủ nghĩa, một biểu hiện quan trọng của chủ nghĩa tư bản là sự
ra đời của các tổ chức độc quyền. Khi các tổ chức này bành trướng các hoạt
động của mình ra khỏi phạm vi biên giới một quốc gia, chúng trở thành các tổ
chức độc quyền quốc tế, hay tổ chức độc quyền xuyên quốc gia.
Ngày nay, các tổ chức độc quyền xuyên quốc gia tồn tại dưới hình thức
mới, các công ty xuyên quốc gia. Các công ty này có vai trò quan trọng trong
đời sống kinh tế thế giới và ngày càng trở thành lực lượng cơ bản vận hành nền
kinh tế thế giới. Chính vì vậy các công ty xuyên quốc gia đã trở thành chủ đề thu
hút sự quan tâm của không chỉ các học giả, mà cả các doanh nhân và giới chính
khách của hầu hết các quốc gia.
Các công ty xuyên quốc gia của chủ nghĩa tư bản hiện đại được xem như
là một hình thức vận động mới của độc quyền tư bản chủ nghĩa. Việc nghiên
cứu các công ty xuyên quốc gia nhằm hiểu rõ thêm đặc điểm của chủ nghĩa tư
bản ngày nay.
Xét ở góc độ rộng hơn các công ty xuyên quốc gia chính là hình thức vận
động của quan hệ sản xuất quốc tế. Việc nghiên cứu các công ty xuyên quỗc gia
sẽ giúp ta hiểu rõ sự tác động của chúng tới nền kinh tế Việt Nam và qua đó có
các giải pháp đúng đắn để phát triển nền kinh tế nước ta. Chính vì vậy, trong
phạm vi một bài đề án kinh tế chính trị, đề tài “ Bản chất và vai trò của các tổ
chức độc quyền xuyên quốc gia” nhằm có được cái nhìn đúng đắn hơn về các
công ty xuyên quốc gia.
1
NỘI DUNG
1. Bản chất và quá trình phát triển của các công ty xuyên quốc gia
1.1. Khái niệm, quá trình hình thành và phát triển
a.Khái niệm
Có nhiều quan niệm khác nhau về các công ty xuyên quốc gia đồng thời
cũng tồn tại nhiều tên gọi khác nhau để chỉ các công ty hoạt động sản xuất kinh
c. Quá trình hình thành và phát triển của các công ty xuyên quốc gia
Xét cả về logic và lịch sử, sự ra đời của các công ty xuyên quốc gia trên
thế giới gắn liền với sự ra đời và phát triển của sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa.
Về thực chất chúng là sự phát triển cao của chế độ xí nghiệp tư bản chủ nghĩa, là
sự vận động mở rộng và sâu sắc hơn của các quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa,
khi các mối quan hệ kinh tế vượt dần ra khỏi phạm vi quốc gia và gia nhập vào
guồng máy sản xuất kinh doanh quốc tế ngày càng phát triển.
Khi nghiên cứu về chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, C.Mác và P.
Ăngghen đã dự đoán rằng; tích tụ và tập trung tư bản thông qua hiệp tác giản
đơn và công trường thủ công, cùng với sự phân công lao động ngày một hoàn
thiện tất yếu sẽ dẫn đến sự ra đời những xí nghiệp tư bản chủ nghĩa có quy mô
lớn và sự cạnh tranh của những xí nghiệp này ngày càng trở nên gay gắt. Sự
cạnh tranh giữa các xí nghiệp tất yếu sẽ đưa đến kết quả là các xí nghiệp nhỏ và
vừa bị phá sản hoặc sáp nhập với nhau để thành những xí nghiệp lớn hơn và
theo đó, quá trình tập trung tư bản được đẩy mạnh hơn một bước.
Hình thức hiệp tác giản đơn và công trường thủ công là những hình thức
tổ chức sản xuất đầu tiên của chế độ xí nghiệp tư bản chủ nghĩa. Những người
thợ thủ công được tổ chức, sắp xếp vào dây chuyền sản xuất bằng hai cách: liên
kết theo chiều ngang và liên kết theo chiều dọc qua đó thực hiện chuyên môn
hoá sản xuất và thực hiện phân công lao động. Việc quản lý trong công trường
thủ công do người sở hữu xí nghiệp gánh vác. Tuy tính chất và quy mô của loại
3
xí nghiệp như vậy còn hết sức đơn giản và nguyên thủy nhưng nó đã trở thành
cơ sở để công trường thủ công thay thế cho cơ chế trao đổi của thị trường. Chế
độ công trường thủ công là hình thức phôi thai tế bào của xí nghiệp hiện đại và
đi cùng với nó, quá trình tích tụ và tập trung sản xuất dưới tác động của quy luật
thị trường cũng diễn ra ngay thời kì đầu xuất hiện của các hình thức sản xuất tư
bản chủ nghĩa.
Chế độ xí nghiệp là chế độ điển hình sinh ra trong cuộc cách mạng công
nghiệp lần thứ nhất. Cùng với chế độ tự do cạnh tranh của thị trường phát triển
công thương hiện đại. Xí nghiệp công thương hiện đại đã từng bước thay thế cho
tổ chức xí nghiệp đơn nhất truyền thống và trở thành hình thức điển hình, thích
ứng với sự phát triển kĩ thuật hiện đại và đặc điểm thị trường được quốc tế hóa
ngày càng mở rộng. Đến những thập kỉ 50, 60 một loạt các xí nghiệp hiện đại
khổng lồ đã khống chế các ngành kinh tế then chốt và trở thành các tập đoàn độc
quyền quốc gia. Chúng trở thành lực lượng chủ yếu chi phối nền kinh tế rhế
giới.
Các xí nghiệp công thương hiện đại có quy mô, mức độ phức tạp trong
quản lý và phạm vi phân công trong nội bộ cực kì lớn mà không có bất kì một xí
nghiệp nào trước đây có thể sánh kịp. Mức tiêu thụ hàng năm của một xí nghiệp
công thương hiện đại thậm chí còn vượt tổng giá trị thu nhập quốc dân của một
số nước vừa và nhỏ. Phạm vi phân công lao động của nó ngày càng mở rộng. Và
đến khi phạm vi địa lý của sự phân công nội bộ xí nghiệp công thương hiện đại
vượt quá biên giới quốc gia thì các công ty xuyên quốc gia hình thành. Có thể
nói, các công ty xuyên quốc gia là tổ chức độc quyền quốc tế kiểu mới, là hình
thức độc quyền quốc tế chủ yếu ngày nay.
Ngày nay các công ty xuyên quốc gia xuất hiện ở mọi lĩnh vực trong đời
sống con người. Chúng ta có thể bắt gặp những thương hiệu của các công ty
xuyên quốc gia ở mọi nơi như Microsoft, Coca-Cola, hay Honda…Chúng đã
thâm nhập mạnh mẽ vào đời sống kinh tế của hầu hết các quốc gia trên thế giới
5
và có những ảnh hưởng nhất định. Chúng đã trở thành một nhân tố quan trọng
trong sự phát triển của nền kinh tế thế giới.
1.2. Bản chất và đặc trưng của các công ty xuyên quốc gia
a. Bản chất của công ty độc quyền xuyên quốc gia
Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, tư
bản ở các nước tư bản phát triển đã dẫn đến những biến đổi quan trọng về lượng
và chất trong các mặt quan hệ sản xuất, mà khâu quan trọng nhất là các quan hệ
sở hữu. Vì vậy khi nghiên cứu bản chất các công ty xuyên quốc gia trên thế giới
cần xuất phát từ những vấn đề này.
chất của các công ty xuyên quốc gia đựoc thể hiện qua hai thay đổi lớn trong các
quan hệ sở hữu:
Một là, sở hữu độc quyền siêu quốc gia là hình thức sở hữu hỗn hợp đã
được quốc tế hóa. Đây là một hình thức sở hữu mang tính khách quan tạo nên
bởi quá trình tích tụ, tập trung hóa và xã hội hóa sản xuất trên quy mô quốc tế
của chủ nghĩa tư bản dưới sự tác động mạnh mẽ và sâu sắc của cuộc cách mạng
khoa học công nghệ và của các quy luật cạnh tranh, quy luật kinh tế cơ bản của
chủ nghĩa tư bản. Tồn tại dưới hình thức các tổ hợp đa ngành khác nhau như
concern và conglomerate, hiện nay có tới trên 70% các xí nghiệp chi nhánh của
chúng là các xí nghiệp liên doanh với số lượng các chủ đồng sở hữu từ 2 tới 4
nước hoặc nhiều hơn nữa với những tỉ lệ góp vốn khác nhau. Điều này phản ánh
tính chất đa dạng phức tạp và tính chất hỗn hợp của loại hình sở hữu xuyên quốc
gia.
Hai là, sở hữu hỗn hợp, được tạo ra do sự thay đổi về căn bản địa vị, vai
trò của người công nhân, trí thức, những người làm việc trực tiếp trong các
ngành nghề khác nhau, nhất là những ngành có hàm lượng khoa học và công
nghệ cao, là những người quyết định chất lượng của lao động và sản xuất. Loại
hình này diễn ra theo hướng tăng đáng kể số người có cổ phần trong công ty
nhưng tỉ trọng sở hữu cổ phần trong tổng số vốn kinh doanh không lớn.
7
Như vậy, sự biến đổi của hình thức sở hữu trong công ty xuyên quốc gia
là thay đổi rất căn bản đặc trưng của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong
chủ nghĩa tư bản hiện đại. Có thể thấy rằng, các công ty xuyên quốc gia không
còn là sở hữu của một người hay một nước nữa, mà là sở hữu hỗn hợp quốc tế
nhưng vẫn có một quốc tịch nhất định.
Về thực chất, việc xuất hiện các loại hình sở hữu trên là kết quả của sự
biến đổi dưới sự tác động của quy luật về sự phù hợp giữa sự phát triển lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất mà C.Mác đã vạch ra ở thế kỉ trước. Tuy
người công nhân đã trở thành một chủ sở hữu kinh tế trong các công ty xuyên
quốc gia nhưng sở hữu của các nhà tư bản vẫn giữ vị trí trọng yếu, còn sở hữu
đúng yêu cầu và thị hiếu đa dạng của khách hàng.
- Phi chuyên môn hóa : tức là việc sản xuất sản phẩm được tổ chức quản
lý theo phương thức chế tạo tổ hợp các khối cấu kiện, phụ kiện, chứ không từ
hàng trăm hàng ngàn cấu kiện, phụ kiện được sản xuất chuyên môn hóa như
trước.
- Phi tập trung hóa : là quá trình sản xuất được phân bố và tổ chức quản lý
trên diện rộng trong các chi nhánh đơn vị sản xuất vừa và nhỏ, với các nguồn
nhân lực, vật lực và tài lực phân tán trên quy mô quốc gia và quốc tế. Với mục
tiêu không chỉ sản xuất ra các sản phẩm với giá thành thấp trong phạm vi một
nước mà với giá thành thấp trên phạm vi toàn cầu, các công ty xuyên quốc gia
đã tiến hành tổ chức và quản lý việc phân công lao động và sản xuất vượt qua
các đường biên giới giữa các quốc gia.
- Tổ chức quản lý từ xa: là việc tổ chức quản lý đồng thời và rộng rãi cùng
ở một nơi nhiều loại hình sản xuất và dịch vụ khác nhau. Hoạt động từ xa sẽ
được tăng cường mạnh mẽ và những cản trở của hàng rào không gian và khoảng
cách giữa nơi làm việc và nơi ở, thời gian làm việc và giải trí đang và sẽ được
phá bỏ hoàn toàn.
- Quốc tế hóa và toàn cầu hóa hoạt động tổ chức quản lý: trong nền kinh
tế mới mang tính chất toàn cầu, tất cả các yếu tố như vốn tư bản, các thị trường,
9
lao động, thông tin và công nghệ đều được tổ chức quản lý xuyên qua các đường
biên giới quốc gia. Cái mới không phải chỉ ở chỗ thương mại quốc tế là một bộ
phận quan trọng của nền kinh tế một nước, mà là ở chỗ nền kinh tế đó bắt đầu
hoạt động với tư cách thực sự là một đơn vị ở cấp toàn cầu. Việc tổ chức và
quản lý các hoạt động sản xuất, kinh doanh, thương mại và dịch vụ không những
đã được quốc tế hóa, mà còn đang được toàn cầu hóa trong quá trình thâm nhập
qua lại giữa các hoạt động kinh tế và nền kinh tế của các quốc gia trên quy mô
thế giới. Trong đó, các công ty xuyên quốc gia có vai trò và lợi thế to lớn, do
chúng có nhiều ưu thế về nguồn lực và các tri thức, thông tin cần thiết đối với
việc tổ chức quản lý sản xuất và tiêu thụ các hàng hóa và dịch vụ trên quy mô
vào thập kỉ 80 : Isuzu bán 34% cổ phần của mình cho GMC, vì đang gặp khó
khăn trong việc chuyển từ sản xuất xe tải, xe buýt sang xe con. Còn với GMC
nếu mua được cổ phần của Isuzu sẽ giúp cho việc thâm nhập vào thị trường
Nhật Bản, củng cố được mặt hàng của mình. Hiện nay hình thức liên doanh
thường chiếm tỷ trọng lớn (60-70%, thậm chí có trường hợp 85% tổng số dự án
đầu tư nước ngoài), vì hình thức này có nhiều nhân tố làm tăng hiệu suất của tư
bản.
Ngoài hai hình thức chủ yếu trên, các công ty xuyên quốc gia còn thực
hiện các hình thức khác, như thông qua các hợp đồng gia công để chuyển giao
một số công đoạn sản xuất ra nước ngoài nhằm thực hiện chuyên môn hóa sản
phẩm, tận dụng các lợi thế như giá lao động, giá nguyên vật liệu rẻ, tiết kiệm chi
phí vận chuyển, khắc phục khó khăn về thuế quan…Hiện nay hầu hết các công
ty xuyên quốc gia đều thực hiện cách này. Ví dụ như công ty Ford Motor có tới
25.000 đơn vị sản xuất gia công ở khắp các nước trên thế giới.
Để thực hiện cắm nhánh ngoại quốc các công ty xuyên quốc gia thường
sử dụng một số hình thức nêu trên đồng thời với chiến lược hết sức linh hoạt, mà
đáng chú ý là một số chiến lược sau:
- Chiến lược đối với khu vực địa lý : Nhìn chung các công ty xuyên quốc
gia tập trung vào các nước tư bản phát triển nhiều hơn so với các nước đang phát
11
triển. Sở dĩ có xu hướng như vậy là vì trong điều kiện tác động của cuộc cách
mạng khoa học công nghệ đã xuất hiện nhiều ngành mới, trong khi đó các nước
đang phát triển (trừ các nước công nghiệp mới) do trình độ lạc hậu nên không đủ
điều kiện tiếp nhận đầu tư. Hầu hết các ngành được chuyển dịch sang các nước
đang phát triển là các ngành đã hao mòn vô hình, giá trị thấp cũng góp phần làm
cho tỉ trọng vốn giảm đi. Mặt khác, trong điều kiện hiện nay lĩnh vực cạnh tranh
là những ngành hiện đại, trong khi đó các nước đang phát triển không phải là đối
thủ cạnh tranh, hơn nữa mức thu nhập thấp làm cho mức tiêu thụ sản phẩm cao
cấp còn hạn chế. Điều đó đã làm thay đổi hướng đầu tư của các công ty xuyên
quốc gia.
chuyên môn hóa.
Ngoài đặc trưng cắm nhánh kể trên, do trình độ phát triển sản xuất kinh
doanh tư bản chủ nghĩa, nhất là trình độ quản lýkinh doanh và một số đặc điểm
riêng, như văn hóa, tập quán và truyền thống… mà các công ty xuyên quốc gia
của các nước có những nét đặc trưng khác nhau nhất định. Thực ra, sự khác
nhau này trong hệ thống quản lý, hay cơ chế quản lý của các công ty xuyên quốc
gia của các nước là có tính tương đối.
Mỗi nước khác nhau thì cơ chế hoạt động và quản lý của các công ty
xuyên quốc gia ở những nước này cũng có những nét khác nhau nhất định do sự
khác biệt về truyền thống, văn hóa…Nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đã đưa
ra một số đặc trưng chủ yếu về quản lý của các công ty xuyên quốc gia phương
Đông và phương Tây như sau :
- Các công ty phương Tây :
+ Không có xu hướng sử dụng lao động dài hạn.
+ Sự thăng tiến của người lao động chủ yếu dựa trên cơ sở khả năng của
cá nhân.
+ Nhấn mạnh vai trò của cá nhân, cá nhân ra quyết định là chủ yếu
+ Chú trọng đến lợi nhuận ngắn hạn, trên cơ sở chiến lược phát triển dài
hạn.
13
+ Cởi mở hơn, sẵn lòng đương đầu với khó khăn.
- Các công ty phương Đông:
+ Có xu hướng sử dụng lao động dài hạn thậm chí cả cuộc đời làm việc
gắn với một công ty.
+ Sự thăng tiến của người lao động chủ yếu dựa trên thâm niên công tác.
+ Nhấn mạnh vai trò trách nhiệm tập thể và phương thức ra quyết định
quản lý chủ yếu là tập thể.
+ Có xu hướng chú trọng đến khối lượng hơn là chất lượng.
+ Coi trọng kinh nghiệm, mối quan hệ và liên hệ gia đình.
2. Vai trò của các công ty xuyên quốc gia
này đã lên tới 352 triệu USD và năm 1997 là 1500 triệu USD. Trong 10 tháng
đầu năm 1998, mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài đã xuất khẩu được 1625 triệu USD, chiếm gần 22% tổng kim
ngạch xuất khẩu của cả nước.
Tuy có một số đóng góp đáng kể đối với việc thúc đẩy thương mại thế
giới nhưng các công ty xuyên quốc gia cũng có những mặt trái không thể tránh
khỏi. Đó là do quá chạy theo mục đích lợi nhuận, các công ty xuyên quốc gia đã
làm biến dạng mối quan hệ hàng hóa tiền tệ, gây ra những hiện tượng tiêu cực
với quy mô thế giới. Cụ thể là dựa vào tiềm lực kinh tế to lớn, với hàng trăm tỷ
đôla trong tay, với những nguồn nguyên liệu, nhiên liệu dồi dào đặt dưới sự
kiểm soát của mình, các công ty xuyên quốc gia đã thực hiện những hoạt động
đầu cơ, nâng giá, trao đổi nội bộ giữa các chi nhánh mà khối lượng trao đổi này
thường rất lớn, có khi chiếm tới 60% tổng khối lượng hàng hóa luân chuyển của
các công ty xuyên quốc gia. Điều đó gây nên tình hình mất ổn định trong lưu
thông hàng hóa, cũng như nền tài chính – tiền tệ của thế giới. Người ta có thể
15
thấy là các cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ, như khủng hoảng thị trường
chứng khoán, cũng như sự bùng nổ về nợ nần của thế giới thứ ba… đều có
nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp từ sự lũng đoạn của các công ty xuyên
quốc gia. Đặc biệt là trong điều kiện nền kinh tế mở cửa, việc tự do đầu tư vào
thị trường cổ phiếu, một mặt giúp cho các nước chủ nhà có thêm nguồn vốn đầu
tư lớn, song cũng có thể khiến cho các nước này bị một số công ty xuyên quốc
gia sử dụng các hành vi mờ ám để kiếm lời. Chính vì vậy không chỉ những nước
đang phát triển mà ngay cả các nước tư bản phát triển đều hết sức quan tâm đến
việc đưa ra những luật lệ ngăn cấm sự lộng hành của các công ty xuyên quốc
gia, trong đó lĩnh vực lưu thông hàng hóa và tiền tệ được nhấn mạnh nhiều nhất.
Như vậy, vai trò của các công ty xuyên quốc gia đối với thương mại thế
giới có thể tóm tắt như sau:
- Tỷ trọng trao đổi của các công ty xuyên quốc gia ngày càng lớn trong
tổng giá trị thương mại thế giới. Sản phẩm trao đổi của công ty xuyên quốc gia