Một số thực trạng và giải pháp thúc đẩy hoạt động KD lữ hành nội địa tại Cty Lữ hành Hanoitourist - Pdf 12

Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn để tài
Du lịch – ngành công nghiệp không khói hiện nay đang là một đề tài nóng
bỏng thu hút rất nhiều mối quan tâm của nhiều người. Rất nhiều quốc gia trên thế
giới đã xác định Du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn của quốc gia mình. Bên cạnh đó,
cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội du lịch đã trở thành một nhu cầu không
thể thiếu của con người trên toàn thế giới nói chung và con người Việt Nam nói
riêng. Chính vì lẽ đó mà ngày càng có nhiều loại hình du lịch xuất hiện nhằm thỏa
mãn nhu cầu của con người. Và một loại hình du lịch hiện nay đang phát triển mạnh
mẽ đó là loại hình du lịch nội địa.
Nắm bắt được những nhu cầu này của khách hàng, rất nhiều các doanh nghiệp
du lịch đã tung ra các sản phẩm để thu hút khách du lịch. Một trong số những doanh
nghiệp có uy tín và thương hiệu về tổ chức loại hình du lịch Nội địa là Công ty Lữ
hành Hanoitourist.
Tuy nhiên, những năm qua liên tục xảy ra những bất ổn về kinh tế, dịch
bệnh...Bên cạnh đó, trong nền kinh tế thị trường hiện nay có không ít các đối thủ
cạnh tranh tổ chức thành công loại hình du lịch Nội địa này. Nên việc kinh doanh của
Công ty Lữ hành Hanoitourist gặp không ít những khó khăn. Qua thời gian thực tập
tại Công ty lữ hành Hanoitourist với mong muốn phát triển hoạt động kinh doanh lữ
hành nội địa tại Công ty và thỏa mãn tối đa nhu cầu du lịch cho khách, em đã quyết
định chọn đề tài “ Một số thực trạng và giải pháp thúc đẩy hoạt động kinh doanh lữ
hành nội địa tại công ty Lữ hành Hanoitourist “.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt dộng khai thác nguồn khách du lịch nội địa và các
sản phẩm tour du lịch nội địa ở công ty Lữ hành Hanoitourist.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ là hoạt động kinh doanh lữ hành, chủ yếu là kinh
doanh lữ hành nội địa ở công ty Lữ hành Hanoitourist.
3. Mục đích và phương pháp nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu là dựa trên các cơ sở lý luận và thời gian thực tập tại công ty để
đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh Lữ hành Nội địa. Từ đó đưa ra các giải

Ở thời kỳ đầu tiên, các doanh nghiệp lữ hành chủ yếu tập trung vào các hoạt động
trung gian, làm đại lý bán sản phẩm của các nhà cung cấp như khách sạn, hàng
không...Khi đó, các doanh nghiệp lữ hành (thực chất là các đại lý du lịch) được định
nghĩa như một pháp nhân kinh doanh chủ yếu dưới hình thức là đại diện, đại lý cho
các nhà sản xuất ( khách sạn, hãng ô tô, tàu biển...) bán sản phẩm tới tận tay người
tiêu dùng với mục đích thu tiền hoa hồng (Commission). Trong quá trình phát triển
đến nay, hình thức các đại lý du lịch vẫn liên tục được mở rộng.
Một cách khái niệm phổ biến hơn là căn cứ vào hoạt động tổ chức các chương trình
du lịch của các doanh nghiệp lữ hành. Khi đã phát triển ở một mức độ cao hơn so với
việc làm trung gian thuần túy, các doanh nghiệp lữ hành đã tự tạo ra các sản phẩm
của mình bằng cách tập hợp các sản phẩm riêng rẽ như dịch vụ khách sạn, vé máy
bay, ô tô, tàu thủy và các chuyến tham quan thành một sản phẩm hoàn chỉnh và bán
cho khách du lịch với một mức giá gộp. Ở đây, doanh nghiệp lữ hành không chỉ dừng
lại ở người bán mà trở thành người mua sản phẩm của các nhà cung cấp du lịch. Tại
Bắc Mỹ, doanh nghiệp lữ hành được coi là những công ty xây dựng các chương trình
du lịch bằng cách tập hợp các thành phần như khách sạn, hàng không, tham quan... và
bán chúng với một mức giá gộp cho khách du lịch thông qua hệ thống các đại lý bán
lẻ. Như vậy, doanh nghiệp lữ hành là các pháp nhân tổ chức và bán các chương trình
du lịch. Ở Việt Nam, doanh nghiệp lữ hành được định nghĩa:” Doanh nghiệp lữ hành
là đơn vị có tư cách pháp nhân, hạch toán độc lập, được thành lập nhằm mục đích
sinh lợi bằng việc giao dịch, ký kết các hợp đồng du lịch và tổ chức thực hiện các
chương trình du lịch đã bán cho khách du lịch”.
Trần Đức Trung Du lịch 48
3
Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trong giai đoạn hiện nay, nhiều công ty lữ hành có phạm vi hoạt động rộng lớn,
mang tính toàn cầu và trong hầu hết các lĩnh vực của hoạt động du lịch. Các công ty
lữ hành đồng thời sở hữu các tập đoàn khách sạn, các hãng hàng không, tầu biển,
ngân hàng, phục vụ chủ yếu khách du lịch của công ty lữ hành. Kiểu tổ chức các
công ty lữ hành nói trên rất phổ biến ở châu Âu, châu Á và đã trở thành những tập

người Hà Lan và người Anh trên đất Pháp được chia làm hai loại:
+ Lepetit tour ( cuộc hành trình nhỏ): Đi thành phố Pari đến miền Đông Nam nước
Pháp.
+ Le grand tour ( cuộc hành trình lớn): cuộc hành trình của những người đi dọc theo
bờ Địa Trung Hải xuống Tây Nam nước Pháp và vùng bourgon.
Khách du lịch được định nghĩa là người thực hiện một cuộc hành trình lớn “Faire le
grand tour”.
Vào đầu thế kỷ XX nhà kinh tế học người Áo Iozef Stander định nghĩa: “ Khách du
lịch là hành khách xa hoa ở lại theo ý thích, ngoài nơi cư trú thường xuyên để thỏa
mãn những nhu cầu sinh hoạt cao cấp mà không theo đuổi các mục tiêu kinh tế”
Nhà kinh tế học người Anh Ogilvie Vi khẳng định: để trở thành khách du lịch cần có
hai điều kiện
Thứ nhất: phải xa nhà thời gian dưới một năm.
Thứ hai: ở đó phải tiêu những khoản tiền đã tiết kiệm ở nơi khác.
Tuy nhiên, những khái niệm nêu ra ở trên đều mang tính phiến diện, chưa đầy đủ,
chủ yếu mang tính chất phản ánh sự phát triển của du lịch đương thời và xem xét
không đầy đủ, hạn chế nội dung thực của khái niệm – khách du lịch.
Để nghiên cứu một cách đầy đủ và có cơ sở đáng tin cậy, cần tìm hiểu và phân tích
một số định nghĩa về “khách du lịch” được đưa ra từ các hội nghị quốc tế về du lịch
hay của các tổ chức quốc tế quan tâm đến các vấn đề du lịch. Cụ thể:
- Định nghĩa của tổ chức du lịch thế giới ( UNWTO) về khách du lịch.
+ Khách du lịch quốc tế ( International tourist): là một người lưu trú ít nhất một
đêm nhưng không quá 1 năm tại một quốc gia khác quốc gia thưòng trú. Du khách có
thể đến vì nhiều lý do khác nhau nhưng không có lĩnh lương ở nơi đến ( chữa bệnh,
thăm quan, giải trí công vụ…)
+ Khách du lịch trong nước ( Internal tourist): Là người đang sống trong một
quốc gia, không kể quốc tịch nào, đi đến một nơi khác trong quốc gia đó trong thời
gian ít nhất 24 giờ và không qua 1 năm với mục đích du lịch như: Giải trí, kinh
doanh, công tác, hội họp, thăm gia đình…. ( trừ làm việc để lĩnh lương)
Trần Đức Trung Du lịch 48

Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài
vào Việt Nam du lịch, công dân Việt Nam, người nứơc ngoài thường trú tại Việt
Nam ra nước ngoài du lịch.
+ Khách du lịch nội địa:
Trần Đức Trung Du lịch 48
6
Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Theo quy chế quản lý lữ hành của Tổng cục du lịch Việt Nam: Khách du lịch nội địa
là là công dân Việt Nam ra khỏi nơi ở không quá 12 tháng đi du lịch, thăm người
thân, kinh doanh trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam
Theo luật du lịch Việt Nam: Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người
nứơc ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
1.1.3. Khái niệm về du lịch và phân loại các loại hình du lịch.
1.1.3.1. Khái niệm về du lịch
Du lịch là hiện tượng kinh tế, xã hội phức tạp và trong quá trình phát triển, nội
dung của nó không ngừng được mở rộng và ngày một phong phú. Để đưa ra một
định nghĩa cho hiện tượng đó sao cho nó vừa mang tính chất bao quát, vừa mang
tính chất lý luận và thực tiễn, đó là một vấn đề hết sức khó khăn. Có thể nêu ra một
số khó khăn sau:
Khó khăn thứ nhất: do tồn tại các cách tiếp cận khác nhau và dưới các góc độ khác
nhau mà các tác giả có các định nghĩa khác nhau về du lịch. Cụ thể:
Tiếp cận trên góc độ của người đi du lịch: Du lịch là cuộc hành trình và lưu trú tạm
thời ở ngoài nơi lưu trú thường xuyên của cá thể, nhằm thỏa mãn các nhu cầu khác
nhau, với mục đích hòa bình và hữu nghị. Với họ, du lịch như là một cơ hội để tìm
kiếm những kinh nghiệm sống và sự thỏa mãn một số các nhu cầu về vật chất và tinh
thần của họ
Tiếp cận trên góc độ người kinh doanh du lịch: Du lịch là quá trình tổ chức các sự
kiện về sản xuất và phục vụ nhằm thỏa mãn, đáp ứng các nhu cầu của người đi du
lịch. Các doanh nghiệp du lịch coi du lịch như là một cơ hội để bán các sản phẩm mà
họ sản xuất ra nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách (người đi du lịch), đồng thời

ngân hàng, xây dựng, giao thông...
Thứ tư, do du lịch là hoạt động kinh tế mới mẻ, còn đang trong quá trình phát triển.
Thứ năm, đó là tính hai mặt của bản thân từ “du lịch”.
Và do sự tồn tại của các khó khăn khách quan và chủ quan trong việc tìm ra một
định nghĩa thống nhất về du lịch nên đến nay có rất nhiều các định nghĩa khác nhau
về du lịch của các tác giả khác nhau.
Năm 1811, lần đầu tiên có định nghĩa về du lịch tại Anh như sau: “Du lịch là sự phối
hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của các cuộc hành trình với mục đích
giải trí. Ở đây, sự giải trí là động cơ chính”.
Năm 1930, ông Glusman, người Thụy Sỹ định nghĩa: Du lịch là sự chinh phục
không gian của những người đến một địa điểm mà ở đó họ không có chỗ cư trú
“thường xuyên”.
Giáo sư, tiến sỹ Hunziker và giáo sư, tiến sỹ Krapf – hai người được coi là những
người đặt nền móng cho lý thuyết về cung du lịch đưa ra định nghĩa như sau: Du lịch
là tập hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và
lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú
thường xuyên và không dính dáng đến hoạt động kiếm lời.
Trần Đức Trung Du lịch 48
8
Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Định nghĩa về du lịch của Trường Tổng hợp kinh tế thành phố Varna, Bulgarie: Du
lịch là một hiện tượng kinh tế - xã hội được lặp đi, lặp lại đều đặn – chính là sản
xuất và trao đổi dịch vụ và hàng hóa của các đơn vị kinh tế riêng biệt, độc lập – đó là
các tổ chức, các xí nghiệp với cơ sở vật chất kỹ thuật chuyên môn nhằm đảm bảo sự
đi lại, lưu trú, ăn uống, nghỉ ngơi với mục đích thỏa mãn các nhu cầu cá thể về vật
chất và tinh thần của những người lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên của họ để nghỉ
ngơi, chữa bệnh, giải trí... mà không có mục đích lao động kiếm lời.
Định nghĩa này đã xem xét rất kỹ hiện tượng du lịch như là một phạm trù kinh tế với
đầy đủ tính đặc trưng và vai trò của một bộ máy kinh tế, kỹ thuật điều hành. Song,
nó cũng có nhược điểm là lặp đi lặp lại một số ý.

- Du lịch quốc tế là loại hình du lịch mà ở đó điểm xuất phát và điểm đến của du
khách nằm ở lãnh thổ của các quốc gia khác nhau. Ở hình thức du lịch này khách
phải đi qua biên giới và tiêu thụ ngoại tệ ở nơi đến du lịch .Du lịch quốc tế được chia
thành 2 loại :
+ Du lich quốc tế chủ động ( Inbound): là hình thức du lịch của những người từ
nước ngoài đến một quốc gia nào đó và tiêu ngoại tệ ở đó.
+ Du lịch quốc tế thụ động ( Outbound): là hình thức du lịch của công dân một
quốc gia nào đó và của những người nước ngoài đang cư trú trên một lãnh thổ của
quốc gia đó đi ra nước khác du lịch và trong chuyến đi ấy họ đã tiêu tiền kiếm ra tại
đất nước đang cư trú.
- Du lịch Nội địa: là hình thức đi du lịch mà điểm xuất phát và điểm đến của khách
cùng nằm trong một lãnh thổ của một quốc gia.
b. Căn cứ vào nhu cầu làm nảy sinh hoạt động du lịch. Theo tiêu thức này, du lịch
được phân thành những loại hình sau:
- Du lịch chữa bệnh
Ở thể loại này khách đi du lịch do nhu cầu điều trị các bệnh tật về thể xác và tinh thần
của họ. Du lịch chữa bệnh lại được phân thành:
+ Chữa bệnh bằng khí hậu: khí hậu núi, khí hậu biển
+ Chữa bệnh bằng nước khoáng: tắm nước khoáng, uống nước khoáng
+ Chữa bệnh bằng bùn
+ Chữa bệnh bằng hoa quả
+ Chữa bệnh bằng sữa (đặc biệt bằng sữa ngựa)
- Du lịch nghỉ ngơi, giải trí
Nhu cầu chính làm nảy sinh hình thức du lịch này là sự cần thiết phải nghỉ ngơi để
phục hồi thể lực và tinh thần cho con người. Đây là loại hình du lịch có tác dụng giải
trí, làm cuộc sống thêm đa dạng và giải thoát con người ra khỏi công việc hàng ngày.
- Du lịch thể thao : gồm có 2 dạng
+ Du lịch thể thao chủ động: Khách đi du lịch để tham gia trực tiếp vào hoạt động
thể thao. Du lịch thể thao chủ động bao gồm: du lịch leo núi, du lịch săn bắn, du lịch
câu cá, du lịch tham gia các loại thể thao (đá bóng, bóng rổ, trượt tuyết...)...

c. Căn cứ vào đối tượng khách du lịch. Theo tiêu thức này du lịch được phân thành:
- Du lịch thanh thiếu niên
- Du lịch dành cho những người cao tuổi
- Du lịch phụ nữ, du lịch gia đình
d. Căn cứ vào phương tiện vận chuyển khách sử dụng. Theo tiêu thức này du lịch
được phân thành:
Trần Đức Trung Du lịch 48
11
Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Du lịch xe đạp
- Du lịch ô tô
- Du lịch máy bay
- Du lịch tàu hỏa
- Du lịch tàu thuỷ
e. Căn cứ vào phương tiện lưu trú mà khách sử dụng. Theo tiêu thức này du lịch được
phân thành:
- Du lịch ở khách sạn (Hotel)
- Du lịch ở khách sạn ven đường (Motel) – khác sạn ở bên lề những chặng đường
dài dành cho khác đi du lịch bằng ô tô
- Du lịch ở lều, trại ( Camping)
- Du lịch ở làng du lịch (Tourism village)
f. Căn cứ vào thời gian đi du lịch. Theo tiêu thức này, du lịch được phân thành:
- Du lịch ngắn ngày (thường gọi là du lịch cuối tuần – weekend holiday)
- Du lịch dài ngày
g. Căn cứ vào vị trí địa lý của nơi đến du lịch. Theo tiêu thức này du lịch được phân
thành:
- Du lịch nghỉ núi
- Du lịch nghỉ biển, sông, hồ
- Du lịch thành phố
- Du lịch đồng quê

hơn. Nghề thủ công mỹ nghệ cổ truyền dân tộc phục vụ cho các mục đích có điều
kiện phục hồi và phát triển hơn như các nghề khắc, khảm, sơn mài,làm tranh lụa…
Du lịch nội địa làm tăng thêm tầm hiểu biết chung về xã hội của người dân
thông qua người ở địa phương khác, ngưòi nước ngoài cư trú tại Việt Nam về phong
cách sống, thẩm mỹ, ngoại ngữ…
Du lịch làm tăng thêm tình đoàn kết, hữu nghị, mới quan hệ hiểu biết của nhân
dân giữa các vùng với nhau.
- Về mặt kinh tế
Du lịch Nội địa tham gia tích cực vào quá trình tạo nên thu nhập quốc dân (sản
xuất ra lưu niệm, chế biến thực phẩm, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật…) làm tăng
thêm tổng sản phẩm quốc nội.
Du lịch Nội địa tham gia tích cực vào quá trình phân phối lại thu nhập quốc
dân giữa các vùng. Hay nói cách khác du lịch tác động tích cực vào việc làm cân đối
cấu trúc của thu nhập và chi tiêu của nhân dân theo các vùng
Du lịch Nội địa phát triển tốt sẽ củng cố sức khoẻ cho nhân dân lao động và
do vậy góp phần làm tăng năng xuất lao động xã hội. Ngoài ra du lich Nội địa giúp
cho việc sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch quốc tế đựợc hợp lý hơn. Vào
trước và sau thời vụ du lịch, khi khách quốc tế vắng có thể sử dụng cơ sở vật chất kỹ
Trần Đức Trung Du lịch 48
13
Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thuật vào phục vụ khách du lịch nội địa. theo cách đó vừa có tác dụng thúc đẩy du
lịch nội địa phát triển mà còn tận dụng đựơc cơ sở vật chất kỹ thuật.
Du lịch Nội địa làm tăng nguồn thu ngân sách cho các địa phương phát triển
du lịch. Hoạt động du lịch Nội địa phát triển, tạo nguồn thu ngân sách cho các địa
phương từ các khoản trích nộp ngân sách của các cơ sở du lịch trực thuộc quản lý
trực tiếp của địa phương và từ các khoản thuế phải nộp của các doanh nghiệp du lịch
kinh doanh trên địa bàn.
Du lịch Nội địa góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển theo.
Hoạt động kinh doanh du lịch đòi hỏi sự hỗ trợ liên ngành như giao thông, vận tải,

lữ hành. Một chương trình du lịch trọn gói có thể được hoàn thiện nhiều lần vào
những thời điểm khác nhau.
1.2.2. Kinh doanh du lịch Nội địa.
1.2.2.1. Khái niệm kinh doanh du lịch Nội địa.
- Kinh doanh lữ hành Nội địa: Là việc thực hiện các hoạt động nghiên cứu thị
trường, thiết lập các chương trình du lịch trọn gói hay từng phần quảng cáo và bán
chương trình này trực tiếp hay gián tiếp qua các trung gian hoặc văn phòng đại diện,
tổ chức thực hiện chương trình và hướng dẫn du lịch. Nhằm phục vụ cho khách du
lịch là cư dân của nước đó hoặc người nước ngoài cư trú tại quốc gia đó đi du lịch.
1.2.2.2. Các tiêu chí đánh giá kết quả kinh doanh Du lịch Nội địa.
1) Số lượt khách và tốc độ tăng trưởng lượt khách: Số lựơt khách chính là tổng
lựơt khách Nội địa mua và sử dụng sản phẩm lữ hành của doanh nghiệp trong một
khoảng thời gian nhất định thường là năm. Như vậy trong một khoảng thời gian nhất
định đó một khách du lịch có thể mua và sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp một
hoặc nhiều lần.
2) Tốc độ tăng trưởng lượt khách biểu hiện mức độ phát triển, sự tăng trưởng và
quy mô của doanh nghiệp
3) Số ngày khách và tốc độ tăng trưởng ngày khách: Số ngày khách là tổng số
ngày mà các lượt khách đi tour trong khoảng thời gian nhất định thưòng tính theo
năm. Trong thực té các doanh nghiệp lữ hành xác định chỉ tiêu này bằng phương
pháp thống kê. Khi xác định chỉ tiêu này cần lưọng hoá các ảnh hưởng. Để lượng hoá
các nhân tố ảnh hưởng có thế định số ngày khách theo công thức sau :
Tổng số ngày khách = Tổng số lượt khách * Số ngày đi tour bình quân của khách
Một lượt khách có thể mua sản phảm lữ hành trong ngày, ngắn ngày hoặc dài ngày.
Tốc độ tăng trưởng ngày khách phản ánh chính xác hơn sự tăng trưởng về quy mô
của doanh nghiệp
4) Doanh thu lữ hành nội địa là toàn bộ các khoản thu nhập mà doanh nghiệp
đó thu được trong một thời kỳ nhất định. Nó bao gồm doanh thu từ hoạt động bán
hay thực hiện các chương trình du lịch, doanh thu từ kinh doanh vận chuyển, hướng
dẫn du lịch và dịch vụ trung gian khác. Doanh thu trong doanh nghiệp phản ánh mức

TY LỮ HÀNH HANOITOURIST
2.1. Giới thiệu chung về công ty lữ hành Hanoitourist
Công ty lữ hành Hanoitourist là một doanh nghiệp nhà nước được thành lập
ngày 25/3/1963; Tên giao dịch quốc tế là Hanoitourist; Trụ sở chính: 18 Lý Thường
Kiệt - Quận Hoàn Kiếm – Hà Nội; Điện thoại: 8256036-8266715–8254391; Fax :
(844)8254209; Web:
Email:
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
- Khi công ty mới thành lập (năm 1963) đến 1976:
Giai đoạn này nước ta trong tình trạng có chiến tranh, kinh tế kém phát triển,
ngành du lịch có tiềm năng nhưng chưa được khai thác. Khi mới lập, công ty du lịch
Hà Nội chỉ là một đơn vị trực thuộc công ty Du Lịch Việt Nam, đặt dưới sự quản lý
của bộ ngoại thương, cơ sở vật chất ban đầu chỉ có khách sạn Dân Chủ, khách sạn
Hoàn kiếm, cửa hàng Bờ Hồ với cơ sở vật chất rầt khiêm tốn.
Nhiệm vụ chủ yếu của công ty Du lịch Hà Nội là phục vụ các đoàn khách
quốc tế của các nước XHCN: Liên Xô, Ba Lan, Tiệp Khắc, Rumania. Khách nội địa
chủ yếu là: Bộ Đội, Công Nhân, Học sinh...tham dự các hội nghị biểu dương những
người có thành tích trong chiến đấu, lao động và học tập. Mục đích chủ yếu là phục
vụ cho nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ kinh doanh du lịch chỉ là thứ yếu.
- Từ năm 1976-1993.
Sau ngày giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước, ngành du lịch tiếp thu
một số cơ sở vật chất chuyên ngành du lịch từ các tỉnh phía Nam bao gồm 1 hệ thống
khách sạn, nhà hàng du lịch, đặc biệt là đội ngũ nhân viên du lịch được đào tạo cơ
bản và trưởng thành trong hoạt động lâu năm của ngành du lịch.
Công ty du lịch Hà Nội trực thuộc Tổng cục Du lịch, được giao nhiệm vụ
quản lý thêm khách sạn Hoà Bình, khách sạn Thống Nhất, khách sạn Hữu Nghị và
khách sạn Bông Sen. Các cơ sở được giao này từng bước được cải tạo nâng cấp
phục vụ du lịch.
Hoạt động kinh doanh du lịch đã có những thay đổi khi nền kinh tế chuyển từ
quản lý kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của

chuyển đổi thành Công ty Lữ hành Hanoitourist chuyên kinh doanh lữ hành quốc tế
và nội địa, đại lý vé máy bay, vận chuyển du lịch xứng tầm với doanh nghiệp của thủ
đô.
Trong vòng 40 năm xây dựng và trưởng thành Công ty Du lịch Hà Nội đã có
14 đơn vị trực thuộc, trong đó có các khách sạn từ 2 sao đến 5 sao, thành lập trung
tâm du lịch, trung tâm thương mại, trung tâm xuất khẩu lao động, đoàn xe du
lịch...mở 2 chi nhánh của công ty tại Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Lạng Sơn và
Móng Cái.
Trần Đức Trung Du lịch 48
18
Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Quá trình phát triển của Công ty ngày càng lớn mạnh, công ty Du lịch Hà Nội
ngày càng có vị thế quan trọng, Doanh thu các năm 2006, 2007, 2008 lần lượt là 72
tỷ đồng, 86 tỷ đồng, 83,18 tỷ đồng đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế quốc
dân. Hiện nay Công ty lữ hành Hanoitourist là 1 trong 10 hãng lữ hành top ten Việt
Nam.
2.1.2. Chức năng và nhiệm vụ của công ty lữ hành Hanoitourist
Công ty lữ hành Hanoitourist là doanh nghiệp nhà nước trực thuộc UBND TP
Hà Nội, có tư cách pháp nhân, tự hạch toán độc lập, có con dấu riêng, chịu sự lãnh
đạo theo ngành dọc của Tổng Cục Du Lịch. Công ty lữ hành Hanoitourist ký hợp
đồng với các doanh nghiệp trong và ngoài nước để tổ chức các chương trình du lịch
khách quốc tế đến Việt Nam, khách du lịch Việt Nam đi nước ngoài và trong nước.
Đến nay công ty chuyên kinh doanh những lĩnh vực du lịch là: Lữ hành, khách
sạn, vui chơi giải trí, thi công xây lắp, cung ứng vật tư, và các dịch vụ bổ sung. Nhằm
đa dạng hoá loại hình sản xuất kinh doanh và đáp ứng nhu cầu của khách du lịch.
Công ty còn có nhiệm vụ nghiên cứu thi trường du lịch, tuyên truyền, quảng
bá... để thu hút khách du lịch. Trực tiếp giao dịch và kí hợp đồng với các tổ chức,
hãng du lịch trong và ngoài nước.
Ngoài ra công ty còn nghiên cứu ứng dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất kinh
doanh để không ngừng nâng cao hiệu quả kinh tế và chất lượng phục vụ: nghiên cứu

(Nguồn: Phòng tổ chức – Hành chính Công ty Du Lịch Hanoitourist)
- Bộ máy tổ chức Công ty Lữ hành Hanoitourist .
Ban lãnh đạo: Giám đốc Công ty và Phó giám đốc
Giám đốc Công ty: chịu trách nhiệm về mọi lĩnh vực của công ty. Phụ trách
đối ngoại và ủy quyền cho các phó giám đốc khi cần thiết, là người phát ngôn chính
của công ty và điều hành trực tiếp các phó giám đốc làm việc.
Phó giám đốc Công ty: chịu trách nhiệm trước giám đốc về lĩnh vực mình phụ
trách, thay mặt giám đốc đàm phán với các đối tác. Ngoài ra còn có trách nhiệm cùng
với giám đốc sắp xếp bảo vệ nguồn nhân sự, tài chính sao cho phù hợp để hoạt động
kinh doanh của công ty đạt hiệu quả cao.
- Tổ chức bộ máy:
Phòng Thị trường Quốc tế: Tổ chức khai thác nguồn khách, bán các chương
trình du lịch, dịch vụ du lịch cho khách du lịch vào Việt Nam và nối các chương trình
du lịch sang các nước khác (nếu có).
Trần Đức Trung Du lịch 48
20
Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Phòng Du lịch nước ngoài: Tổ chức khai thác và thực hiện các chương trình
du lịch đưa người Việt Nam, người nước ngoài cư trú và làm việc tại Việt Nam đi du
lịch nước ngoài.
Phòng Du lịch nội địa: Tổ chức khai thác và thực hiện các chương trình du
lịch cho người Việt Nam, người nước ngoài cư trú và làm việc tại Việt Nam đi du
lịch trong nước, tổ chức chương trình du lịch kết hợp tổ chức hội nghị hội thảo trong
nước.
Phòng Tài chính - Kế toán: Tham mưu cho Giám đốc về công tác tài chính, kế
toán, thống kê, kế hoạch kinh doanh dài hạn và ngắn hạn. Theo dõi việc quản lý, sử
dụng và bảo toàn vốn kinh doanh của Công ty.
Phòng Tổ chức - Hành chính: Tham mưu cho Giám đốc về công tác tổ chức,
nhân sự, lao động tiền lương, thi đua, đào tạo, văn thư tổng hợp, hành chính quản trị
của Công ty.

15 12 22 8 7 6 2
Nguồn : Phòng tổ chức HC - Công ty Hanoitourist
Theo thống kê từ bảng trên chỉ có 67 người làm việc tại Công ty Lữ hành Hà
Nội (địa chỉ 3B Hai Bà Trưng), còn lại 20 người khác làm tại các văn phòng chi
nhánh của công ty cũng tại Hà Nội như: số 6 Lê Thánh Tông, 32A Hàng Vôi.
Hanoitourist với thế mạnh là loại hình du lịch Outbound vì vậy đội ngũ nhân
viên cũng chiếm số lượng lớn nhất về nguồn nhân lực so với các phòng ban khác.
Trung bình tỉ lệ nhân viên phòng Outbound luôn chiếm 1/4 tổng số lượng nhân viên
tại Hanoitourist. Nhân viên phòng Outbound được chia ra làm 3 nhóm: điều hành,
bán tour và hướng dẫn viên.
2.1.5. Cơ sở vật chất kỹ thuật của Công ty Lữ hành Hanoitourist
Hiện nay công ty lữ hành Hanoitourist đã có một hệ thống cơ sở vật chất kỹ
thuật khá đầy đủ. Trụ sở chính của Công ty đặt tại 18 Lý Thường Kiệt và 30A Lý
Thường Kiệt. Đây là một điểm mạnh của công ty mà rất ít các Công ty Du lịch khác
trên thị trường có được. Ngoài ra Công ty còn có một đội xe lớn và hiện đại với 35
chiếc từ 4 tới 45 chỗ ngồi trị giá khoảng 20 tỷ đồng. Chính vì vậy mà Công ty lữ
hành Hanoitourist cần duy trì và phối hợp thật chặt chẽ với đội xe Du lịch để có thể
nâng cao chất lượng phục vụ khách du lịch của công ty.
Trong hệ thông cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty còn có 14 khách sạn lớn đạt
tiêu chuẩn từ 2 sao đến 5 sao. Đó là Khách sạn Dân chủ 4 sao với số lượng phòng là
90 phòng. Khách sạn Hoà bình 3 sao với số lượng phòng là 102 phòng. Khách sạn
Hoàn kiếm 4 sao với số lượng phòng 120 phòng. Khách sạn Bông sen 2 sao với số
lượng 30 phòng. Khách sạn Sofitel 5 sao với 244 phòng…
Ngoài ra Công ty lữ hành Hanoitourist còn có 4 chi nhánh tại Thành phố Hồ
Chí Minh, Đà Nẵng, Lạng Sơn và Móng Cái – Quảng Ninh, qua đó ta thấy được rằng
các lĩnh vực kinh doanh của công ty rất rộng rãi có khả năng đáp ứng được mọi nhu
cầu của khách hàng.
2.2. Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty Lữ hành Hanoitourist
2.2.1. Tình hình khách
Trần Đức Trung Du lịch 48

nguồn doanh thu và lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh du lịch của Công ty Du lịch
Hà Nội. Xong năm 2009 với những biện pháp kích cầu du lịch của Tổng cục du lịch
thì hoạt động kinh doanh du lịch của các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành đã dần
khởi sắc và có những chyển biến tích cực.
Trần Đức Trung Du lịch 48
23
Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bảng số 4: Doanh thu và lợi nhuận Outbound qua các năm
(Đơn vị tính: tỷ đồng)
Chỉ tiêu
Năm 2006 Năm 2007
Năm 2008
Năm 2009
Tổng số
tiền
(Tỷ
đồng)
Outbound
Tổng
số tiền
(Tỷ
đồng)
Outbound
Tổng số
tiền
(Tỷ đồng)
Outbound
Tổng số
tiền
(Tỷ

(Tỷ
đồng)
Inbound
Tổng
số tiền
(Tỷ
đồng)
Inbound
Doanh thu 72 23 86 17 83,18 18 84.4 14,8
Trần Đức Trung Du lịch 48
24
Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Lợi nhuận 0,95 0,098 1,156 0,065 0,767 0,058 0,82 0,068
Tỉ lệ
LN/DT
1,32%
0,426
%
1,34%
0,38
%
0,92%
0,32
%
0,97% 0,46%
Năm 2006 với lượng khách Việt Nam đi du lịch nước ngoài (Outbound
tourist) tăng lên đáng kể so với năm 2005 (tăng 1153 khách), doanh thu của công ty
đạt 72 tỷ đồng, tăng 5 tỷ đồng, trong đó lợi nhuận chỉ đạt 950 triệu đồng Nguyên
nhân khiến cho lợi nhuận bị sụt giảm là do tỷ lệ lạm phát năm 2006 ở mức cao, xăng
dầu tăng giá khiến cho chi phí vận chuyển: hàng không, đường bộ đều tăng nhưng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status