Một số thực trạng và giải pháp làm tăng doanh thu tại hiệu sách Hồ Gươm. - Pdf 32

Product (sản phẩm hoặc dịch vụ) – P1
Marketing mix
Price (giá) – P2Place (phân phối) – P3Promotion (xúc tiến) – P4
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
Ban kiểm soát GIÁM ĐỐC Phó GIÁM ĐỐC
Các phòng ban
- Phòng tổ chức hành chính
- Phòng kế hoạch tài vụ
-Phòng kinh doanh XNK 75 Hàng Bồ
Các đơn vị kinh doanh
- CH Sách 43 Tràng Tiền
- CH Sách 33 Hàng Bài
- CH 40 Hàng Bông
- CH 33 Hàng Bài
- CH E7 Bách Khoa
- CH ĐềN Bà Kiệu
- TT Nghe nhìn Hồ Gươm
- Xí nghiệp sản xuất dịch vụ Văn hoá
- Trung tâm giới thiệu và trao đổi nghệ thuật
- Trung tâm trang trí khánh tiết
- Trung tâm dịch vụ mỹ thuật
Trưởng cửa hàngPhó cửa hàngKế toán tổng hợpBộ phận bán buôn(5 người)Quầy bán lẻ (13 người)Kế toán viên
Các Công ty phát hành sách
Các công ty sách và thiết bị trường học
Các dự án
Các nhà sách (trao đổi)
Các thư viện trường học
Siêu thị sách
Các đại lý bán lẻ
Công ty
Hiệu sách 33 Hàng BàiTăng chất lượng, giữ nguyên giáTung nhãn hiệu, tấn côngDuy trì mức giá tiếp tục theo dõi đối thủ cạnh tranhĐối thủ cạnh tranh có giảm giá không?Liệu mức giá này có ảnh hưởng đến lợi nhuận và thị phần không?Giảm giá theoCó cần thiết phải phản ứng không?Tăng chất lượng, tăng giá

16
3 – Quản lý hoạt động nghiên cứu và phát triển………………….
17
4 – Quản lý tài chính tổ chức……………………………………..
17
5 – Quản lý nguồn nhân lực………………………………………
18
6 – Quản lý chất lượng……………………………………………
18
III -
Thị trường và các đặc trưng của thị trường…………………..
19
1 – Thị trường…………………………………………………….
19
2 – Đặc trưng của thị trường……………………………………...
21
Phần 2:
Thực trạng sản xuất và kinh doanh sách tại hiệu sách Hồ Gươm
33 Hàng Bài……………………………………...
23
I -
Tổng quan về Công ty cổ phần Mỹ thuật và vật phẩm văn hóa Hà
Nội……………………………………………………...
23
1 – Quá trình hình thành và phát triển công ty……………………
23
2 – Hệ thống tổ chức và hoạt động sản xuất, kinh doanh………...
26
3 – Chức năng, nhiệm vụ…………………………………………
26

51
2 – Xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn…………………….
53
3 – Quy trình định giá…………………………………………….
55
4 – Chiến lược về thị trường……………………………………..
59
5 – Công tác tuyên truyền quảng cáo…………………………….
59
6 – Hình thức trả lương, khuyến khích người lao động…………..
60
III -
Nhà nước………………………………………………………
Một số hình ảnh về hoạt động của hiệu sách Hồ Gươm………
62
Phần 4:
Kết Luận………………………………………………………...
64
Danh mục tài liệu tham khảo……………………………………..
65
Nhận xét của công ty CP Mỹ thuật và vật phẩm văn hóa Hà Nội...
66
LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam đã chính thức gia nhập vào tổ chức thương mại thế giới WTO,
đó là điều kiện tốt để nền kinh tế Việt Nam phát triển nhưng bên cạnh đó nó có
rất nhiều cơ hội và những thách thức, nhất là các đối thủ mạnh từ nước ngoài. Vì
vậy các doanh nghiệp Việt Nam không thể đứng nhìn quá trình biến đổi đầy sôi
động này.
“Liên tục phát triển” là mục tiêu mà mọi doanh nghiệp đều mong muốn vì
chỉ có phát triển doanh nghiệp mới có thể tồn tại trên thị trường. Trong một nền

lý tồn tại trong các loại tổ chức xã hội, hình thành các loại quản lý, như quản lý
xí nghiệp, quản lý nghiên cứu khoa học, quản lý giáo dục, quản lý quân đội…
Quản lý kinh doanh thương trường được hình thành nên do xã hội hoá
hoạt động kinh doanh thị trường. Hoạt động kinh doanh thị trường phát triển đi
sâu, cùng đi theo với nó, nội dung hoạt động kinh doanh thị trường cũng càng
ngày càng nhiều, đồng thời không ngừng xuất hiện các lý luận, kỹ thuật và
phương pháp mới, đề cập đến càng nhiều cơ cấu, nhân lực, vật lực. Thông qua
quản lý kinh doanh thị trường , phát huy mạnh mẽ tích cực về mọi mặt, có thể
làm cho các yếu tố sản xuất kinh doanh của xí nghiệp được phối hợp rất nhịp
nhàng, đạt mục đích dự định.
Quản lý kinh doanh thương trường là một hệ thống hoạt động quản lý
được triển khai: tiến hành phán đoán thị trường, định ra sách lược kinh doanh,
vạch ra và thực thi kế hoạch tiêu thụ.
Quản lý công ty là một hệ thống lớn hoàn chỉnh, nó do nhiều hệ thống con
tổ hợp thành. Nói chung bao gồm hệ thống con quản lý sản xuất, hệ thống con
quyết sách kinh doanh, hệ thống con quản lý lao động, hệ thống con quản lý kỹ
thuật, hệ thống con quản lý tài vụ và hệ thống con quản lý kinh doanh thị trường
Công tác quản lý kinh doanh thị trường là điểm bắt đầu và điểm kết thúc
của công tác toàn diện của công ty. Một mặt, phải căn cứ vào nhu cầu tăng
trưởng và biến hoá của xã hội để quyết định sản xuất; mặt khác, sản phẩm của
công ty sản xuất ra cần phải tiêu thụ, biến hàng hoá thành tiền tệ mới có thể thực
hiện giá trị của thương phẩm. Việc này không những thoả mãn nhu cầu của
người tiêu dùng mà còn giúp cho người sản xuất thu được lợi nhuận, và có thể
tiếp tục hoạt động sản xuất
ii. CÁC LĨNH VỰC QUẢN LÝ
1. Quản lý marketing
a. Khái niệm cơ bản của marketing
Cho đến nay nhiều người vẫn lầm tưởng marketing với việc chào
hàng (tiếp thị), bán hàng và các hoạt động kích thích tiêu thụ. Vì vậy họ
quan niệm marketing chẳng qua là hệ thống các biện pháp mà người bán

Chú trọng vào mọi khía cạnh của marketing để thuyết phục khách hàng
mua sản phẩm hay dịch vụ chứ không nên chỉ chú ý tới các kỹ thuật bán hàng và
chiêu thị. Đánh giá nghiêm túc vai trò và hiểu đúng những ảnh hưởng của tiếp
thị, bạn sẽ thu được nhiều lợi ích từ việc tiếp thị hiệu quả: đó là khách hàng hài
lòng và trung thành; cơ sở khách hàng ngày càng mở rộng; sản phẩm thành công
và phổ biến; doanh thu tăng cao; nhiều người giới thiệu, khách hàng quay lại
nhiều hơn và ít khiếu nại hơn. Kết quả cuối cùng của tất cả những lợi ích trên là
lợi nhuận lớn hơn; đây cũng chínhlà một trong những lý do thuyết phục nhất cho
việc nâng cao hiệu quả hoạt động marketing
Nghiên cứu nhu cầu khách hàng  Thiết kế sản phẩm và dịch vụ để đáp
ứng nhu cầu  Cung cấp sản phẩm và dịch vụ ra công chúng  Khách hàng
mua sản phẩm hoặc dịch vụ  Sản phẩm hoặc dịch vụ đáp ứng được nhu cầu
khách hàng Khách hàng tiếp tục mua sản phẩm hoặc dịch vụ.
b. Vai trò của marketing trong hoạt động kinh doanh
Marketing phản ánh một chức năng cơ bản của kinh doanh, giống như
chức năng sản xuất, tài chính, quản trị nhân lực, kế toán, cung ứng vật tư…
Những chức năng này đều là những bộ phận tất yếu về mặt tổ chức của một
công ty. Nhiệm vụ cơ bản của hoạt động marketing là tạo ra khách hàng cho
doanh nghiệp, giống như sản xuất tạo ra sản phẩm
Từ đó xét về yếu tổ cấu thành của nội dung quản lý doanh nghiệp, thì
marketing là một chức năng có mối liên hệ thống nhất hữu cơ với các chức năng
khác. Nó là đầu mối quan trọng của một cơ chế quản lý thống nhất, trong điều
kiện của kinh tế thị trường. Nếu một doanh nghiệp nào bước vào kinh doanh mà
lại không thấu hiểu marketing thì chẳng khác nào một cơ thể sống tự tách khỏi
điều kiện tồn tại.
Như vậy, xét về quan hệ chức năng thì marketing vừa chi phối vừa bị chi
phối bởi các chức năng khác. Nói một cách khác, khi xác định chiến lược
marketing, đề ra các mục tiêu chiến lược, chẳng hạn như công ty quyết định
vươn lên vị trí dẫn đầu về chất lượng một loại sản phẩm nào đó, để thu hút
những khách hàng có thu nhập cao. Khi đó, để tránh rơi vào mơ tưởng, thì công

loại phương tiện này mà không phải là phương tiện khác? Các hàng hoá cùng
loại người ta giới thiệu với công chúng bằng cách nào? Tại sao người ta lại
làm như vậy?…
* Hàng hoá của doanh nghiệp có cần dịch vụ sau khi bán không? Loại dịch
vụ nào doanh nghiệp có khả năng cung cấp nhất? Vì sao? Vì sao doanh
nghiệp lựa chọn loại dịch vụ này mà không phải là loại dịch vụ khác?…
Đó là những vấn đề mà không một hoạt động chức năng khác của doanh
nghiệp (ngoài marketing) phải có trách nhiệm trả lời. Điều đó phản ánh tính chất
độc lập của chức năng marketing so với chức năng quản lý khác của doanh
nghiệp và chỉ có chức năng marketing mới giải quyết khách quan và thoả đáng
những vấn đề nêu ra ở trên.
Đương nhiên, khi đề cập đến những nội dung trên nhà quản trị marketing
không thể thoát ly khỏi các khả năng về tài chính, về sản xuất và công nghệ, về
tay nghề của người lao động, khả năng cung ứng nguyên vật liệu…
Đó là mối quan hệ hai mặt vừa thể hiện tính thống nhất, vừa thể hiện tính
độc lập giữa chức năng marketing với các chức năng khác của một doanh nghiệp
hướng theo thị trường. Giữa chúng có mối liên hệ với nhau, nhưng hoàn toàn
không thể thay thế cho nhau.
c. Quản trị marketing
Marketing là một dạng hoạt động chức năng đặc thù của doanh
nghiệp. Nó bao gồm nhiều hành vi của các bộ phận tác nghiệp marketing
khác nhau hoặc của các công đoạn hoạt động marketing khác nhau. Vấn đề
là làm sao để tất cả các hoạt động tác nghiệp marketing đều hướng đến một
phương châm hành động: hãy thoả mãn nhu cầu và ước muốn của khách
hàng một cách ưu thế hơn đối thủ cạnh tranh để thực hiện thành công các
mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp. Điều đó liên quan đến hoạt động
quản trị marketing. Vậy quản trị marketing là gì? Theo ông Philip Kotler:
“Quản trị marketing là phân tích, lập kế hoạch, thực hiện và kiểm tra
việc thi hành các biện pháp nhằm thiếp lập, củng cố, duy trì và phát triển
những cuộc trao đổi có lợi với những người mua đã được lựa chọn để đạt

mua sắm hàng hoá. Vì vậy, để thành công doanh nghiệp cần tập trung
mọi nguồn lực và sự cố gắng vào việc thúc đẩy tiêu thụ và khuyến mãi”.
Yếu tố quyết định sự thành công của một doanh nghiệp trong quan
điểm này là tìm mọi cách để tăng khối lượng sản phẩm tiêu thụ đã
được sản xuất ra.
- Quản điểm marketing: “Chìa khoá để đạt được những mục tiêu
trong kinh doanh của doanh nghiệp là doanh nghiệp phải xác định đúng
những nhu cầu và mong muốn của thị trường (khách hàng) mục tiêu, từ
đó tìm cách đảm bảo thoả mãn nhu cầu và mong muốn đó bằng những
phương thức có ưu thế hơn so với đối thủ cạnh tranh”. Quan điểm này
cho rằng marketing hiện đại bao giờ cũng tập trung vào những khách
hàng nhất định được gọi là thị trường mục tiêu. Hiểu biết chính xác
nhu cầu và mong muốn của khách hàng là vấn đề cốt lõi của
marketing hiện đại. Để nâng cao hiệu quả hoạt động marketing phải
sử dụng tổng hợp và phối hợp các biện pháp bao hàm cả việc phối
hợp các biện pháp marketing để phát hiện ra nhu cầu và biến nhu
cầu đó thành việc mua hàng hoá của doanh nghiệp. Ứng dụng
marketing hiện đại vào kinh doanh tất nhiên phải tính đến khả năng
sinh lời và tìm cách gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
- Quan điểm marketing đạo đức xã hội khẳng định rằng: “Nhiệm
vụ của doanh nghiệp là xác định đúng đắn những nhu cầu, mong muốn
và lợi ích của các thị trường mục tiêu trên cơ sở đó đảm bảo thoả mãn
nhu cầu và mong muốn đó một cách hữu hiệu và hiệu quả hơn các đối
thủ cạnh tranh, đồng thời bảo toàn hoặc củng cố mức sống sung túc của
người tiêu dùng và xã hội”. Các doanh nghiệp mà trực tiếp là những
người làm marketing phải cân nhắc và kết hợp ba loại lợi ích: lợi
nhuận của doanh nghiệp, sự thoả mãn nhu cầu và mong muốn của
khách hàng và lợi ích xã hội, trước khi thông qua các quyết định
marketing.
d. Marketing mix

kém.
* Phân phối
Làm sao nhà sản xuất cung cấp đủ, đúng hạn sản phẩm của mình tới
người tiêu dùng? Làm sao truyền dẫn những nỗ lực marketing của doanh nghiệp
tới thị trường mục tiêu?
Phân phối chính là
“cầu nối” giữa khách hàng và sản phẩm, chẳng hạn như một cửa hàng bán
buôn, chi nhánh bán lẻ, hoặc các hệ thống phân phối khác. Có rất nhiều định
nghĩa và cách hiểu về kênh phân phối khác nhau:
- Con đường đi của sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng
cuối cùng
- Dòng chuyển quyền sở hữu hàng hoá khi chúng được mua bán qua
các tổ chức và cá nhân khác nhau
- Hình thức liên kết lỏng lẻo của các công ty để cùng thực hiện một
mục đích chung
Theo Armand Dayan, La Distribution (Parris, Hachêtt, 1973): “Người ta
gọi kênh phân phối là tập hợp tất cả những người thực hiện hoạt động phân phối,
nghĩa là các hoạt động làm cho sản phẩm chuyển từ trạng thái vừa được sản
xuất, chế tạo sang trạng thái tiêu dùng”
Theo quan điểm từ người quản trị kênh phân phối từ các doanh nghiệp
“Kênh phân phối được định nghĩa như tập hợp các quan hệ với các tổ chức và cá
nhân bên ngoài doanh nghiệp để tổ chức và quản lý các hoạt động tiêu thụ sản
phẩm nhằm đạt các mục tiêu của doanh nghiệp trên thị trường”
.
Đối với một số công ty “nép góc”, khai thác thị trường nhỏ bị bỏ ngỏ, thì
địa điểm không phải là một vấn để quan trọng. Những người đam mê sưu tập
sẵn lòng đi một quãng đường xa để mua hàng. Công nghệ thông tin phát triển
một cách chóng mặt, internet đem lại một cơ chế mới, đưa người bán và người
mua lại với nhau.
* Xúc tiến và quảng cáo

dễ dàng làm tăng doanh số bán của doanh nghiệp
o Tuy vậy, doanh nghiệp cũng cần thận trọng với công cụ này
vì nếu lạm dụng nhiều thì sẽ làm giảm sự ưa thích với thương
hiệu, làm cho mức giá niêm yết trở thành mức giá lừa dối và làm
xói mòn lòng trung thành của khách hàng với một thương hiệu
cụ thể.
Bán hàng trực tiếp
o Đây là việc các nhân viên bán hàng giao tiếp trực tiếp với các
khách hàng tiềm năng với mục đích cung cấp thông tin để bán
hàng… Có thể được thực hiện qua:
- Trình diễn bán hàng
- Hội nghị bán hàng
- Các hội trợ, triển lãm thương mại
- Các mẫu chào hàng
o Ưu điểm của công cụ này là: dễ dàng tạo lập mối
quan hệ phong phú, gắn bó với khách hàng, đặc biệt phát huy tác
dụng khi sản phẩm được bán là sản phẩm có giá trị lớn và phức
tạp, có thể thu được những thông tin phản hồi nhanh và chính
xác.
o Hạn chế: chi phí cao nhất tính cho một lần tiếp xúc, thiếu độ
mở rộng
2. Quản lý sản xuất
Quản lý sản xuất là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, điều hành và kiểm tra
hệ thống sản xuất nhằm thực hiện tốt nhất những mục tiêu sản xuất đã đề ra. Yếu
tố trung tâm của quản lý sản xuất là tác động lên quá trình sử dụng, biến đổi,
chuyển hóa các yếu tố đầu vào để tạo ra các sản phẩm, dịch vụ mong muốn, đáp
ứng nhu cầu của xã hội.
Kết quả hoạt động của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào việc thiết kế,
tổ chức và quản lý quá trình biến đổi này. Quản lý sản xuất đặt ra các mục tiêu
cụ thể:

nghiên cứu các mối quan hệ tài chính phát sinh trong phạm vi hoạt động
của sản xuất kinh doanh của tổ chức để từ đó ra các quyết định tài chính
nhằm mục tiêu tối đa hoá doanh lợi.
Một số nguyên tắc quản lý tài chính của tổ chức:
- Tôn trọng nguyên tắc hạch toán kinh doanh
- Giữ chữ tín trong hoạt động tài chính
- Nguyên tắc an toàn và hiệu quả
5. Quản lý nguồn nhân lực
Quản lý nguồn nhân lực liên quan đến con người và những nhân tố
xác định mối quan hệ giữa con người với tổ chức sử dụng con người đó. Tại
một thời điểm nào đó trong quá trình hoạt động của nó, một tổ chức có thể
cần ít hoặc nhiều nhân lực tuỳ thuộc vào yêu cầu của các hoạt động trong
tổ chức. Quản lý nguồn nhân lực đảm bảo cho tổ chức có những nhân lực
có kỹ năng, được sắp xếp vào những vị trí phù hợp theo đòi hỏi công việc
trong tổ chức
Quản lý nguồn nhân lực là một quá trình tuyển mộ, lựa chọn, duy trì,
phát triển và tạo mọi điều kiện có lợi cho nguồn nhân lực trong một tổ chức
nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra của tổ chức đó
6. Quản lý chất lượng
Quản lý chất lượng là việc ấn định đúng đắn các mục tiêu phát triển
bền vững của hệ thống, phải đề ra nhiệm vụ phải làm cho hệ thống trong
từng thời kỳ và tìm ra con đường đạt tới các mục tiêu một cách có hiệu quả
nhất. Mục tiêu của quản lý chất lượng trong hệ thống là đảm bảo chất
lượng sản phẩm với chi phí tối ưu. Đó là sự kết hợp giữa nâng cao những
đặc tính hữu ích của sản phẩm đồng thời với giảm chi phí và khai thác mọi
tiềm năng để mở rộng hoạt động của hệ thống. Làm tốt công tác quản lý
chất lượng sẽ giúp các hệ thống phản ứng nhanh với môi trường, góp phần
giảm tối đa chi phí tạo ra sản phẩm của hệ thống.
Những nhiệm vụ chủ yếu của kiểm soát chất lượng:
- Đánh giá tình hình thực hiện chất lượng và xác định mức độ

Theo quan điểm hiện đại thì trong thị trường không nhất thiết phải xuất
hiện trong cùng một lúc cả ba nhân tố: người mua, người bán và hàng hóa.
Người sản xuất không cần biết người tiêu dùng của mình là ai và người tiêu
dùng cuối cùng cũng không cần giao dịch trực tiếp với người sản xuất mà có thể
không qua trung gian.
Theo T. Cannon: “Thị trường là một tập người bán và người mua thỏa
thuận các điều kiện trao đổi hàng hoá hoặc dịch vụ được tiến hành một cách trực
tiếp hoặc gián tiếp thông qua một mạng lưới trung gian phức hợp để kết nối với
người mua và người bán ở những vị trí không gian khác nhau”.
Còn thị trường đối với nhà kinh tế học David Begg lại được hiểu theo hai
nghĩa: Theo nghĩa hẹp ông cho rằng thị trường là các sự thỏa thuận, qua đó
người mua và người bán thoả thuận với nhau để trao đổi hàng hóa dịch vụ. Còn
theo nghĩa rộng: thị trường là biểu hiện thu gọn của quá trình mà thông qua đó
các quyết định của gia đình về tiêu dùng mặt hàng nào đó, các quyết định của
công nhân làm bao nhiêu, làm cho ai đều được dụng hoà bằng sự điều chỉnh của
giá cả.
Theo Cac-Mác, phân công lao động là cơ sở chung của mọi nền sản xuất
hàng hóa Ở đâu có phân công lao động xã hội và sản xuất hàng hoá thì ở đó có
thị trường. Thị trường chẳng qua chỉ là sự biểu hiện của phân công lao động xã
hội và do đó nó có thể phát triển vô cùng tận.
Xét trên tầm vĩ mô, thị trường được xem là tổng hợp của tổng cung, tổng
cầu và của giá cả các loại hàng hoá dịch vụ trên thị trường là trung tâm là nơi
liên hệ, tiếp xúc so sánh giữa những người bán và người mua, giữa những người
sản xuất với nhau, giữa những người tiên dùng với nhau.
Thị trường là một phạm trù riêng của sản xuất hàng hoá. Hoạt động của
nó được thể hiện qua 3 nhân tố: cung, cầu, giá cả. Là nơi kiểm nghiệm hàng hoá
dịch vụ và ngược lại. Hàng hoá của dịch vụ phải đáp ứng được nhu cầu của thị
trường, do đó mọi yếu tố liên qua đến sản xuất kinh doanh đều phải tham gia
vào thị trường.
Đứng trên góc độ quản lý một doanh nghiệp, thị trường được hiểu là một

đẩy khách hàng mua hàng hoá dịch vụ. Khi nói đến khách hàng cho một loại
hàng hoá dịch vụ nào đó, tức là ta nói đến những nhu cầu có khả năng thanh
toán nhưng chưa được thoả mãn. Bởi vì nếu như khách hàng không có nhu cầu
hoặc nhu cầu được thoả mãn thì đồng nghĩa với việc không có khách hàng hay
không có thị trường cho hàng hoá hoặc dịch vụ đó. Trong nền kinh tế thị
trương hiện nay, những nhu cầu chưa được thoả mãn của khách hàng chính là
cơ sở cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, là động cơ thúc
đẩy mua hàng. Do đó muốn hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng phát
triển thì đòi hỏi các nhà sản xuất phải tìm hiểu và nắm bắt được những nhu cầu
chưa được thoả mãn của khách hàng để đưa ra các hàng hoá dịch vụ đáp ứng
nhu cầu đó.
Phần 2:
THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ KINH DOANH SÁCH TẠI
HIỆU SÁCH HỒ GƯƠM 33 HÀNG BÀI
I. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN MỸ THUẬT VÀ VẬT
PHẨM VĂN HOÁ HÀ NỘI
1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành Văn Hoá thông tin Hà nội, đồng
thời thực hiện chủ trương cải tiến bộ máy, thu gọn đổi mới quản lý, năm 1987
công ty đã được thành lập theo quyết định của Sở Văn Hoá thông tin Hà nội
trên cơ sở sát nhập ba đơn vị:
 Công ty vật tư văn hoá thông tin.
 Công ty băng nhạc đĩa hát.
 Xí nghiệp sản xuất thiết bị nhạc cụ.
Năm 1990 có quyết định của UBND Thành phố và Sở Văn Hoá sát
nhập thêm xí nghiệp sản xuất dịch vụ văn hoá .
Công ty mang chức năng tổng hợp của 3 đơn vị sát nhập: Kinh doanh vật
tư văn hoá chuyên dùng, in thu các loại băng nhạc, đĩa hát, băng hình, sản
xuất, sửa chữa các loại nhạc cụ, thiết kế, chế tạo, lắp đặt âm thanh thiết bị sân
khấu cho các nhà văn hoá, hội trường. Ba đơn vị tiền thân trước đây là những


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status