MỤC LỤC
Trang
Lời nói đầu………………………………………………………. 4
Phần 1: Cơ sở lý luận về các giải pháp làm tăng doanh thu…… 5
I - Quản lý trong kinh doanh……………………………………... 5
II - Các lĩnh vực quản lý…………………………………………… 6
1 – Quản lý Marketing…………………………………………… 6
a. Khái niệm cơ bản của marketing…………………………… 6
b. Vai trò của marketing trong hoạt động kinh doanh………... 8
c. Quản trị marketing…………………………………………. 10
d. Marketing Mix……………………………………………... 12
2 – Quản lý sản xuất……………………………………………… 16
3 – Quản lý hoạt động nghiên cứu và phát triển…………………. 17
4 – Quản lý tài chính tổ chức…………………………………….. 17
5 – Quản lý nguồn nhân lực……………………………………… 18
6 – Quản lý chất lượng…………………………………………… 18
III - Thị trường và các đặc trưng của thị trường………………….. 19
1 – Thị trường……………………………………………………. 19
2 – Đặc trưng của thị trường……………………………………... 21
Phần 2: Thực trạng sản xuất và kinh doanh sách tại hiệu sách
Hồ Gươm 33 Hàng Bài……………………………………...
23
I - Tổng quan về Công ty cổ phần Mỹ thuật và vật phẩm văn
hóa Hà Nội……………………………………………………...
23
1 – Quá trình hình thành và phát triển công ty…………………… 23
2 – Hệ thống tổ chức và hoạt động sản xuất, kinh doanh………... 26
3 – Chức năng, nhiệm vụ………………………………………… 26
4 – Môi trường hoạt động của công ty…………………………… 29
II - Thực trạng kinh doanh sách tại hiệu sách Hồ Gươm 33 Hàng
Bài…….…………………………………………………… 31
động này.
“Liên tục phát triển” là mục tiêu mà mọi doanh nghiệp đều mong muốn vì
chỉ có phát triển doanh nghiệp mới có thể tồn tại trên thị trường. Trong một nền
kinh tế cạnh tranh khốc liệt như hiện nay “phát triển” đồng nghĩa với việc mở
rộng và khai thác triệt để thị trường. Để làm được điều này doanh nghiệp cần có
một đường lối, một chiến lược phù hợp với khả năng và đặc tính của từng doanh
nghiệp trong giai đoạn phát triển cụ thể.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này và qua thời gian công tác
tại Hiệu sách Hồ Gươm 33 Hàng Bài, trực thuộc Công ty cổ phần Mỹ thuật và
vật phẩm văn hóa Hà Nội em đã chọn đề tài: “Một số thực trạng và giải pháp
làm tăng doanh thu tại hiệu sách Hồ Gươm” với mục đích đi sâu và tìm hiểu
xung quanh những vấn đề sản xuất và kinh doanh tại hiệu sách này của thị
trường và thực trạng ở hiệu sách sách để từ đó để xuất một số kiến nghị và giải
pháp cụ thể với hy vọng góp phần làm tăng doanh thu của cửa hàng đồng thời
hoàn thành được chỉ tiêu của công ty giao.
Chuyên đề được chia làm ba phần:
Phần 1: Cơ sở lý luận về các giải pháp làm tăng doanh thu
Phần 2: Thực trạng kinh doanh sách tại Hiệu sách 33 Hàng Bài (kênh bán buôn)
Phần 3: Một số giải pháp và kiến nghị làm tăng doanh thu tại hiệu sách Hồ
Gươm
Do thời gian và trình độ có hạn nên bài viết có thể còn thiếu sót, chưa
hoàn chỉnh. Vậy em kính mong các thầy cô giáo giúp đỡ để em hoàn thiện hơn
bài viết của mình.
Phần 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC GIẢI PHÁP LÀM TĂNG
DOANH THU
I. QUẢN LÝ TRONG KINH DOANH
Hoạt động quản lý là một loại hoạt động xã hội với phạm vi rộng rãi.
Nhìn theo chiều dọc, hoạt động quản lý vốn có một lịch sử lâu dài, dù là thời cổ
đại hay hiện đại, chỉ cần nhiều người cùng lao động với nhau thì cần có sự quản
Cho đến nay nhiều người vẫn lầm tưởng marketing với việc chào hàng
(tiếp thị), bán hàng và các hoạt động kích thích tiêu thụ. Vì vậy họ quan niệm
marketing chẳng qua là hệ thống các biện pháp mà người bán hàng sử dụng để
làm sao bán được hàng và thu được tiền về.
Thực ra tiêu thụ chỉ là một khâu trong những khâu của hoạt động
marketing của doanh nghiệp, mà hơn thế nữa đó không phải là khâu quan trọng
nhất. Một hàng hoá kém thích hợp với đòi hỏi của người tiêu dùng, chất lượng
thấp, kiểu dáng kém hấp dẫn, giá cả đắt… thì dù cho người ta có tốn bao nhiêu
công sức và tiền của để thuyết phục khách hàng thì việc mua chúng vẫn rất hạn
chế. Ngược lại nếu như nhà kinh doanh tìm hiểu kỹ lưỡng nhu cầu của khách
hàng, tạo ra những mặt hàng phù hợp với nó, quy định một mức giá thích hợp,
có một phương thức phân phối hấp dẫn và kích thích tiêu thụ có hiệu quả thì
chắc chắn việc bán những hàng hoá đó sẽ trở nên dễ dàng. Các làm như vậy thể
hiện sự ứng dụng marketing hiện đại. Marketing hiện đại được định nghĩa như
sau:
Marketing là làm việc với thị trường để thực hiện các cuộc trao đổi với
mục đích thoả mãn những nhu cầu và mong muốn của con người hoặc marketing
là một dạng hoạt động của con người (bao gồm cả tổ chức) nhằm thoả mãn các
nhu cầu và mong muốn thông qua trao đổi.
Marketing không chỉ là một chức năng trong hoạt động kinh doanh, nó là
một hoạt động dẫn dắt toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp trong việc phát hiện
ra, đáp ứng và làm thoả mãn cho nhu cầu của khách hàng. Hoạt động marketing
là chìa khoá dẫn tới thành công của bất kỳ doanh nghiệp nào. Để đạt được hiệu
quả cao, hoạt động marketing phải hướng vào khách hàng. Đặt người tiêu dùng
vào vị trí trung tâm, ưu tiên hàng đầu.
Marketing hiệu quả thường được mô tả là “làm ra những gì bạn có thể bán
được, chứ không phải bán những gì bạn có thể làm ra được”. Các doanh nghiệp
bán những gì mà họ có thể làm ra là doanh nghiệp định hướng sản phẩm: họ làm
ra sản phẩm trước, sau đó mới xem xét tới khách hàng, và coi hoạt động
marketing đơn thuần là một công cụ thuyết phục khách hàng mua sản phẩm. Các
marketing, đề ra các mục tiêu chiến lược, chẳng hạn như công ty quyết định
vươn lên vị trí dẫn đầu về chất lượng một loại sản phẩm nào đó, để thu hút
những khách hàng có thu nhập cao. Khi đó, để tránh rơi vào mơ tưởng, thì công
ty buộc phải cân nhắc xem khả năng vốn liếng như thế nào, công nghệ và kỹ
thuật ra sao, trình độ tay nghề của công nhân có đáp ứng yêu cầu hay không?
Nếu như tất cả, hoặc thậm chí một mặt nào đó không thể đáp ứng được thì dù
chức năng marketing có phát hiện ra một tập hợp khách hàng đầy tiềm năng và
hấp dẫn thì nó cũng trở nên vô nghĩa. Nhưng nói chung chức năng marketing
của doanh nghiệp luôn luôn chỉ cho doanh nghiệp biết rõ những nội dung cơ bản
sau đây:
* Khách hàng của doanh nghiệp là ai? Họ sống và mua hàng ở đâu? Họ là
nam hay nữ? Già hay trẻ? Họ mua bao nhiêu? Vì sao họ mua?…
* Họ cần loại hàng hoá nào? Loại hàng hoá đó có những đặc tính gì? Bao
gói ra sao? Vì sao họ cần những đặc tính đó mà không phải là những đặc tính
khác, những đặc tính hiện thời của hàng hoá còn thích hợp với khách hàng
nữa không? So với hàng hoá của nhãn hiệu cạnh tranh, hàng hoá của doanh
nghiệp có những ưu thế và hạn chế gì? Có cần phải thay đổi hàng hoá không?
Thay đổi yếu tố và đặc tính nào? Nếu không thay đổi thì sao? Nếu thay đổi
thì có thể sẽ gặp những điều gì?
* Giá hàng của doanh nghiệp nên quy định là bao nhiêu? Tại sao lại quy
định mức giá như vậy mà không phải là mức giá khác? Mức giá trước đây
còn thích hợp không? Nên tăng giá hay giảm giá? Khi nào tăng? Khi nào
giảm? Tăng giảm bao nhiêu? Ở đâu tăng giá? Ở đâu giảm giá? Giảm giá và
tăng giá đối với ai?…
* Doanh nghiệp nên tự tổ chức lực lượng bán hàng hay dựa vào lực lượng
khác? Nếu dựa vào lực lượng khác (bán buôn, bán lẻ, đại lý…) thì cụ thể là
ai? Dựa vào bao nhiêu người? Dựa vào lực lượng bán hàng trong nước hay
nước ngoài? Khi nào thì đưa hàng hoá ra thị trường, đưa khối lượng là bao
nhiêu?…
* Làm thế nào để khách hàng biết, mua và yêu thích hàng hoá của doanh
“Quản trị marketing là phân tích, lập kế hoạch, thực hiện và kiểm tra việc
thi hành các biện pháp nhằm thiếp lập, củng cố, duy trì và phát triển những cuộc
trao đổi có lợi với những người mua đã được lựa chọn để đạt được những mục
tiêu đã định của doanh nghiệp”.
Marketing có vai trò rất to lớn, nhưng không phải ngay từ đầu đã phát
triển thành một lý thuyết hoàn chỉnh, và trong thực tiễn hiện nay không phải
doanh nghiệp nào cũng nhận thức được đầy đủ và áp dụng đúng marketing vào
quản trị kinh doanh của doanh nghiệp. Xét về mặt lịch sử sự ra đời, lý thuyết
marketing hiện đại và ứng dụng nó là một quá trình. Quá trình đó gắn liền với
việc tìm kiếm các phương pháp quản trị doanh nghiệp hướng ra thị trường. Cho
đến nay người ta đã tổng kết từ trong thực tiễn tồn tại năm quan điểm quản trị
marketing.
- Quan điểm tập trung vào sản xuất: Người tiêu dùng sẽ ưa thích nhiều sản
phẩm được bán rộng rãi với giá hạ. Vì vậy, những nhà quản trị các doanh
nghiệp cần phải tập trung vào việc tăng quy mô sản xuất và mở rộng phạm
vi tiêu thụ. Ở đây người ta cho rằng điều mấu chốt nhất quyết định sự
thành công của doanh nghiệp là số lượng sản phẩm sản xuất ra nhiều và
mức giá bán thấp. Quan điểm này chỉ tạo ra sự thành công cho doanh
nghiệp trong trường hợp nhu cầu mua sắm về sản phẩm vượt quá khả
năng cung ứng và giá thành hay chi phí sản xuất hiện tại còn cao, có thể
hạ được về lợi thế về quy mô. Ngoài hai trường hợp đó khó có gì đảm bảo
cho sự thành công của doanh nghiệp khi đi theo quan điểm này.
- Quan điểm tập trung vào hoàn thiện sản phẩm: “Người tiêu dùng luôn ưa
thích những sản phẩm có chất lượng cao nhất, nhiều công dụng và tính
năng mới. Vì vậy, các nhà quản trị doanh nghiệp muốn thành công phải
luôn tập trung mọi nguồn lực vào việc tạo ra các sản phẩm có chất lượng
hoàn hảo nhất và thường xuyên cải tiến chúng”. Theo quan điểm này, yếu
tố quyết định sự thành công của một doanh nghiệp chính là vai trò dẫn
đầu về chất lượng và đặc tính sản phẩm hiện có.
- Quan điểm tập trung vào bán hàng: “Người tiêu dùng thường bảo thủ và
* Sản phẩm hoặc dịch vụ:
Sản phẩm là mọi thứ có thể được chào bán trên thị trường theo cách được
nhận biết, bán, sử dụng hoặc tiêu thụ với mục đích thoả mãn một nhu cầu nào
đó. Sản phẩm có thể là vật chất, dịch vụ, địa điểm, tổ chức, ý tưởng…Dịch vụ là
một hành động hoặc một sự trợ giúp, trình diễn được đem ra trao đổi, cơ bản là
Product (sản phẩm hoặc dịch vụ) –
P1
Marketing
mix
Price (giá) – P2
Place (phân phối) – P3
Promotion (xúc tiến) – P4
vô hình và không dẫn tới bất kể sự chuyển giao tài sản nào. Một dịch vụ có thể
được hoặc không kết hợp với một sản phẩm vật chất nào.
Khách hàng mua sản phẩm để đáp ứng nhu cầu. Đó có thể là nhu cầu thực
tế (như tẩy, xoá vết bẩn); nhu cầu cảm xúc (để cảm thấy mình đẹp hơn); hoặc
nhu cầu cơ bản (để đỡ đói).
Các sản phẩm và dịch vụ thường đáp ứng nhiều nhu cầu, và điều quan
trọng là nhận biết được sản phẩm của doanh nghiệp đáp ứng được những nhu
cầu nào của khách hàng. Một sản phẩm có thể đáp ứng được một nhu cầu mà
ngay cả bản thân khách hàng không nhận thấy được.
* Giá
Giá tồn tại ở mọi lúc mọi nơi xung quanh chúng ta. Trước kia, giá hình
thành thông qua thỏa thuận giữa người mua và người bán trên thị trường. Tuy
vậy, hiện nay đa số các doanh nghiệp đều ấn định cho sản phẩm của mình một
mức giá cụ thể. Giá có vai trò rất lớn đối với doanh nghiệp. Trong hoạt động
marketing mix thì giá là công cụ duy nhất tạo ra doanh thu, còn công cụ khách
chỉ thể hiện chi phí. Giá vẫn còn là công cụ cạnh tranh tương đối quan trọng của
các doanh nghiệp trên thị trường, là công cụ tương đối linh hoạt và dễ điều
địa điểm không phải là một vấn để quan trọng. Những người đam mê sưu tập
sẵn lòng đi một quãng đường xa để mua hàng. Công nghệ thông tin phát triển
một cách chóng mặt, internet đem lại một cơ chế mới, đưa người bán và người
mua lại với nhau.
* Xúc tiến và quảng cáo
Các hoạt động xúc tiến như quảng cáo, khuyến mại, thư tín trực tiếp…
cung cấp cho khách hàng thông tin về những gì bạn dành cho họ và thuyết phục
họ mua hàng. Đối với đa số doanh nghiệp, hoạt động xúc tiến là không thể thiếu
nhằm thu hút khách hàng. Đối với các doanh nghiệp dựa vào việc mua bán
nhanh, chiêu thị ít quan trọng vì địa điểm và sản phẩm tốt sẽ đảm bảo thành
công.
Quảng cáo:
o Quảng cáo bằng các phương tiện truyền thông đại chúng như truyền
hình, truyền thanh, báo, tạp chí…
o Quảng cáo tại chỗ như bản tinh, pano, áp phích, bảng quảng cáo
ngoài trời, tranh ảnh, các rạp chiếu phim, các phương tiện vận tải…
o Quảng cáo tại điểm mua hàng: trên giá trưng bày hàng, trên lối đi,
các xe đẩy trong cửa hàng, đài hoặc tivi trong cửa hàng…
Quảng cáo là công cụ mạnh mẽ đểm mọi người biết đến thương hiệu của
Công ty. Nếu các thông điệp quảng cáo mang tính sáng tạo thì có thể xây dựng
được một hình ảnh về thương hiệu, tạo sự ưa thích và thúc đẩy hành động mua
của khách hàng. Tuy vậy, ngày nay có quá nhiều quảng cáo nên làm rối trí người
xem, hơn thế nữa các kênh quảng cáo ngày càng phân tán, chi phí cho quảng cáo
lại ngày càng tăng lên.
Xúc tiến bán
o Xúc tiến với khách hàng: Hàng mẫu, thưởng, quà tặng, phiếu mua
hàng, các cuộc thi, trò chơi, xổ số, tặng thêm hàng, giảm giá trực
tiếp…
o Xúc tiến với các trung gian thương mại: Hỗ trợ bằng tiền cho việc
trưng bày, cho khách mua hàng và ký kết giao dịch, các chương trình
tổ chức và quản lý quá trình biến đổi này. Quản lý sản xuất đặt ra các mục tiêu
cụ thể:
- Bảo đảm chất lượng
- Bảo đảm thời hạn
- Giảm chi phí
- Linh hoạt trong tổ chức
3. Quản lý hoạt động nghiên cứu và phát triển
Quản lý hoạt động nghiên cứu và phát triển một cách có hiệu quả sẽ tạo ra
những đổi mới công nghệ tức là tạo ra một sản phẩm/ dịch vụ hay một quá trình
mới, một kỹ thuật mới, một áp dụng mới, hay một ý tưởng mới. Những đổi mới
công nghệ góp phần nâng cao tính cạnh tranh của tổ chức và vì vậy quản lý có
hiệu quả những hoạt động nghiên cứu và phát triển có ý nghĩa sống còn đứng từ
góc độ chiến lược. Hơn nữa, tạo ra những đổi mới công nghệ qua hoạt động
nghiên cứu và phát triển cần có sự thu xếp những khoản đầu tư tài chính đáng
kể. Quản lý hoạt động nghiên cứu và phát triển cũng rất bức thiết từ góc độ quản
lý.
4. Quản lý tài chính tổ chức
Trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp có thể được hiểu là một tổ
chức kinh doanh nhằm mục đích kiếm lời, được pháp luật thừa nhận, được phép
kinh doanh trên một số lĩnh vực nhất định, có mức vốn không thấp hơn vốn
pháp định do Nhà nước quy định cho từng loại hình doanh nghiệp, có từ một
chủ sở hữu trở lên và chủ sở hữu phải đảm bảo trước pháp luật bằng toàn bộ tài
sản của mình. Những điều kiện có tính pháp lý chặt chẽ trên đây chính là những
tiêu chuẩn để phân biệt sự khác nhau giữa doanh nghiệp với các hộ kinh tế gia
đình, hộ buôn bán nhỏ.
Hoạt động tài chính là một trong những nội dung cơ bản trong hoạt động
kinh doanh của các tổ chức. Đó chính là quá trình tìm tòi nghiên cứu các nguồn
lực nhằm biến các lợi ích dự kiến thành hiện thực cho một khoảng thời gian đủ
dài trong tương lai. Do vậy hoạt động tài chính của bất kỳ một tổ chức nào cũng
đều nhằm tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá giá trị tổ chức và tăng trưởng, phát
- Đánh giá tình hình thực hiện chất lượng và xác định mức
độ chất lượng đạt được trong thực tế của hệ thống
- So sánh chất lượng thực tế với kế hoạch để phát hiện ra cái
sai lệch và đánh giá cái sai lệch đó trên các phương tiện
kinh tế, kỹ thuật và xã hội.
- Phân tích các thông tin về chất lượng làm cơ sở cho cải tiến
và khuyến khích cải tiến chất lượng
- Tiến hành các hoạt động cần thiết nhằm khắc phục những
sai lệch, đảm bảo thực hiện đúng những yêu cầu ban đầu
hoặc thay đổi dự kiến
III. THỊ TRƯỜNG VÀ CÁC ĐẶC TRƯNG CỦA THỊ TRƯỜNG
1. Thị trường
Ngày nay cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, thị trường
được nhìn dưới nhiều góc độ khác nhau, nhiều trường phái khác nhau.
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học cổ điển về thị trường thì thị
trường là nơi diễn ra các quá trình trao đổi, mua bán, là cơ cấu cung cầu và là
điều kiện diễn ra các tương tác cung cầu thông qua mua bán hàng hóa bằng tiền
tệ. Như vậy trong thị trường theo quan điểm cổ điển thì cả ba yếu tố: người mua,
người bán và hàng hoá xuất hiện trong cùng một không gian, thời gian.
Khi sản xuất phát triển nó đã làm cho quá trình lưu thông trở nên phức
tạp, các quan hệ mua bán cũng trở nên đa dạng và phong phú với nhiều hình
thức khác nhau. Lúc này nền sản xuất phát triển ở mức độ cao hơn nên quan
niệm thị trường của trường phái cổ điển không còn phù hợp nữa. Vì vậy các
quan điểm hiện đại hơn về thị trường đã ra đời để thay thế quan điểm cũ không
còn phù hợp. Theo quan điểm hiện đại, dưới góc độ thị trường xã hội tổng thể,
thị trường được hiểu là: tập phức hợp và liên tục các nhân tố môi trường kinh
doanh và các quan hệ trao đổi thương mại được hấp dẫn và thực hiện trong một
không gian mở, hữu hạn các chủ thể cung cầu và phương thức tương tác giữa
chúng nhằm tạo thành điều kiện tồn tại và phát triển cho sản xuất kinh doanh
hàng hoá.
tập các khách hàng, người cung ứng hiện thực và tiềm năng, có nhu cầu thị
trường về những mặt hàng mà công ty có dự án kinh doanh và tập người bán -
đối thủ cạnh tranh của nó.
Tóm lại: Thị trường là sản phẩm của sự phân công lao động xã hội cùng
với chuyên môn hoá sản xuất. Khi mà sự phân công lao động phát triển đến trình
độ cao, các quan hệ mua bán, trao đổi ngày càng phong phú đa dạng thì thị
trường ngày càng phát triển trở nên hoàn thiện và phức tạp hơn. Vẫn còn ý kiến
khác nhau về thị trường nhưng trong giai đoạn hiện nay khái niệm: “Thị trường
là một tập các khách hàng, nhà cung ứng hiện thực và tiềm năng, có nhu cầu thị
trường về những mặt hàng mà công ty có dự án kinh doanh và tập người bán -
đối thủ cạnh tranh của nó” có thể coi là đúng đắn vì hiện nay yếu tố nhu cầu của
khách hàng rất được đề cao.
2. Đặc trưng của thị trường
Mặc dù có rất nhiều những quan điểm khác nhau về thị trương, dưới nhiều
giác độ, nhiều cách hiểu, cách nhìn khác nhau. Nhưng khi nói đến thị trường thì
thị trường luôn có đặc trưng là phải có khách hàng. Không nhất thiết phải gắn
liền với địa điểm xác định. Trong nền kinh tế tự nhiên, người sản xuất sẽ là
người tiêu dùng những sản phẩm do chính mình làm ra, do vậy không diễn ra
các hoạt động mua bán trao đổi các sản phẩm làm ra, không có khách hàng và vì
vậy cũng không có khái niệm thị trường. Khi phân công lao động xã hội phát
triển, mỗi người sản xuất chỉ sản xuất một hay một số mặt hàng nhất định, do đó
xuất hiện nhu cầu về những hàng hoá khác, tức là xuất hiện khách hàng và thị
trường hình thành là chiếc cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Ban
đầu hoạt động mua bán, trao đổi hàng hoá thường được diễn ra tại những địa
điểm xác định do đó mà người ta thường hiểu rằng thị trường chính là cái chợ,
sau này khi sản xuất và lưu thông phát triển thì hoạt động mua bán trao đổi
không chỉ diễn ra tại một địa điểm như trước nữa mà nó có thể diễn ra ở mọi lúc
mọi nơi. Do vậy khi nói đến thị trường thì chúng ta hiểu rằng thị trường không
nhất thiết phải gắn với một địa điểm xác định.
- Khách hàng phải có nhu cầu chưa được thoả mãn, đây chính là cơ sở thúc
đơn vị có tư cách pháp nhân và hạch toán độc lập, đóng vai trò tích cực trong
hoạt động của Sở Văn Hoá thông tin Hà nội.
Tháng 12 năm 1999 theo quyết định của UBND Thành phố Hà nội.
Công ty vật phẩm văn hoá Hà nội sát nhập công ty Mỹ thuật và lấy tên là:
CÔNG TY MỸ THUẬT VÀ VẬT PHẨM VĂN HOÁ HÀ NỘI
Trụ sở chính: tại 43 Tràng Tiền – Hoàn Kiếm – Hà Nội.
Công ty là một doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân đầy đủ và
có tên giao dịch đối ngoại, viết tắt là ART HAVACO.
Năm 2005 Công ty Mỹ thuật và vật phẩm văn hoá Hà nội đã hoàn tất
xong các thủ tục về cổ phần hoá và lấy tên là CÔNG TY CỔ PHẦN MỸ
THUẬT VÀ VẬT PHẨM VĂN HOÁ HÀ NỘI với số vốn điều lệ 7,8 tỷ đồng
trong đó nhà nước nắm giữ 51%.
Công ty có một mạng lưới các cửa hàng có vị trí thuận lợi nằm ở các
trục đường chính ở quận Hoàn Kiếm:
- Trung tâm trao đổi nghệ thuật 43 Tràng Tiền
- Cửa hàng sách 43 Tràng Tiền
- Cửa hàng băng đĩa nhạc Hồ Gươm 33 hàng Bài
- Cửa hàng sách 33 Hàng Bài
- Cửa hàng 75 Hàng Bồ
- Cửa hàng 40 Hàng Bông
- Trung tâm nghe nhìn Hồ Gươm
- Kiôt Đền Bà Kiệu
- Cửa hàng E7 Bách Khoa
* Vốn điều lệ: 7.800 triệu đồng
- Do tính chất đặc thù của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các
sản phẩm căn hoá, phục vụ nhiệm vụ chính trị, đời sống tinh
thần của nhân dân Thủ đô. Tuy là doanh nghiệp co quy mô vừa
và nhỏ, không thuộc diện ngành nghề kinh doanh nhà nước cần
nắm giữ theo quyết định số 58/2002/QĐ-TT ngày 26 tháng 4
năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ để tạo điều kiện cho Công
- Phòng tổ chức hành
chính
- Phòng kế hoạch tài
vụ
-Phòng kinh doanh
XNK 75 Hàng Bồ
Các đơn vị kinh
doanh
- CH Sách 43 Tràng
Tiền
- CH Sách 33 Hàng
Bài
- CH 40 Hàng Bông
- Xí nghiệp sản xuất
dịch vụ Văn hoá
- Trung tâm giới
thiệu và trao đổi
nghệ thuật
- Trung tâm trang trí
khánh tiết