Nâng cao hiệu quả kinh doanh giao nhận vận tải của công ty OEC trong bối cảnh hội nhập quốc tế - Pdf 23

Chuyên đề thực tập Vũ Bá Trưởng Kdqt 46b
LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, đặc biệt là từ khi
Việt Nam gia nhập vào tổ chức thương mại thế giới WTO, việc nâng cao hiệu
quả kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế nói chung
và các doanh nghiệp thuộc ngành giao nhận vận tải nói riêng ngày càng trở
thành vấn đề cấp thiết. Đối với ngành giao nhận vận tải của Việt Nam năm
2009 đặc biệt lại là thời điểm mở cửa thị trường. Ngành giao nhận vận tải của
Việt Nam hiện nay vẫn còn đang trong quá trình phát triển bước đầu lên cũng
sẽ gặp không ít những khó khăn. Trong bối cảnh cạnh tranh như vậy các
doanh nghiệp giao nhận vận tải tỏ ra bối rối trong việc nâng cao hiệu quả kinh
doanh của mình. Đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Công ty giao nhận vận tải Phương Đông Oriental Express (OEC) là một
doanh nghiệp nhỏ hoạt động trong lĩnh vực giao nhận vận tải đầy mới mẻ của
Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật cạnh tranh của thị trường, trong thị
trường giao nhận hàng hoá nội địa và quốc tế. Đề tài nghiên cứu:
” Nâng cao hiệu quả kinh doanh giao nhận vận tải của công ty OEC
trong bối cảnh hội nhập quốc tế” sẽ giải quyết những vấn đề cơ bản trong
việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty.
Mục đích nghiên cứu: Đề xuất các gải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh
giao nhận hàng hóa tại Công ty OEC
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là Hiệu quả
kinh doanh của Công ty OEC trong lĩnh vực giao nhận vận tải. Giai đoạn
nghiên cứu là từ năm 2005 đến năm 2007. Đây là ba năm đầu thành lập và
hoạt động của Công ty lên phản ánh rõ nét các quyết tâm và bản lĩnh của ban
1
Chuyên đề thực tập Vũ Bá Trưởng Kdqt 46b
lãnh đạo Công ty trong việc đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh
doanh.
Kết cấu chuyên đề:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp giao nhận

bổ sung.
3
Chuyên đề thực tập Vũ Bá Trưởng Kdqt 46b
Nhóm thứ ba cho rằng: Hiệu quả kinh doanh là một đại lượng so sánh
giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó. Quan điểm này
đã phản ánh được mối liên hệ bản chất của hiệu quả kinh doanh, vì nó gắn
được kết quả với các chi phí bỏ ra, coi hiệu quả là sự phản ánh trình độ sử
dụng các nguồn lực. Tuy nhiên, kết quả và chi phí đều luôn luôn vận động,
quan điểm này chưa thể hiện được tương quan về lượng và chất giữa kết quả
và chi phí.
Nhóm thứ tư cho rằng : Hiệu quả kinh doanh phải thể hiện được mối
quan hệ giữa sự vận động của kết quả với sự vận động vủa chi phí tạo ra kết
quả đó, đồng thời phản ảnh được mối quan hệ giữa sự vận động của kết quả
với sự vận động của chi phí tạo ra kết quả đó, đồng thời phản ánh được trình
độ sử dụng các nguồn lực sản xuất. Quan điểm này đã chú ý đến sự so sánh
tốc độ vận động của hai yếu tố phản ánh hiệu quả kinh doanh, đó là tốc độ
vận động của kết quả và tốc độ vận động của chi phí. Mối quan hệ này phản
ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất của doanh nghiệp.
Như vậy, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế
phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất, trình độ tổ chức và quản lý
của doanh nghiệp để thực hiện ở mức cao nhất các mục tiêu kinh tế xã hội với
chi phí thấp nhất. Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp gắn rất chặt với hiệu
quả kinh tế của toàn xã hội, vì thế nó cần xem xét toàn diện cả về mặt định
tính lẫn đinh lượng, không gian và thời gian. Về mặt định tính, mức độ hiệu
quả kinh doanh của doanh nghiệp là những lỗ lực của doanh nghiệp và phản
ánh tình độ quản lý của doanh nghiệp đồng thời gắn những lỗ lực đó với việc
đáp ứng các mục tiêu và yêu cầu của doanh nghiệp và của xã hội về mặt kinh
tế, chính trị và xã hội. Về mặt định lượng, hiệu quả kinh doanh thể hiện mối
tương quan so sánh giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra. Mức chênh lệch
này càng lớn thì hiệu quả kinh doanh càng cao và ngược lại. Cả hai mặt định

1. 1. 2. Chi phí kinh doanh và hiệu quả kinh doanh
Chi phí kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của tất cả các khoản chi cho
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm mua sắm nguyên vật liệu,
máy móc thiết bị, công cụ sản xuất khác, thuê lao động, đất đai, xây dựng nhà
xưởng, chi phí quản lý, chi phí trong quá trình sản xuất, chi phí tiếp khách,
giao dịch…. nghĩa là tất cả các khoản chi cho đến khi giao được hàng đến
người tiêu dụng, kể cả nộp thuế và mua bảo hiểm.
Chi phí kinh doanh được biểu thị bằng một số chỉ tiêu: Tổng chi phí kinh
doanh, chi phí sản xuất (giá thành) chi phí ngoài sản xuất (cho lưu thông hàng
hoá, như vận chuyển, bốc xếp, lưu kho, báo vệ hàng hoá…) chi nộp thuế, mua
báo hiểm, chi tiếp thị và các khoản khác. Để tính hiệu quả kinh doanh, người
ta thường dùng các chỉ tiêu như tổng chi phí sản xuất, tổng vốn kinh doanh,
vốn cố định, vốn lưu động.
Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ những thành quả thu
được sau một quá trình kinh doanh được xã hội thừa nhận.
Định nghĩa trên cho thấy, có thể có nhiều đại lượng xác định kết quả
kinh doanh của doanh nghiệp như sản lượng, giá trị tổng sản lượng, giá trị sản
lượng hàng hoá và giá trị sản lượng hàng hoa thực hiện, doanh thu, giá trị sản
phẩm thuần tuý, giá trị sản phẩm thặng dư. Tuy nhiên, trong các doanh nghiệp
thì:
Gía trị sản phẩm thuần tuý và hiệu số của giá trị tổng sản phẩm và tổng
chi phí vật chất (gồm nhà xưởng, thiết bị máy móc (c1) và nguyên vật liệu
(c2). Trong các doanh nghiệp chỉ tiêu này bao gồm:
 tiền lương chính và phụ cấp của công nhân viên chức
 chi phí bảo hiểm xã hội
 Các chi phí bằng tiền khác
6
Chuyên đề thực tập Vũ Bá Trưởng Kdqt 46b
 Các khoản phải nộp cho ngân sách nhà nước
 Phần lợi nhuận để lại cho doanh nghiệp trích các quỹ.

qủa hoặc một đơn vị kết quả tạo ra bao nhiêu đơn vị chi phí
Thứ hai, căn cứ vào phạm vi tính toán hiệu quả : Hiệu quả kinh doanh
tổng hợp và hiệu quả kinh doanh bộ phận:
 Hiệu quả kinh doanh tổng hợp là hiệu quả kinh doanh tính chung cho
toàn doanh nghiệp, cho các bộ phận trong doanh nghiệp.
 Hiệu quả kinh doanh bộ phận là hiệu quả kinh doanh tính riêng cho
từng bộ phận của doanh nghiệp hoặc từng yếu tố sản xuất.
Thứ 3, nếu căn cứ thời gian mang lại hiệi quả : Hiệu quả trước mắt và
hiệu quả lâu dài.
Thứ tư, căn cứ vào đối tượng xem xét hiệu quả : Hiệu quả trực tiếp và
hiệu quả gián tiếp.
Thứ 5, căn cứ vào khía cạnh khác nhau của hiệu quả : Hiệu quả tài
chính, hiệu quả chính trị- xã hôi.
Hiệu quả tài chính là hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp về mặt kinh
tế tài chính được biếu hiện qua các chỉ tiêu thu, chi trực tiếp của doanh
nghiệp.
Hiệu quả chính trị- xã hội là hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp về
mặt chinh trị - xã hội- môi trường.
8
Chuyên đề thực tập Vũ Bá Trưởng Kdqt 46b
1. 1. 4 Các chỉ tiêu tính hiệu quả kinh kinh doanh của Doanh nghiệp
Hiệu quả kinh doanh không chỉ là mục tiêu kinh tế tổng hợp mà là nhiệm
vụ cơ bản của công tác quản trị doanh nghiệp. Để đánh giá hiệu quả kinh
doanh của các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường, người ta thường sử dụng
một hệ thống các chỉ tiêu. Hệ thống chỉ tiêu này cho chúng ta rõ kết quả về
mặt lượng của phạm trù hiệu quả kinh tế, hiệu quả đạt được cao hay thấp sau
mỗi kỳ kinh doanh.
Để có những hiểu biết đúng đắn về bản chất của hiệu quả kinh doanh của
các doanh nghiệp, người ta phân loại các chỉ tiêu trong hệ thống chỉ tiêu đánh
giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp:

nghiệp đó là:
Chỉ tiêu lợi nhuận (p)
Trong cơ chế thị trường, lợi nhuận (p) vừa được coi là nhân tố để tính
toán hiệu quả kinh tế, vừa được coi là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp của doanh
nghiệp. Chỉ tiêu này được tính như sau:
P = D- (Z+ TH+ TT) (4)
Trong đó:
 P: Lợi nhuận của doanh nghiệp trong kỳ kinh Doanh
 D: Doanh thu tiêu thụ trong một kỳ kinh Doanh
 Z: Gía thành sản phẩm trong một kỳ kinh Doanh
Th: Các loại thuế phải nộp sau một kỳ kinh doanh.
10
Chuyên đề thực tập Vũ Bá Trưởng Kdqt 46b
Chỉ tiêu này cho biết tổng lợi nhuận sau thuế của Công ty sau một kỳ
kinh doanh.
Mức vốn hao phí cho một đơn vị sản phẩm
Chỉ tiêu này được tính theo công thức :
Sv = ( tr/hđ) (7)
Trong đó :
Sv : Suất hao phí vốn. Đơn vị triệu Vnđ / hợp đồng
V: Tổng vốn
Q: Sản lượng
Chỉ tiêu này cho biết hiệu quả sử dụng các loại vốn bằng tiền của doanh
nghiệp. Lượng vốn sử dụng trong quá trình kinh doanh của doanh ngiệp gồm:
Vốn đầu tư cơ bản, vốn cố định, vốn lưu động … Do đó, trong thực tiễn ở các
doanh nghiệp, công thức (5) được cụ thể hoá cho từng loại vốn như sau:
Svđt =
Svcđ =
Svlđ =
Trong đó:

Chỉ tiêu này được tính theo công thức:
NSLĐ =
12
Chuyên đề thực tập Vũ Bá Trưởng Kdqt 46b
Trong đó :
 NSLĐ : Năng suất lao động bình quân của kỳ kinh doanh.
 Q: Khối lượng sản phẩm được tạo ra trong kỳ kinh doanh
 L: Số lượng lao động bình quân của kỳ kinh doanh hoặc lượng thời
gian lao động bình quân của kỳ kinh doanh.
Chỉ tiêu cho ta biết khối lượng sản phẩm tạo ra trên một đầu người. Chỉ
tiêu này càng lớn thì hiệu quả kinh doanh càng cao.
Suất hao phí lao động sống
suất hao phí lao động sống được tính theo công thức:
Slđ =
Trong đó: Slđ là suất hao phí lao động sống
Chỉ tiêu này cho biết lượng lao động sống hao phí trên một đơn vị sản
phẩm. Chỉ tiêu này càng thấp thì chứng tỏ doanh nghiệp càng sử dụng hiệu
quả lực lượng lao động của mình. Tóm lại để đánh giá hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp, một phương án kinh doanh, người ta phải sử dụng đồng
thời một hệ thống chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh. Đồng thời, qua sự
phân tích sự biến động của từng chỉ tiêu qua một thời kỳ, mối quan hệ giữa
các chỉ tiêu và sự vận động của chúng mà đánh giá hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp, tìm ra các nguyên nhân dẫn đến hiệu quả thấp để từ đó tìm ra
các biện pháp năng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Doanh lợi doanh thu (ROS)
ROS = Lợi nhuận sau thuế / Doanh thu thuần
ROS cho biết trong một đồng doanh thu thuần thì có bao nhiêu đồng lợi
nhuận sau thuế.
Doanh lợi vốn chủ sở hữu ROE
13

chi phí, hoặc là làm cho tốc độ tăng doanh thu phải nhanh hơn tốc độ tăng chi
phí. Đây là ba con đường cơ bản để một doanh nghiệp nói chung có thể đạt
được mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh doanh. Các biện pháp để thực hiện ba
con đường này rất khác nhau tùy thuộc vào tình hình cụ thể ở từng doanh
nghiệp, tuy nhiên cũng có thể tổng kết thành một số biện pháp cơ bản dựa trên
mỗi con đường sau đây:
Thứ nhất: Tăng doanh thu là một con đường cơ bản để nâng cao hiệu
quả kinh doanh của doanh nghiệp. Muốn tăng doanh thu thì các doanh nghiệp
phải tìm ra các biện pháp để tiêu thụ được nhiều hàng hóa, hoặc là sản xuất ra
được nhiều hàng hóa, dịch vụ tốt hơn trước đây để có thể bán được nhiều
hàng hóa, hoặc bán hàng với giá cao hơn trước. Tiếp đến, để tiêu thụ thụ được
nhiều hàng hóa cũng đòi hỏi hoặc là tạo ra được các sản phẩm, dịch vụ tốt
hơn trước đây hoặc là làm công tác marketinh thật tốt để để nhiều khách hàng
biết đến và chấp nhận sản phẩm, dịch vụ của công ty.
Thứ 2: Giảm chi phí là con đường quan trọng không kém con đường
tăng doanh thu. Giảm chi phí giúp doanh nghiệp có thể bán được hàng hóa
với giả thấp hơn trước và thậm chí còn thấp hơn đối thủ cạnh tranh, nhờ đó
mà doanh nghiệp có thể bán được nhiều hàng hơn trước hoặc là thu được
nhiều lợi nhuận hơn trước đây. Việc giảm chi phí sẽ dẫn đến lơi nhuận tăng
và điều đó có nghĩa là hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp cũng tăng theo.
Thứ 3: Tìm cách để cho tốc độ tăng doanh thu tăng nhanh hơn tốc độ
tăng chi phí. Kinh doanh trong điều kiện sản xuất lớn thì chi phí không thể
giảm đi được. Trong trường hợp này doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp để
15
Chuyên đề thực tập Vũ Bá Trưởng Kdqt 46b
tăng tốc độ của doanh thu lớn hơn tốc độ tăng chi phí làm cho tương quan
giữa doanh thu và chi phí theo chiều hướng có lơi. Điều đó cũng có nghĩa là
doanh nghiệp phải sử dụng các chi phí một cách tiết kiệm và hợp lý, tránh
lãng phí.
Từ những biện pháp trên đây, các doanh nghiệp nghiệp còn phải tìm các

K =
Đối với hàng rời:
K=
Trong đó một đơn vị thời gian có thể là tính theo tháng, theo quý hoặc
theo năm. Thông thường thì đơn vị thời gian được chọn là một tháng, vì nó
phản ánh kịp thời năng suất khai thác tuyến đường, đồng thời cũng có thể so
sánh ngay được giữa các tháng với nhau. Phản ánh khả năng và tốc độ khai
thác của một công ty giao nhận với một tuyến đường cụ thể, ví dụ tuyến vận
tải đường biển nói chung, hoặc có thể tính chi tiết tuyến vận tải biển Thượng
Hải- Hải Phòng. . . Đối với đường hàng không và vận tải đa phương thức
cũng tính toán tương tự.
Mức tăng trưởng khách hàng
M = %
Chỉ tiêu này phản ánh tình hình tăng giảm khách hàng của doanh nghiệp
trong thời gian một năm. Khác với lĩnh vực khác, khách hàng của các công ty
Giao nhận vận tải là các doanh nghiệp và hoàn toàn có thể thống kê được
17
Chuyên đề thực tập Vũ Bá Trưởng Kdqt 46b
trong một thời gian nhất định. Một doanh nghiệp làm ăn hiệu quả thì không
những M ≥ O mà phải càng lớn càng tốt.
Chỉ tiêu này cũng có những hạn chế nhất định là không phản ánh được
mặt chất lượng của một khách hàng mà chỉ phản ánh mặt số lượng. Có những
công ty số khách hàng tăng trưởng hàng năm nhó nhưng mỗi khách hàng đến
với họ lại có giá trị hợp đồng rất lớn. Tuy nhiên M cũng phản ánh được hiệu
quả của công tác xúc tiến bán hàng của doanh nghiệp.
1. 2. 3. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh
nghiệp giao nhận vận tải ở Việt Nam.
Có ba yếu tố khiến các doanh nghiệp giao nhận vận tải ở Việt Nam cần
nâng cao hiệu quả kinh doanh trong bối cảnh hiện nay:
Thứ nhất, nâng cao hiệu quả kinh doanh giao nhận nhằm là tăng năng

hàng hóa so với tự họ đứng ra đảm nhiệm. Vì vậy nâng cao hiệu quả kinh
doanh giao nhận ngoài việc đem lại lợi ích cho các doanh nghiệp giao nhận
còn giúp ra tăng sức cạnh tranh của các doanh nghiệp thuộc các ngành khác,
do vậy làm tăng hiệu quả của nền kinh tế.
Thứ ba, nâng cao hiệu quả kinh doanh giao nhận vận tải và logistic còn
góp phần đáng kể vào việc điều tiết cán cân thương mại và làm tăng GDP của
đất nước : Điều này là do chi phí cho các hoạt động giao nhận và vận tải
chiếm phần không nhỏ trong tổng chi phí của một hàng hóa. Hiện nay thị
trường béo bở này đang do các doanh nghiệp nước ngoài chiếm lĩnh là chủ
yếu, do vậy hàng năm chúng ta phải bỏ ra một lượng ngoại tệ khá lớn để nhập
khẩu dịch vụ giao nhận vận tải hàng hóa. Điều này gây ra bất lợi trong cán
cân thương mại của nước ta. Do vậy việc nâng cao hiệu quả kinh doanh giao
19
Chuyên đề thực tập Vũ Bá Trưởng Kdqt 46b
nhận của các doanh nghiệp của Việt Nam trở lên cấp thiết, nhằm đem lại
nguồn thu cho nền kinh tế, tránh tình trạng phụ thuộc vào nước ngoài.
20
Chuyên đề thực tập Vũ Bá Trưởng Kdqt 46b
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA
CÔNG TY OEC
2. 1. Giới thiệu công ty OEC
2. 1. 1. Quá trình hình thành và phát triển
Tên công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN GIAO NHẬN PHƯƠNG ĐÔNG
Tên giao dịch: ORIENTAL EXPRESS JOIN STOCK COMPANY
Viết tắt là : OEC.
Địa chỉ trụ sử chính: Số nhà 24, ngõ 30, phố Tạ Quang Bửu, Phường
Bách Khoa, Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
Website: WWW. ORIENTALEPRESS. COM. VN
OEC được thành lập ngày 27/12/2004.Với số vốn ban đầu (vốn điều lệ)
là 850.000.000 VNĐ.

+ Đảm bảo thực hiện đúng theo pháp luât về việc sử dụng lao động
+ Trích 5%- 10% lãi dòng hàng năm để lập quỹ dự trữ bắt buộc theo
điều lệ của công ty
22
Chuyên đề thực tập Vũ Bá Trưởng Kdqt 46b
2. 1. 3. Cơ cấu tổ chức của công ty
Mô hình cơ cấu tổ chứcHình 2. 1 Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty
2. 1. 4. Giới thiệu các phòng ban chức năng
Hội đồng quản trị: Là cơ quan quản lý công ty do Đại hội đồng cổ đông
bầu ra, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định mọi vấn đề quan trọng
liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm
quyền của Đại hội đồng cổ đông. Hội đồng quản trị có quyền và nghĩa vụ
giám sát Giám đốc điều hành và những người quản lý khác trong công ty.
Quyền và nghĩa vụ của HĐQT do Pháp luật và Điều lệ Công ty, các Quy chế
nội bộ của Công ty và Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông quy định.
Hiện tại hội đồng quản trị của công ty gồm ba thành viên là : Ông Phạm
Hồng Đăng (Giám Đốc), Ông Trần Trung Thành (Trưởng phòng dịch vụ
khách hàng), Bà Đinh Thị Huyền Trâm, cổ đông.

Phòng
Kinh
Doanh
Phòng
Dịch vụ
khác hàng
Phòng kế
toán

thông tin với các đại lý của công ty được thiết lập tại các cảng biển mà công
ty có quan hệ giao nhận, trao đổi thông tin giữa khách hàng và công ty, phát
hành B/L và các loại chứng từ khác, cập nhật và lưu trữ thông tin về hàng
hoá, phân tích và tổng hợp các số liệu để lâp báo cáo thống kê kịp thời và đặc
biệt cung cấp cho khách hàng những thông tin về tình trạng hàng hoá của họ ở
mọi nơi mọi lúc. Hiên nay Oriental Express đang sử dụng các hệ thông tin sau
đây.
Oriental Express Communication System (OCS)
OCS là hệ thống trao đổi thông tin giữa công ty và đại lý của họ ở khắp
nơi trên thế giới giới dưới dạng telex. OCS là hệ thống thông tin hữu hiệu với
nhiều chức năng giúp người sử dụng tiết kiệm thời gian và trao đổi thông tin
nhanh chóng. OCS được hầu hết các nhân viên Oriental Express sử dụng hàng
ngày.
Operations and Documentation execution System (ODS):
ODS là một trong những hệ thống quan trọng nhất của Oriental Express.
Ban đầu ODS được thiết kế riêng cho vận chuyển đường biển và cho quy
trình làm hàng SCM (Supply Chain Management).
ODS được sử dụng để quản lý đơn đặt hàng của khách hàng. Hệ thống
này có những đặc điểm chính như:
- Với những khách hàng đặc biệt, ODS được cài đặt để nhận biết ngay
được số đơn đặt hàng (Purchase Order- PO) vừa được cập nhật là đúng hay
sai, giúp nhân viên cập nhật số liệu có thể ngay lập tức liên hệ với khách
hàng, để kiểm tra lại và sửa lại cho đúng.
- Trong trường hợp, nhiều khách hàng cung cấp trước cho Oriental
Express số đơn đặt hàng cùng chi tiết của từng đơn hàng, trong đó nêu rõ thời
25

Trích đoạn Nhóm chỉ số đặc trưng của ngành giao nhận vận tải 3 Các biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty OEC 4 2 Những mặt tồn tại và nguyên nhân 2 Thách thức
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status