Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN THỊ NHƢ DƢƠNG
PHONG CÁCH THƠ LÊ ANH XUÂN
CHUYÊN NGÀNH VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học PGS.TS. Vũ Văn Sỹ
cứu để tôi hoàn thành tốt Luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Văn, Khoa sau đại
học, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè, người thân,
những người đã luôn quan tâm, động viên và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi
trong suốt thời gian qua.
Thái Nguyên, 10/04/2014
Học viên Nguyễn Thị Nhƣ Dƣơng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 14
Chƣơng 1: KHÁI QUÁT VỀ PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT THẾ HỆ THƠ
CHỐNG MỸ VÀ QUÁ TRÌNH SÁNG TẠO CỦA LÊ ANH XUÂN 14
1.1. Khái quát về phong cách 14
1.1.1 Định nghĩa phong cách 14
1.1.2. Phong cách thời đại 16
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Trong dàn đồng ca thế hệ trẻ của nền thơ chống Mỹ cứu nước, Lê
Anh Xuân đã để lại một di sản có số lượng không lớn: 60 bài thơ, một bản
trường ca và một tập văn xuôi. Nhiều bài thơ cả ngắn cả dài “còn có sự vội
vàng chƣa kịp gọt rũa công phu”, nhưng đó là sản phẩm của một trái tim nhiệt
huyết và có cốt cách, để lại dấu ấn đậm nét trong lịch sử văn học Việt Nam
hiện đại. Thơ Lê Anh xuân là tiếng nói của người con Bến Tre, tiếng nói của
người con miền Nam anh dũng. Giọng thơ Lê Anh Xuân chân thành, trong
sáng, hồn nhiên mà đằm thắm, chan chứa tình yêu quê hương, đất nước, khao
khát được dâng hiến tuổi trẻ cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước.
1.2. Thơ ca thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã góp phần không
nhỏ vào thắng lợi vẻ vang của dân tộc. Để có một nền thơ ca đáng trân trọng và
tự hào như vậy, chúng ta không thể không nhắc đến đội ngũ những cây bút trẻ
đầy tài năng và đầy nhiệt huyết như Bằng Việt, Nguyễn Khoa Điềm, Phạm
Tiến Duật, Xuân Quỳnh, Hữu Thỉnh, Vũ Quần Phương…. . Trong đội ngũ thế
hệ trẻ của nền thơ chống Mỹ, Lê Anh Xuân được đánh giá là một nghệ sỹ ngôn
từ đã "làm tròn sứ mệnh lịch sử với dân tộc và thời đại”. Ông ngã xuống trên
chiến trường miền Nam ở tuổi đời hai mươi tám, nêu một tấm gương sáng về
lòng say mê lý tưởng, về lẽ sống cao đẹp và nghĩa cử trong sáng tạo thi ca - một
biểu tượng tinh thần dân tộc đã “tạc vào thế kỷ” chiến tranh và cách mạng.
1.3. Cho đến nay đã có nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu về
Lê Anh Xuân đăng trên các tuần báo văn nghệ, văn học, tạp chí văn học,
giáo trình, sách tham khảo về văn học Kế thừa sự gợi ý của những người đi
trước chúng tôi chọn đề tài Phong cách thơ Lê Anh Xuân để tiếp tục nghiên
cứu đồng thời cũng là nén tâm nhang tưởng niệm một nhà thơ chiến sỹ,
người anh hùng liệt sĩ đã “ngã tồn ngã huyết dĩ can nguyên” (lấy máu đào
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
những bài ca lạc quan cách mạng” [46, tr.99]. Bài viết này có những nhận
xét tinh tế về thế giới nghệ thuật trong thơ Lê Anh Xuân khi ông mới có tập
Tiếng Gà gáy ra đời.
Năm 1968, Hoài Thanh - nhà phê bình văn học hàng đầu nước ta đương
thời có hai bài viết liền nhau đăng trên Tạp chí văn học số 9 và số 10/1968. từ
đó, thơ Lê Anh Xuân trở nên quen thuộc hơn với độc giả và được độc giả đón
nhận nhiều hơn.
Ở bài viết "Tiếng gà gáy” của Ca Lê Hiến hay tâm sự của một thanh
niên tập kết" đăng trên Tạp chí Văn học số 9/1968 ở đoạn mở đầu Hoài Thanh
đã tâm sự: “Đã từ lâu tôi có ý định viết về tập thơ này nhƣng cứ vƣớng lẽ này
lẽ khác không viết đƣợc. Đến nay mới viết thật là quá muộn. Nhƣng muộn cũng
cứ viết vì không thể nào không viết” [42, tr.38]. Có thể nói, ngay từ khi mới ra
đời tập thơ Tiếng gà gáy đã đem đến cho nhà phê bình Hoài Thanh một tình
cảm đặc biệt, nó khiến ông phải “muộn cũng cứ viết vì không thể nào không
viết”. Hoài Thanh khẳng khái nhận định:“Trong số những nhà thơ trẻ của
chúng ta, rõ ràng Ca Lê Hiến là một trong số những nhà thơ xuất sắc nhất”.
Theo Hoài Thanh, Tiếng gà gáy báo hiệu một tâm hồn thơ tươi sáng, một dòng
cảm xúc nhẹ nhàng, giản dị mà ngọt ngào, một tiếng nói trữ tình đằm thắm,
thiết tha mà sâu lắng: “Những kí ức trong thơ Ca Lê Hiến luôn luôn hồn nhiên
và trong sáng. Vì đó là kí ức tuổi thơ. Vì ngƣời làm thơ vẫn còn giữ nguyên
đƣợc của tuổi thơ cái nhìn hồn nhiên trong sáng” [42, tr.45].
Ở bài viết thứ hai: “Thơ Lê Anh Xuân hay tấm lòng của một ngƣời
thanh niên trên tiền tuyến lớn”. Trong bài viết này, Hoài Thanh giới thiệu
những sáng tác của Lê Anh Xuân kể từ khi nhà thơ trở về miền Nam chiến
đấu, chủ yếu tập trung ca ngợi con người miền Nam và cuộc sống mới đang
diễn ra ở miền Bắc. Hoài Thanh cho rằng: “Đây là tiếng nói của một ngƣời
thanh niên. Lê Anh Xuân đang ở lứa tuổi mà một ánh nhìn trong, một nụ
cƣời xinh, một dáng đi mềm mại, một bàn chân đẹp, một làn hƣơng đều có
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
tác giả đối với đất mẹ quê hƣơng. Đây là thứ tình cảm nồng nhiệt, vồ vập của
đứa con đi xa lâu mới trở về. Nhà thơ đi chân đất, cho chân mình ngập trong
bùn đất, bƣớc trên những trồi non nhọn sắc mới mọc sau trận na – pan để sống
cái cảm giác trực tiếp gắn bó với đất, để nghe hơi thở ấm áp của đất, nghe
thấm vào mình sự sống của đất mẹ quê hƣơng” [33].
Với bài “Thơ Lê Anh Xuân”, in trong Giáo trình văn học Việt Nam
tháng 10/1977, Huỳnh Lý đã có những nghiên cứu khá chi tiết về nội dung
và nghệ thuật thơ Lê Anh Xuân: “Thơ Lê Anh Xuân trƣớc hết là thơ ca ngợi
không dè dặt cuộc sống chiến đấu và lao động ở hai miền Nam Bắc, thơ anh
cũng là thơ mang tình yêu quê hƣơng thắm thiết, thơ của những tình cảm
tƣơi mát, hồn nhiên, trong sáng”. Huỳnh Lý còn nói về nghệ thuật thơ của
Lê Anh Xuân như sau: “Ngôn ngữ thơ Lê Anh Xuân là một ngôn ngữ tình
cảm, hồn nhiên, thật thà, tƣơi trẻ, trong sáng”; “Phải nói rằng, các chức
năng của thơ – của văn nghệ nói chung – Lê Anh Xuân đều đạt đƣợc ở mức
khá cao, riêng có chức năng thẩm mĩ thì chƣa đƣợc nâng lên ngang hàng với
giáo dục và nhận thức”.
Trong tuyển tập Thơ Lê Anh Xuân (NXB văn học, H.1981) ở Lời giới
thiệu NXB Văn học đã viết: "Ngay từ những bài thơ đầu tiên ngƣời ta đã nhận
ra một phong cách riêng: chân thành, hồn nhiên mà trữ tình, đằm thắm, giản
dị, trong sáng nhƣng không kém phần tinh tế sâu lắng”.
Bích Thu với bài Lê Anh Xuân in trong cuốn Nhà thơ Việt Nam hiện
đại, Nxb Khoa học xã hội, 1984, đã phân tích khá cụ thể về nội dung và nghệ
thuật theo trình tự từ tập Tiếng gà gáy đến Hoa dừa và Trƣờng ca Nguyễn
Văn Trỗi. Theo Bích Thu: “Tình yêu quê hƣơng đƣợc Lê Anh Xuân thể hiện
qua cái tôi trữ tình giàu cảm xúc, tinh tế” và “Tình yêu quê hƣơng và lòng
khao khát đƣợc trở về là giai điệu nổi bật tạo nên chất trữ tình trong sáng,
trẻ trung trong thơ Lê Anh Xuân”. Đến tập Hoa Dừa: “Nguồn mạch quê
hƣơng đƣợc khơi dậy trong Tiếng gà gáy đến đây càng chảy xiết hơn, mạnh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
nhƣ cơn mƣa đầu hạ, dạt dào, tƣơi mát, nhƣ dòng sông mải miết băng băng
về phía trƣớc”. Nói về giọng thơ của Lê Anh Xuân, tác giả nhận xét thơ Lê
Anh Xuân là một giọng điệu trữ tình riêng rất khó lẫn: “Cái giọng ấy phản
ánh rất tự nhiên, rất chân thật một tâm hồn, một lối cảm nghĩ, một cách sống.
Đó là điều đáng quý bởi không ít ngƣời làm thơ từng uốn giọng, từng giả
giọng ngƣời này ngƣời nọ”.
Đến Từ điển văn học bộ mới, Nxb Thế giới, 2004, Đỗ Đức Hiểu chủ biên
cũng đã dành hai trang viết về thơ Lê Anh Xuân do Trần Hữu Tá biên soạn.
Tác giả bài viết đã có những nhận định khái quát về nội dung thơ văn và đưa ra
những kết luận về sự đóng góp của nhà thơ Lê Anh Xuân: “Thơ Lê Anh Xuân
mang sắc thái riêng, vừa bằng giọng nhỏ nhẹ tâm tình, vừa bằng cảm hứng lịch
sử mang ý nghĩa triết luận khá sâu sắc… Tính hàm súc của thơ ông chƣa cao,
những bài có tứ thơ hoàn chỉnh độc đáo chƣa nhiều”.
Trong Giáo trình văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945,
Nxb Đại học sư phạm, 2009, Nguyễn Văn Long (chủ biên), có viết: “Trong thơ
Lê Anh Xuân, một vùng quê Nam bộ thân yêu với những rặng trâm bầu, một
hàng bình bát, một bóng dừa xanh, một bông súng nở xòe cánh quạt trên mặt
ao, một dòng sông tuổi thơ cùng với những con ngƣời kiên trung, anh dũng
hiện lên trong tâm trí xao xuyến, bồi hồi, đầy xúc động của nhà thơ”.
Năm 2011, Nxb Văn hóa Văn nghệ đã giới thiệu cuốn Nhật kí Lê Anh
Xuân, trong cuốn sách này PGS. TS Đoàn Đức Phương – TS. Diêu Lan Phương
đã viết rằng: “Thơ anh và chính cuộc đời anh đều thể hiện sự gắn bó máu thịt
với quê hƣơng đất nƣớc, với nhân dân, với đồng đội. Có thể nói anh là ngƣời
ghi lịch sử bằng thơ”. Còn PGS.TS Phạm Thành Hưng cho rằng: “Đọc một số
bài thơ anh, tôi cảm thấy thơ anh nhƣ dấu nối của hai thời thơ: thời thơ ca đấu
tranh thống nhất đất nƣớc với nguồn cảm xúc “hƣớng về Nam” và thời thơ
chống Mỹ. Chính việc anh từ giã giảng đƣờng đại học, lên đƣờng vƣợt Trƣờng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
Sơn trở về quê hƣơng cũng là một dấu nối – dấu nối vật chất, làm tiền đề cho
và mạch cảm xúc chân thật tuôn trào: “Những môtíp, những hình ảnh đã cũ vào
thơ Lê Anh Xuân vẫn rung động lòng ngƣời đọc. Ấy là vì anh đƣa vào đó tất cả
sự chân thành của tuổi trẻ, tất cả sự xúc cảm thật sự của nhà thơ” [21, tr.23]
và “Bài thơ Trở về quê nội cũng nhƣ các sáng tác của Lê Anh Xuân nói chung
có những đoạn thật sáng tạo”[21, tr.24]. Có thể nói thơ Lê Anh Xuân dành
được nhiều tình cảm từ người đọc và có đời sống phong phú chính là nhờ
những sáng tạo như thế. Nhà nghiên cứu Hoàng Như Mai cho rằng bài thơ Trở
về quê nội là một trong những bài thơ “đỉnh” của Lê Anh Xuân.
Trong cuốn Nét đẹp trong thơ, Nxb Giáo dục (2001), Nguyễn Đức
Quyền lại tỏ ra mặn mà với bài thơ Nhớ mƣa quê hƣơng khi xem bài thơ như
“sóng tỏa vào tâm hồn tôi, nhƣ cơn mƣa mùa hạ làm mát da thịt tuổi thơ,
làm sống dậy những kỷ niệm tuổi thơ của tôi ở quê Nam”[32, tr.151]. Tác
giả Nguyễn Đức Quyền đánh giá cao cảm xúc mãnh liệt, chân thành, giàu
cảm xúc của Lê Anh Xuân và coi đó là sức hấp dẫn, lôi cuốn người đọc:
“Tôi yêu nguồn xúc cảm bài thơ, nguồn xúc cảm dạt dào quá, anh cứ trải
hồn chân thật của mình ra nhƣ là nguồn của một con sông lớn… Nguồn cảm
xúc lại tƣơi mát trong trẻo, nồng nàn, cái nồng nàn làm cho ta ngây ngất
nhƣ cái thuở ban đầu”[32, tr.152]. Nguồn cảm xúc trinh nguyên, tươi mát và
trong trẻo ấy chính là sức mạnh để những tác phẩm của Lê Anh Xuân sống
mãi với thời gian.
Khi đọc “bài thơ xuân nho nhỏ” của nhà thơ Lê Anh Xuân, bài thơ với
tựa đề “Rừng xuân” đã tạo cho tác giả Hải Hà những xúc cảm rất riêng. Vẫn là
chất thơ trong sáng, hồn nhiên, chân thật nhưng ở bài thơ này có thêm chất đằm
thắm, dịu dàng của hương sắc núi rừng. Theo Hải Hà, bài thơ không chỉ là bức
tranh thiên nhiên tươi sáng mà phía sau bức tranh ấy đã xuất hiện chất giọng
của ý chí, của lòng quyết tâm: “Đó là cái quyết tâm bắt nguồn từ sâu xa của
trái tim nhớ thƣơng đằm thắm, của thái độ sống đầy trách nhiệm đối với quê
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
hƣơng, với Tổ quốc của nhà thơ trẻ Lê Anh Xuân”[9, tr.9]. Xuân trong Rừng
“con mắt tinh đời” mới cảm nhận được. So sánh với ký Sống nhƣ anh của Trần
Đình Vân, tác giả chuyên luận khẳng định: “Ở đây cái diện mạo văn xuôi của
nhân vật Nguyễn Văn Trỗi đã bị chi phối trực tiếp bởi tình cảm chủ quan của
nhà thơ một cách công khai khi biểu đạt” [35, tr.185].
Bài thơ Cấy đêm của Lê Anh Xuân, một bài thơ được sáng tác trên quê
hương trong thời kì ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ đã gây được
cảm tình đặc biệt với Mã Giang Lân. Theo ông: “bài thơ Cấy đêm của Lê Anh
Xuân thật cảm động, chi tiết ít, gọn nhƣng sâu đậm, giàu liên tƣởng” [14,
tr.299]. Ông đưa ra những nhận xét tinh tế về cảm hứng chủ đạo trong bài thơ,
theo ông cảm hứng chủ đạo trong bài thơ không chỉ ngợi ca con người trên quê
hương anh dũng mà rộng hơn còn là: “hình ảnh tƣợng trƣng cho niềm tin của
nhân dân miền Nam” [14, tr.299].
Trong bài thơ Trở về quê nội, đoạn thơ mà Lê Anh Xuân viết về hình ảnh
người mẹ lại gây cho Vũ Duy Thông nhiều xúc động. Đó là hình ảnh người mẹ
nuôi giấu chiến sĩ vốn đã rất quen thuộc trong thơ kháng chiến. Mẹ chở che và
thương yêu người chiến sĩ như chính con đẻ của mình. Theo Vũ Duy Thông,
tình cảm này: “Chỉ có đƣợc trong chiến tranh chính nghĩa” [45, tr.110].
Từ các bài viết trên, một điều khá dễ dàng nhận ra là thơ Lê Anh Xuân
chủ yếu được nghiên cứu riêng lẻ từng tập thơ, hoặc các tác phẩm cụ thể. Trong
Luận Văn này, chúng tôi kế thừa những kết quả nghiên cứu của những người đi
trước để đi sâu tìm hiểu Phong cách nghệ thuật thơ Lê Anh Xuân. Trân trọng
biết ơn các nhà nghiên cứu phê bình đã có những bài viết sâu sắc giúp chúng
tôi có đủ nguồn tư liệu, đồng thời trực tiếp gợi ý cho chúng tôi lựa chọn đề tài
Luận văn này.
3. Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn này chúng tôi tập chung vào nghiên cứu các tác phẩm thơ của
Lê Anh Xuân, cụ thể là 60 bài thơ của 2 tập thơ và 1 tập trường ca:
+ Tiếng gà gáy (1965)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
6. Đóng góp của Luận văn
Từ những ý kiến tản mạn của người đi trước gợi ý, Luận văn phát triển
và xây dựng một hệ thống luận điểm khái quát phong cách nghệ thuật thơ Lê
Anh Xuân. Đây là cái mới và cũng là những đóng góp của Luận văn.
7. Kết cấu Luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo, cấu trúc Luận văn
gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Khái quát về phong cách nghệ thuật thế hệ thơ chống Mỹ và
quá trình sáng tạo của Lê Anh Xuân.
Chương 2: Cảm hứng trữ tình lãng mạn giàu chất lý tưởng - nét đặc
trưng phong cách nghệ thuật Lê Anh Xuân.
Chương 3: Nét nổi bật thi pháp trong thơ Lê Anh Xuân.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1
KHÁI QUÁT VỀ PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT THẾ HỆ THƠ
CHỐNG MỸ VÀ QUÁ TRÌNH SÁNG TẠO CỦA LÊ ANH XUÂN
1.1. Khái quát về phong cách
Nguyễn Khắc Phi định nghĩa: “Phong cách nghệ thuật là một phạm trù thẩm
mĩ, chỉ sự thống nhất tƣơng đối ổn định của hệ thống hình tƣợng, của các
phƣơng tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của
một nhà văn, trong một tác phẩm riêng lẻ, trào lƣu văn học hay văn học dân
tộc…Trong nghĩa rộng, phong cách là nguyên tắc xuyên suốt trong việc xây
dựng hình thức nghệ thuật, đem lại cho tác phẩm một tính chỉnh thể có thể cảm
nhận đƣợc, một giọng điệu và một sắc thái thống nhất” [10].
Trong Từ điển tiếng Việt (bộ mới), phong cách được hiểu là “khái niệm
chỉ những nét chung, tƣơng đối bền vững của hệ thống hình tƣợng, của các
phƣơng thức biểu hiện nghệ thuật, tiêu biểu cho bản sắc sáng tạo của một nhà
văn, một tác phẩm, một khuynh hƣớng văn học dân tộc nào đó”. Với đề tài
nghiên cứu Phong cách thơ Lê Anh Xuân, ở đây, chúng tôi đề cập đến hai
khuynh hướng chủ yếu: phong cách tác giả và phong cách thời đại.
Tóm lại, có thể coi phong cách tác giả văn học là những nét riêng biệt,
những yếu tố cơ bản độc đáo và cần thiết để tạo nên diện mạo của văn học
một tác giả. Những nét, những yếu tố riêng biệt độc đáo được lặp đi lặp lại với
những màu sắc mới trong suốt chặng đường sáng tác lâu dài bền bỉ của tác
giả, gắn liền với tư duy nghệ thuật của tác giả trong cách cảm nhận về cuộc
sống, về cái đẹp nghệ thuật trên con đường sáng tác. Thế nên, không nên coi
phong cách là một thực thể bất biến mà phải xem nó như là một thực thể sống
động. Một thực thể có thể được hình thành ngay khi nhà văn bước vào con
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
đường sáng tác và sẽ biến chuyển theo nhận thức của tác giả trong mối quan
hệ mật thiết với môi trường sống của cá nhân và thời đại, chịu sự ảnh hưởng
của môi trường văn hóa, sự ảnh hưởng của các nhà văn mà họ thần tượng.
Không phải bất cứ nhà văn nào cũng có phong cách riêng mà chỉ có những
nhà văn, nhà thơ có tài năng, có bản lĩnh trong quá trình sáng tạo mới tạo cho
mình phong cách độc đáo.
Riêng với thể loại trữ tình, đặc biệt là thơ rất cần đến “Năng khiếu thẩm
quan niệm nghệ thuật về xã hội và con người…, qua sự lặp lại về cảm hứng
sáng tạo của một thời kỳ lịch sử.
1.1. 3. Phong cách tác giả
Trong các cấp độ của phong cách, phong cách tác giả là phạm trù được
thừa nhận phổ biến và cũng được vận dụng rộng rãi nhất. Các quan điểm văn
học xưa nay (văn là người, phong cách là con người…) đều lấy phong cách tác
giả làm yếu tố trung tâm để xem xét.
Trong những năm đầu thế kỉ XX, một số nhà lý luận văn học còn đồng
nhất hai khái niệm phong cách cá nhân và cá tính sáng tạo do đó phủ nhận sự
tồn tại của phong cách tác giả. Vonflin, Handenstein, ngay cả A.N.Xôcôlôp và
G.N.Pôxpêlôp cũng cho rằng phong cách cá nhân chỉ là những yếu tố cá biệt, ít
có ý nghĩa xã hội. Nếu một tác giả có thể có nhiều phong cách thì không thể coi
phong cách cá nhân là một cấp độ quan trọng của phong cách văn học. Tuy
nhiên, nếu như không thể không tính đến phong cách tác phẩm với ý nghĩa là
yếu tố trung tâm của phong cách học thì cũng không thể bỏ qua phong cách cá
nhân với ý nghĩa là biểu hiện cụ thể của phong cách trào lưu, phong cách thời
đại…Thật khó có thể nói đến một thời đại văn chương nếu như thời đại đó
không sản sinh ra những cá nhân xuất sắc.
Không nên đồng nhất hai khái niệm phong cách và cá tính sáng tạo. Mỗi
nhà văn khi sáng tác ít nhiều đều có cá tính sáng tạo, tức có đặc điểm riêng về
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
sáng tác nhưng không phải cá tính nào cũng trở thành phong cách. Người ta chỉ
đề cập đến phong cách sáng tác của những nhà văn ưu tú, trong tác phẩm có
những điểm độc đáo, riêng biệt, có giá trị thẩm mĩ cao và nhất quán trong cả
quá trình sáng tạo của nhà văn.
Phong cách tác giả được thể hiện chủ yếu thông qua tác phẩm. Biểu hiện
của phong cách tác giả trong tác phẩm không chỉ là những nội dung đặc sắc,
độc đáo, giàu tính thẩm mĩ mà còn là cách thức nhà văn thực hiện nhằm mang
đến một hiệu quả biểu đạt cao nhất. Đó cũng không chỉ là những yếu tố hình
đóng góp đáng ghi nhận đối với nền thơ chống Mỹ. Mỗi nhà thơ, bằng cá tính
của mình đã đem đến cho thơ một cách nhìn, cách cảm nhận riêng về cuộc
chiến tranh ái quốc vĩ đại của dân tộc, nói lên được hiện thực hào hùng của cả
dân tộc.
Nhìn một cách tổng quát, thơ trẻ thời kì chống Mỹ có thể chia thành ba
chặng đường. Mỗi chặng đường có những nét riêng gắn liền với sự xuất hiện
của những nhà thơ tiêu biểu. Tuy nhiên, sự phân chí này chỉ mang tính chất
tương đối. Về thực chất, thơ trẻ thời kì chống Mỹ là một dòng thơ liên tục.
Năm 1975, trong một bài viết Thơ với cuộc kháng chiến chống Mỹ vĩ đại của
dân tộc, Vũ Tuấn Anh đã khẳng định sự đóng góp to lớn của thế hệ những nhà
thơ trẻ trong đó có Lê Anh Xuân: “Lớp trẻ đã đem đến sự đông vui ồ ạt cho cả
nền thơ bằng tiếng nói sôi nổi, mới mẻ, duyên dáng của riêng lứa tuổi họ… lứa
tuổi tha thiết tin yêu cách mạng và có mặt trên khắp các mặt trận sản xuất,
chiến đấu”[3].
Ở chặng đường đầu tiên là sự xuất hiện của đội ngũ những nhà thơ trẻ
với những cây bút tiêu biểu như Bằng Việt, Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ, Lê
Anh Xuân, Thái Giang, Nguyễn Mỹ… Đó là một tiếng thơ trẻ trung, sôi nổi,
đậm chất lý tưởng. Những tác phẩm thơ trẻ ở chặng đường này rưng rưng cảm
xúc, đậm đà chất trữ tình, chan chứa chất men say nồng của tuổi trẻ. Lê Anh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
Xuân nói tới khát khao của thế hệ mình được cầm súng trực tiếp chiến đấu
bằng một cảm xúc chân thành, trong sáng:
Ôi ta thèm đƣợc cầm khẩu súng
Đi giữa đoàn quân cùng với bạn bè
Nằm chờ giặc trên quê hƣơng anh dũng
Ta say nồng mái lá rụng bờ tre
(Gửi Bến Tre)
Đến chặng thơ thứ hai, đội ngũ những nhà thơ trẻ được bổ xung thêm
nhiều cây bút mới, tài năng như: Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm,