PHÂN TÍCH YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA CÁC NGÂN HÀNG NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM - Pdf 23

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
NGUYỄN TRẦN THỊNH
P
P
H
H
Â
Â
N
NT
T
Í
Í
C
C
H
H



Đ


N
NL
L


I
IN
N
H
H
U
U


N
N


À
N
N
G
GN
N
I
I
Ê
Ê
M
MY
Y


T
TT
T
R
R
Ê

H


N
N
G
GK
K
H
H
O
O
Á
Á
N
NV
V
I
I


T
T

P
P
H
H
Â
Â
N
NT
T
Í
Í
C
C
H
HY
Y


U
UL
L


I
IN
N
H
H
U
U


N
NC
C


A
A
I
I
Ê
Ê
M
MY
Y


T
TT
T
R
R
Ê
Ê
N
NT
T
H
H

K
K
H
H
O
O
Á
Á
N
NV
V
I
I


T
TN
N
A
A
M
M

LỜI CẢM ƠN
 0O0 
Để hoàn thành chương trình Cao học Tài chính ngân hàng và luận văn này,
tôi xin chân thành gởi lời cảm ơn đến:
Quý Thầy, Cô Trường Đại học Kinh tế TP.HCM đã hết lòng tận tụy, truyền
đạt những kiến thức quý báu trong suốt thời gian tôi học tại Trường, đặc biệt là Phó
giáo sư, Tiến sỹ Trương Quang Thông – Giảng viên Bộ môn Ngân hàng Quốc tế,
Khoa Tài chính Ngân hàng đã tận tình hướng dẫn phương pháp nghiên cứu khoa
học và nội dung đề tài.
Cuối cùng xin chân thành cảm ơn gia đình và các bạn học viên cao học Khóa
20, lớp đêm 11 phần đại cương và lớp Tài chính Ngân hàng đêm 6 đã cùng tôi chia
sẻ kiến thức, kinh nghiệm trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Trong quá trình thực hiện, mặc dù đã hết sức cố gắng để hoàn thiện luận văn,
trao đổi và tiếp thu những ý kiến đóng góp của Quý Thầy, Cô và bạn bè, tham khảo
nhiều tài liệu, song không tránh khỏi có những sai sót. Rất mong nhận được những
thông tin góp ý của Quý Thầy, Cô và bạn đọc.
Xin chân thành cảm ơn. MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5
1.1 Khái niệm về NHTM 5
1.1.1 Bản chất của NHTM 5
1.1.2 Vai trò, chức năng của NHTM 5
1.1.2.1 Chức năng trung gian tín dụng 6
1.1.2.2 Chức năng trung gian thanh toán 7
1.1.2.3 Chức năng tạo tiền 8
1.2 Khái niệm về lợi nhuận 9

3.1 Phân tích dữ liệu 30
3.2 Kết quả thực nghiệm 31
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 33
CHƢƠNG 4: KIẾN NGHỊ DỰA TRÊN KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 34
4.1 Về tính thanh khoản 34
4.2 Về quy mô ngân hàng 36
4.3 Về rủi ro tín dụng 36
4.4 Về tỷ lệ vốn 39
KẾT LUẬN CHƢƠNG 4 39
KẾT LUẬN 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
PHỤ LỤC 1: SỐ LIỆU THU THẬP CỦA CÁC NHTM NIÊM YẾT TRÊN
THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TỪ NĂM 2006 – 2011
PHỤ LỤC 2: KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH LIKELIHOOD TEST TRONG PHẦN
MỀM EVIEWS
PHỤ LỤC 3: CÁC KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH TRONG PHẦN MỀM EVIEWS
PHỤ LỤC 4: TỔNG QUAN VỀ NGÀNH NGÂN HÀNG VIỆT NAM DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
1. NHTM : Ngân hàng thương mại
2. NHTW : Ngân hàng Trung ương
3. NHNN : Ngân hàng Nhà nước
4. ROA : Tỷ suất sinh lợi trên tài sản
5. ROE : Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở
hữu DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỀ TÀI
Trang

trong một thập kỷ qua. Đây là hệ quả của việc ưu tiên mục tiêu kiềm chế lạm phát,
cụ thể về chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước thể hiện tính kiên định trong kiểm
soát lạm phát ngay từ đầu năm 2011 qua Chỉ thị 01/CT-NHNN ngày 01/03/2011 với
tăng trưởng tín dụng dưới 20%, tăng tổng phương tiện thanh toán khoảng 15% -
16%; tỷ trọng dư nợ cho vay lĩnh vực phi sản xuất so với tổng dư nợ tối đa 22% và
tối đa 16% vào 31/12/2011 và tiếp tục kiên định chính sách đó cho đến nửa đầu năm
2012 trước khi giảm lãi suất điều hành lần thứ nhất vào ngày 13/03/2012. Trong bối
cảnh khó khăn như vậy, hiệu quả hoạt động của các ngân hàng cũng bị ảnh hưởng
rất nhiều, cụ thể hàng loạt ngân hàng đã bị suy giảm lợi nhuận, cũng như không đạt
được lợi nhuận mục tiêu được đề ra từ đầu năm. Tuy nhiên, yếu tố về vĩ mô cũng
chỉ là một trong những yếu tố có thể tác động đến lợi nhuận ngân hàng, bên cạnh
đó, nhóm yếu tố nội tại ngân hàng được xem là những yếu tố quan trọng góp phần
vào việc cải thiện lợi nhuận và tình hình hoạt động của ngân hàng.
Nói khác hơn, lợi nhuận luôn là yếu tố sống còn của một doanh nghiệp, trong
lĩnh vực ngân hàng, điều này cũng không là ngoại lệ. Đứng trên góc độ vi mô và vĩ
mô, lợi nhuận luôn đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại và phát
triển của ngân hàng. Ở cấp độ vi mô, lợi nhuận chính là điều kiện thiết yếu và là
nguồn vốn rẻ nhất của một tổ chức tín dụng. Lợi nhuận ngân hàng không chỉ là kết
quả của hoạt động kinh doanh mà còn là tính thiết yếu cho hoạt động thành công
của ngân hàng trong giai đoạn cạnh tranh quyết liệt trên thị trường tín dụng. Vì vậy,
mục tiêu cơ bản của các nhà quản trị ngân hàng là phải đạt được lợi nhuận như là
tính tất yếu của bất kỳ hoạt động kinh doanh nào. Ở cấp độ vĩ mô, một hệ thống
ngân hàng tốt và làm ăn có hiệu quả có khả năng chống chọi tốt với những cú sốc
tiêu cực và đóng góp tích cực vào sự ổn định của hệ thống tài chính quốc gia.
2

Chính vì vậy, việc nghiên cứu và phân tích các yếu tố tác động đến lợi nhuận
của ngân hàng nhằm đưa ra các giải pháp và kiến nghị giúp cho các ngân hàng niêm
yết nói riêng và hệ thống ngân hàng Việt Nam nói chung có thể nâng cao lợi nhuận
trong hoạt động kinh doanh là vấn đề có ý nghĩa cấp thiết và thực tiễn hiện nay.

Do hạn chế về việc thu thập số liệu đối với toàn hệ thống ngân hàng và bên
cạnh đó, theo số liệu thu thập đến cuối năm 2011, nhóm ngân hàng niêm yết đã
chiếm phần lớn thị phần trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, cụ thể: 44% đối với
thị phần dư nợ tín dụng và 74,8% đối với thị phần huy động, vì vậy, phạm vi nghiên
cứu của đề tài chỉ là nhóm ngân hàng hiện đang được niêm yết trên thị trường
chứng khoán Việt Nam. Mặt khác, từ tháng 8 năm 2012, ngân hàng ngân hàng Nhà
Hà Nội (Habubank) đã chính thức sáp nhập vào ngân hàng ngân hàng Sài Gòn - Hà
Nội (SHB), do đó, để đảm bảo tính thống nhất về mặt thời gian của các mẫu khảo
sát, luận văn chỉ thu thập số liệu từ báo cáo tài chính (được công bố chính thức) của
09 ngân hàng niêm yết, bao gồm: ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VCB), ngân
hàng Công thương Việt Nam (CTG), ngân hàng Sài Gòn Thương tín (STB), ngân
hàng Á Châu (ACB) và ngân hàng Sài Gòn - Hà Nội (SHB), ngân hàng Xuất nhập
khẩu Việt Nam (EIB), ngân hàng Quân đội (MBB), ngân hàng Nam Việt (NVB),
ngân hàng Nhà Hà Nội (HBB), trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến năm 2011.
 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Trong bối cảnh nền kinh tế có nhiều biến động như thời gian vừa qua, lợi
nhuận của ngân hàng đã suy giảm rất nhiều, một phần do tác động từ sự suy thoái
chung của nền kinh tế, nhưng phần còn lại vẫn là do sự điều hành của chính các
ngân hàng. Có quá nhiều yếu tố có thể gây ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng.
Vì vậy, nghiên cứu sẽ là một sự xác định rõ ràng và đáng tin cậy nhằm chỉ ra
đâu là yếu tố tác động trực tiếp đến lợi nhuận của các ngân hàng, để từ đó, các nhà
4

điều hành chính sách, các chuyên gia kinh tế và trên hết là các nhà quản trị tại các
ngân hàng có thể hoạch định những chiến lược kinh doanh, cũng như các giải pháp
nhằm tháo gỡ khó khăn và nâng cao lợi nhuận cho ngân hàng.
 Kết cấu của báo cáo nghiên cứu
- Chương 1: Cơ sở lý thuyết
- Chương 2: Thiết kế nghiên cứu
- Chương 3: Phân tích kết quả nghiên cứu

6

- Về chức năng: NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ, mà hoạt động chủ yếu,
thường xuyên là huy động tiền gửi của khách hàng để cho vay, thực hiện nghiệp vụ
chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Quá trình hình thành và phát triển của
NHTM gắn liền với sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa. Ngày nay,
NHTM đã phát triển mạnh mẽ cả về số lượng lẫn chất lượng và trở thành một loại
hình ngân hàng chiếm vị trí chủ yếu trong hệ thống các ngân hàng trung gian. Chức
năng cụ thể của NHTM như sau:
1.1.2.1 Chức năng trung gian tín dụng
Xuất phát từ đặc điểm tuần hoàn vốn tiền tệ trong quá trình tái sản xuất xã
hội đã làm phát sinh mâu thuẫn giữa hiện tượng vốn tiền tệ nhàn rỗi từ chủ thể kinh
tế này, trong khi chủ thể kinh tế khác có nhu cầu lại thiếu vốn, cần được bổ sung.
Giải quyết vấn đề này, NHTM đóng vai trò là trung gian tín dụng, trở thành “cầu
nối” để người có vốn và người cần vốn gặp nhau.
Thông qua việc huy động các khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền
kinh tế, NHTM hình thành nên quỹ cho vay của nó rồi đem cho vay đối với nền
kinh tế, bao gồm cả cho vay ngắn hạn và cho vay dài hạn.
Như vậy, NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay vừa đóng vai trò là người
cho vay. Với chức năng này, NHTM đã góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên
trong quan hệ. Cụ thể:
Đối với bản thân NHTM, họ sẽ tìm kiếm được lợi nhuận cho mình từ chênh
lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi hoặc hoa hồng môi giới. Lợi nhuận
này chính là cơ sở để tồn tại và phát triển của NHTM.
Đối với người gửi tiền, họ thu được lợi từ vốn tạm thời nhàn rỗi của mình do
ngân hàng trả lãi tiền gửi cho họ. Hơn nữa ngân hàng còn đảm bảo cho họ sự an
toàn và cung cấp các phương tiện thanh toán.
Đối với người đi vay, họ sẽ thỏa mãn được nhu cầu vốn để kinh doanh, chi
tiêu, thanh toán mà không phải tốn nhiều chi phí về sức lực, thời gian cho việc tìm
7


tiền trong túi, không phải mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người thanh toán dù ở
gần hay xa, họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản
thanh toán này. Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm rất nhiều chi phí về thời
gian, tiền bạc, lại đảm bảo được thanh toán an toàn hơn so với thanh toán trực tiếp.
Như vậy, chức năng này thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán,
tốc độ chuyển vốn, đồng thời việc thanh toán qua ngân hàng đã giảm được lượng
tiền mặt lưu thông, góp phần tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt như chi phí in ấn,
đếm nhận, bảo quản tiền…
Đối với NHTM, chức năng này góp phần tăng thêm lợi nhuận cho ngân hàng
thông qua việc thu lệ phí thanh toán. Thêm nữa, nó lại làm tăng nguồn vốn cho vay
của ngân hàng thể hiện trên số dư có trong tài khoản tiền gửi của khách hàng. Chức
năng này cũng chính là cơ sở hình thành chức năng tạo tiền của NHTM.
1.1.2.3 Chức năng tạo tiền
Xuất phát từ chức năng trung gian tín dụng và thanh toán mà các NHTM có
khả năng “tạo tiền”. Đó là khả năng mở rộng tiền gửi nhiều lần. Từ một khoản tiền
gửi ban đầu vào một ngân hàng, thông qua cho vay bằng chuyển khoản trong một
hệ thống NHTM, số tiền gửi ban đầu đã tăng lên gấp bội mức mở rộng tiền gửi phụ
thuộc vào hệ số mở rộng tiền gửi (còn được gọi là số nhân tiền). Hệ số mở rộng tiền
gửi của NHTM chịu sự tác động bởi các yếu tố: tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dự trữ
vượt mức và tỷ lệ giữ tiền mặt so với tiền gửi thanh toán của công chúng.
Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng phương tiện thanh toán
trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. Một khối lượng
tín dụng mà NHTM cho vay làm tăng khả năng tạo tiền của NHTM, từ đó làm tăng
lượng tiền cung ứng cho quá trình giao dịch trong nền kinh tế.
Thực hiện tốt các chức năng thanh toán đó, một mặt NHTM đã có vai trò rất
lớn trong việc giúp các doanh nghiệp có vốn đầu tư, thực hiện tốt kế hoạch sản xuất,
kinh doanh, nâng cao hiệu quả hoạt động, đồng thời góp phần phân bố hợp lý các
nguồn lực giữa các vùng trong quốc gia, tạo điều kiện phát triển cân đối nền kinh tế
9


1.2.2 Khái niệm về lợi nhuận của NHTM
NHTM có 02 nghiệp vụ chủ yếu: huy động và cho vay. Trong nghiệp vụ huy
động, ngân hàng trả lợi tức cho người nhận tiền, còn trong nghiệp vụ cho vay, ngân
hàng phải thu lợi tức của người đi vay. Về nguyên tắc, lợi tức cho vay phải cao hơn
lợi tức huy động.
Chênh lệch giữa lợi tức cho vay và lợi tức huy động sau khi trừ đi những chi
phí về nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng cộng với các thu nhập khác về kinh doanh
tư bản tiền tệ hình thành nên lợi nhuận ngân hàng.
1.3 Điều kiện niêm yết của các NHTM trên sàn giao dịch chứng khoán Việt
Nam
Các NHTM cũng là doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế, chính vì vậy
để được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán, cụ thể là trên sàn Chứng khoán
thành phố Hồ Chí Minh và sàn Chứng khoán Hà Nội, các NHTM cần đáp ứng đầy
đủ các điều kiện được quy định trong các văn bản pháp luật hiện hành. Gần đây
nhất chính là Nghị định 58/2012/NĐ-CP ngày 20/7/2012 của Chính phủ quy định
chi tiết về hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật Sửa đổi,
bổ sung một số điều Luật Chứng khoán mà Chính phủ vừa ban hành.
Ngoài ra, Nghị định 58 cũng quy định thêm các điều kiện để doanh nghiệp
được lên sàn Chứng khoán TPHCM, đó là: phải có 2 năm hoạt động dưới hình thức
công ty cổ phần tính đến thời điểm đăng ký niêm yết; tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên
vốn chủ sở hữu (ROE) năm gần nhất tối thiểu là 5%; hoạt động kinh doanh của 2
năm liền trước phải có lãi; không có nợ quá hạn trên 1 năm; không lỗ lũy kế đến
năm đăng ký niêm yết.
Đồng thời, tối thiểu 20% cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty do ít nhất
300 cổ đông (không phải cổ đông lớn) nắm giữ, trừ trường hợp doanh nghiệp Nhà
nước chuyển đổi thành công ty cổ phần theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.
Đối với sàn chứng khoán Hà Nội, công ty cổ phần có vốn điều lệ từ 30 tỷ
11


có thể bị ảnh hưởng. Duca và McLaughlin (1990) chứng minh rằng sự thay đổi của
rủi ro tín dụng là lý do chính trong việc giải thích các biến động trong lợi nhuận
ngân hàng, vì lợi nhuận của ngân hàng sẽ giảm khi rủi ro tín dụng tăng lên. Do đó,
chất lượng các khoản cho vay là tiêu chí quan trọng hơn số lượng. Ở một khía cạnh
nào đó thì nghiên cứu của Bourke (1989) cũng có sự tương đồng với nghiên cứu của
Duca và McLaughlin (1990) vì ông chỉ ra rằng lợi nhuận của các ngân hàng sẽ thấp
hơn khi họ phải đối mặt với các khoản vay có nguy cơ mất khả năng thanh toán.
Trong cùng một cách tiếp cận, Miller và Noulas (1997) đã cho thấy rủi ro tín dụng
có tác động tiêu cực đến lợi nhuận. Mối quan hệ nghịch biến phản ánh điều đó khi
danh mục cho vay của các ngân hàng trở nên rủi ro, các ngân hàng phải trích dự
phòng rủi ro nhiều hơn, từ đó ảnh hưởng đến mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Vì vậy,
các ngân hàng với các khoản cho vay có rủi ro tín dụng cao hơn sẽ có lợi nhuận
thấp hơn.
1.4.1.2 Tính thanh khoản
Bourke (1989) đã sử dụng tỷ số tài sản lưu động (tổng tiền mặt, tiền gửi ngân
hàng, đầu tư chứng khoán) trên tổng tài sản để đo lường tính thanh khoản. Trong
nghiên cứu của mình, ông đã khai thác dữ liệu từ các báo cáo tài chính của một mẫu
gồm 90 ngân hàng từ 12 quốc gia trong mười năm từ 1972 đến 1981. Kết quả này
cho thấy rằng tính thanh khoản có tác động cùng chiều lên lợi nhuận, gia tăng tỷ số
này sẽ nâng cao lợi nhuận của ngân hàng. Molyneux và Thornton (1992) đã mở
rộng các phương pháp luận của Bourke (1989) bằng cách sử dụng tỷ số tài sản lưu
động trên tổng tài sản để đo lường rủi ro thanh khoản, kết quả nghiên cứu đã cho
thấy rằng có một mối quan hệ ngược chiều giữa tính thanh khoản và lợi nhuận trong
số 18 nước Châu Âu từ năm 1986 đến 1989. Sự trái chiều giữa các kết quả thực
nghiệm của Molyneux và Thornton (1992) và Bourke (1989) có thể được giải thích
bởi sự khác biệt trong độ nhạy cảm của nhu cầu vay vốn tại các khoảng thời gian
khác nhau.
13

1.4.1.3 Hiệu quả quản lý

ngân hàng lại có quan hệ ngược chiều với khả năng đa dạng hóa. Các ngân hàng tận
dụng lợi thế của sự đa dạng hóa nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng, nhưng nó cũng có
thể làm giảm lợi nhuận. Trong một nghiên cứu khác, Boyd, J.H. và D.E. Runkle
(1993) đồng ý rằng khái niệm lợi thế kinh tế theo quy mô liên quan đến quy mô của
ngân hàng. Về lý thuyết, nếu lợi thế kinh tế theo quy mô tồn tại, các tổ chức tài
chính lớn hơn có thể cung cấp dịch vụ hiệu quả hơn với chi phí thấp hơn, trong điều
kiện các yếu tố khác không đổi.
Athanasoglou P và cộng sự (2006) cho thấy một sự tăng trưởng thị phần của
một ngân hàng có thể dẫn đến sự gia tăng trong tỷ suất sinh lợi và lợi nhuận. Điều
này có thể được giải thích bởi giả định đó là các ngân hàng lớn được hưởng lợi từ
lợi thế kinh tế theo quy mô bằng cách cung cấp dịch vụ của họ với giá rẻ hơn và
hiệu quả hơn so với các ngân hàng nhỏ. Nếu Chính phủ tạo ra các rào cản nhằm hạn
chế sự thành lập các ngân hàng mới (như Việt Nam đã làm trong năm 1997), các
ngân hàng lớn sẽ thu được lợi nhuận cao hơn.
Ngược lại, Koch (1974) và Al-Hashimi có một quan điểm đối lập, Al-
Hashimi (2007) cho rằng không nên đưa lợi thế kinh tế theo quy mô vào trong các
nghiên cứu lợi nhuận bởi vì nó chỉ liên quan đến đơn giá và sản lượng, trong khi đó,
quy mô doanh nghiệp và tỷ suất sinh lợi mới thực sự là đối tượng nghiên cứu của
lợi nhuận. Bên cạnh đó, Berger và cộng sự (1987); Boyd và Runkle (1993); Miller
và Noulas (1997); Athanasoglou và cộng sự (2005) chỉ ra rằng sự gia tăng quy mô
ngân hàng chỉ tiết kiệm được một ít chi phí khi hệ thống ngân hàng mở rộng. Trong
khi đó, Eichengreen và Gibson (2001) đề xuất rằng sự gia tăng quy mô vốn chỉ tác
động cùng chiều lên lợi nhuận đến một mức nhất định nào đó. Hơn nữa, họ cho rằng
mối quan hệ giữa quy mô và lợi nhuận ngân hàng là phi tuyến tính.
1.4.1.5 Tỷ lệ vốn
Về lý thuyết, Short (1979) lập luận rằng tỷ lệ vốn (tức là tỷ số vốn và dự trữ
trên tổng tài sản) của một ngân hàng gắn liền với quy mô của nó bởi vì các ngân
15

hàng lớn có xu hướng làm ra lợi nhuận nhiều hơn so với các ngân hàng nhỏ dựa vào

hiệu quả hoạt động của ngành tài chính tỷ lệ thuận với tốc độ tăng trưởng GDP.
Tại Brazil, Afanasieff và cộng sự (2002) đã sử dụng dữ liệu mảng để tìm ra
một điều đó là cũng giống như lạm phát kỳ vọng, tốc độ tăng trưởng GDP là một
trong các yếu tố quan trọng quyết định lợi nhuận ngân hàng. Mặt khác, bằng chứng
thực nghiệm từ các nghiên cứu của Hoggarth và cộng sự (1998) cho thấy rằng lợi
nhuận của các ngân hàng bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi GDP, nhưng tốc độ tăng
trưởng lợi nhuận của các ngân hàng ở Anh cao hơn ở Đức lại không thể giải thích
thông qua GDP thực. Ở một nghiên cứu khác, Athanasoglou và cộng sự (2005) cho
thấy chu kỳ kinh doanh có tác động cùng chiều đến lợi nhuận của ngành ngân hàng
Hy Lạp. Tuy nhiên, trong giai đoạn suy thoái, ảnh hưởng của chu kỳ kinh doanh là
không đáng kể. Tương tự, Flamini và cộng sự (2009) cũng chứng minh rằng trong
giai đoạn này, chất lượng tín dụng sẽ giảm, do đó làm giảm lợi nhuận của các ngân
hàng (khi đó, tốc độ tăng trưởng GDP giảm xuống, thậm chí là âm).
1.4.2.2 Tốc độ lạm phát
Tác động của môi trường kinh tế vĩ mô lên lợi nhuận của ngân hàng đã được
nghiên cứu khá rộng rãi, trong đó tỷ lệ lạm phát là yếu tố tiêu biểu. Mối liên hệ giữa
lợi nhuận ngân hàng và tỷ lệ lạm phát đã được đề cập đến trong nghiên cứu của
Revell (1979). Ông ấy đã chứng minh rằng lạm phát tác động lên lợi nhuận ngân
hàng thông qua mối liên hệ giữa tốc độ tăng của tiền lương và các chi phí hoạt động
với tỷ lệ lạm phát. Khả năng quản lý hiệu quả chi phí hoạt động của các ngân hàng
phụ thuộc vào khả năng dự báo lạm phát trong tương lai, mà mức độ chính xác của
các dự báo này phụ thuộc rất nhiều vào sự hoàn thiện của môi trường kinh tế vĩ mô.
Tương tự, Perry (1992) đã chỉ ra tác động của lạm phát kỳ vọng lên lợi nhuận ngân
hàng. Cụ thể, trong trường hợp các nhà quản lý có thể đưa ra một mức lạm phát kỳ
vọng tương đối chính xác, ngân hàng cần điều chỉnh các mức lãi suất một cách thích
hợp để doanh thu tăng nhanh hơn chi phí.

Trích đoạn Nhóm biến về yếu tố kinh tế vĩ mô Kết quả thực nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status