LỜI MỞ ĐẦU
Thị trường chứng khoán Việt Nam trong những năm gần đây có sự phát triển vượt bậc về
lượng và chất. Cùng với sự phát triển của thị trường là sự gia tăng nhanh chóng của các
công ty chứng khoán. Tính đến cuối năm 2008 đã có 102 công ty chứng khoán được cấp
phép hoạt động. Vì cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh càng gay gắt.
Thực tế cho thấy, năng lực cạnh tranh là vấn đề sống còn của mọi doanh nghiệp kinh
doanh chứng khoán, đặc biệt hiện nay khi Việt Nam mới chuyển sang vận hành nền kinh tế
thị trường và phải chống đỡ với hậu quả của khủng hoảng và suy thoái kinh tế. Các doanh
nghiệp phải bằng mọi nỗ lực, thông qua các biện pháp khác nhau để nâng cao năng lực
cạnh tranh của mình. Muốn nâng cao năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải đầu tư.
Suy cho cùng mục đích sau cùng của đầu tư là nâng cao năng lực cạnh tranh.
Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn hiện được xếp trong nhóm những công ty chứng
khoán hàng đầu của Việt Nam, tuy nhiên vấn đề đầu tư để nâng cao năng lực cạnh tranh
luôn là vấn đề mang tính thời sự và cần được nghiên cứu, xem xét một cách nghiêm túc.
Nội dung chuyên đề thực tập bao gồm các phần:
Chương I: Thực trạng đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty chứng khoán Sài
Gòn.
Chương II: Giải pháp tăng cường đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty chứng
khoán Sài Gòn. Chương I: Thực trạng đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh
của Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn
1.1. Tổng quan về năng lực cạnh tranh
1.1.1. Khái niệm
Năng lực cạnh tranh của công ty chứng khoán có thể được định nghĩa như là khả năng của
một công ty chứng khoán tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn
dưới dạng lợi nhuận, lợi tức hoặc chất lượng các dịch vụ cũng như năng lực của nó để khai
thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh các thị trường mới.
mực đánh giá sức cạnh tranh của công ty. Điều này xuất phát từ khách quan là yêu cầu của
khách hàng vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển dịch vụ.
- Yếu tố chính yếu tạo nên sức mạnh trong việc thu hút khách hàng đó là thực lực của
doanh nghiệp. Thực lực này phải xuất phát từ yếu tố nội tại của công ty chứng khoán, được
thể hiện ở uy tín của công ty chứng khoán.
- Khả năng cạnh tranh của công ty chứng khoán, tự thân nó đã hàm ý nói đến việc so sánh
với các đối thủ cạnh tranh cùng hoạt động trên một thị trường. Để tạo nên sức mạnh cạnh
tranh thực sự, công ty chứng khoán phải tạo ra lợi thế so sánh với các đối thủ cạnh tranh để
có thể lôi kéo được khách hàng.
- Các biểu hiện khả năng cạnh tranh của công ty chứng khoán luôn có quan hệ ràng buộc.
Một công ty chứng khoán có sức cạnh tranh mạnh khi nó đáp ứng các yêu cầu của khách
hàng một cách tốt nhất. Tuy nhiên trên thực tế, việc đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của khách
hàng bởi vì có khi công ty chứng khoán có lợi thế điểm này nhưng lại yếu về một số mặt
khác. Chính vì vậy, việc tìm ra và đánh giá đúng các điểm mạnh, điểm yếu của công ty
chứng khoán có ý nghĩa quan trọng trong việc đề ra các giải pháp nâng cao năng lực cạnh
tranh.
1.1.2. Vai trò của việc đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh và các nhân tố ảnh hưởng
1.1.2.1. Vai trò
Có thể khẳng định việc đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh là yếu tố có ý nghĩa vô cùng
quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của các công ty chứng khoán vì những lý do sau:
- Đầu tư là con đường duy nhất tạo ra sức mạnh cạnh tranh của mỗi công ty chứng khoán
trên thị trường, bởi vì chỉ có qua việc đầu tư công ty chứng khoán mới đổi mới cải thiện
chất lượng dịch vụ, cơ sở vật chất kỹ thuật - công nghệ, nguồn nhân lực, năng lực tài chính
cũng như khẳng định thương hiệu của mình trên thị trường.
- Thông qua đầu tư thì mỗi công ty chứng khoán có thể tạo được lợi thế so sánh của mình.
- Đặc biệt hiện nay trên thị trường chứng khoán có nhiều công ty chứng khoán hoạt động
dẫn đến tình trạng cạnh tranh vô cùng gay gắt. Khách hàng lại luôn có xu hướng thay đổi
sử dụng dịch vụ nhằm tối đa hoá lợi ích của mình, công ty nào có sự vượt trội về chất
lượng dịch vụ, uy tín thì luôn có thể thu hút được đông đảo khách hàng.
Do vậy đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh đóng vai trò quyết định trong chiếm lĩnh thị
d. Nhân tố khách hàng
Nhân tố khách hàng đóng vai trò quyết định tới sự tồn tại và phát triển của bất kỳ doanh
nghiệp nào. Với công ty chứng khoán thì khách hàng là trọng tâm của sự cạnh tranh và là
động lực thúc đẩy công ty chứng khoán đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh. Khách hàng
sẽ lựa chọn công ty chứng khoán nào có những dịch vụ tốt nhất, giá cả phải chăng nhất.
Muốn đáp ứng được điều kiện đó buộc công ty chứng khoán phải không ngừng đầu tư
nâng cao chất lượng sản phẩm, công nghệ, nhân lực…
1.1.3. Tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh
1.1.3.1. Thị phần của công ty
Thị phần cho biết khả năng chiếm giữ thị trường của một công ty chứng khoán cụ thể
thông qua tỷ lệ phần trăm của từng công ty so với tổng thể. Để tồn tại và duy trì tốt các
năng lực cạnh tranh đòi hỏi các doanh nghiệp luôn phải tìm cách chiếm lĩnh thị phần, mở
quy mô tiêu thụ hàng hoá. Thông qua thị phần ta đánh giá được hiệu quả của việc đầu tư
nâng cao năng lực cạnh tranh vì suy cho cùng thì mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh
của công ty chứng khoán là thu hút được nhiều khách hàng sử dụng dịch vụ của mình.
1.1.3.2. Năng lực tài chính
Để cạnh tranh có hiệu quả, vấn đề năng lực tài chính của công ty chứng khoán có tính chất
rất quan trọng, một công ty chứng khoán có năng lực cạnh tranh cao là một công ty có quy
mô lớn về vốn đầu tư và vốn kinh doanh. Một quy mô vốn lớn là nền tảng đảm bảo cho
công ty chứng khoán tiến hành các hoạt động hướng tới lợi nhuận cao nhất, mở rộng thêm
các lĩnh vực hoạt động (do luật chứng khoán quy định mức vốn điều lệ tối thiểu để thực
hiện các nghiệp vụ) và đầu tư được công nghệ tiên tiến làm góp phần nâng cao chất lượng
dịch vụ. Khi công ty chứng khoán tham gia thị trường với quy mô nhỏ thì phải chấp nhận
bất lợi về khả năng tài chính, do vậy rất khó có thể cạnh tranh với các đối thủ. Một số chỉ
tiêu năng lực tài chính:
- Lượng vốn điều lệ.
- Lượng vốn chủ sở hữu…
1.1.3.3. Cơ sở vật chất kỹ thuật
Cơ sở vật chất kỹ thuật có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh của công ty chứng
khoán. Do đặc điểm của hoạt động kinh doanh không sản xuất ra sản phẩm vật chất mà chỉ
thương hiệu lớn cũng đồng nghĩa với khả năng cạnh tranh cao trên thị trường.
1.1.3.6. Số lượng, chất lượng sản phẩm dịch vụ
Yếu tố quyết định cho việc khách hàng có sử dụng dịch vụ của công ty chứng khoán hay
không chính là chất lượng dịch vụ của công ty. Công ty chứng khoán có khả năng xử lý
lệnh giao dịch nhanh chóng chính xác, có những tư vấn chính xác hợp lý, có dịch vụ hỗ trợ,
chi phí thấp sẽ thu hút được nhiều khách hàng hơn, điều này đã tạo ra sự khác biệt và tính
ưu việt của sản phẩm dịch vụ mà công ty cung cấp so với các sản phẩm dịch vụ do công ty
chứng khoán khác cung cấp. Vì vậy chất lượng sản phẩm dịch vụ đóng vai trò quyết định
tới sự tồn tại phát triển và năng lực cạnh tranh của công ty chứng khoán trên thường
trường. Thêm vào đó công ty nào có nhiều dịch vụ đáp ứng nhu cầu đa dạng của tất cả tầng
lớp khách hàng sẽ chiếm được lợi thế cạnh tranh vì việc có nhiều dịch vụ đa dạng sẽ thu
hút được nhiều khách hàng hơn.
1.2. Giới thiệu công ty
1.2.1. Giới thiệu chung về công ty
- Tên gọi: Công ty Cổ phần Chứng khoán Sài Gòn
- Tên tiếng Anh: Saigon Securities Inc.
- Tên giao dịch: SSI
- Địa chỉ: 72 Nguyễn Huệ, P. Bến Nghé, Quận 1, TP Hồ Chí Minh, Việt nam
- Điện thoại: (84.8) 8 242 897 Fax: (84.8) 8 242 997
- Vốn điều lệ hiện tại: 1.366.666.710.000 đồng (một nghìn ba trăm sáu mươi sáu tỷ sáu
trăm sáu mươi sáu triệu bảy trăm mười nghìn đồng)
- Logo
- Ngành nghề kinh doanh:
+ Môi giới chứng khoán
+ Tư vấn đầu tư chứng khoán và lưu ký chứng khoán
+ Tự doanh chứng khoán
+ Bảo lãnh phát hành chứng khoán
giới, Tự doanh và Lưu ký chứng khoán.
- 09/07/2002: Mở chi nhánh tại Hà nội, mở rộng hoạt động kinh doanh chứng khoán trên
địa bàn từ Bắc vào Nam .
- 4/2004: SSI tăng vốn điều lệ lên 23 tỷ đồng
- 2/2005: SSI tăng vốn điều lệ lên 26 tỷ đồng, với 5 nghiệp vụ chính: Tư vấn đầu tư, Môi
giới, Tự doanh, Lưu ký chứng khoán và Quản lý danh mục đầu tư.
- 6/2005: SSI tăng vốn điều lệ lên 52 tỷ đồng, bổ sung nghiệp vụ bảo lãnh phát hành.
- 02/2006: SSI tăng vốn điều lệ lên 120 tỷ đồng.
- 05/2006: SSI tăng vốn điều lệ lên 300 tỷ đồng, trở thành công ty chứng khoán có quy mô
vốn lớn nhất trên thị trường chứng khoán Việt nam tại thời điểm đó.
- 09/2006: Vốn điều lệ đạt 500 tỷ đồng.
- 11/2006: Hoàn thành đợt phát hành 500 tỷ đồng mệnh giá trái phiếu chuyển đổi.
- 07/2007: SSI tăng vốn điều lệ lên 799.999.170.000 đồng
- 09/2007: SSI phát hành thêm 555.600 trái phiếu chuyển đổi (55,560 tỷ đồng mệnh giá)
cho cổ đông chiến lược là Ngân hàng ANZ, nâng tổng số trái phiếu chuyển đổi đã phát
hành đến thời điểm này là 5.555.600 trái phiếu.
- 29/10/2007: SSI chính thức niêm yết tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí
Minh (nay là Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh).
- 26/12/2007: Công ty chốt danh sách cổ đông để trả cổ phiếu thưởng theo tỷ lệ 2:1, tương
đương với 39.999.954 cổ phiếu phổ thông.
- 31/01/2008: Trái phiếu SSICB0106 được chuyển đổi thành cổ phiếu để tăng vốn điều
lệ.1.666.800 trái phiếu SSICB0106 được chuyển thành 16.668.000 cổ phiếu phổ thông.
- 03/3/2008: Công ty được UBCKNN cấp giấy phép số 110/UBCK-GPĐCCTCK công
nhận mức vốn điều lệ mới là 1.199.998.710.000 đồng.
- 04/2008: Tăng vốn điều lệ lên 1.366.666.710.000 đồng
1.2.3. Vị thế của SSI trên thị trường chứng khoán
SSI hiện là công ty có tiềm lực vốn lớn nhất trong số các công ty chứng khoán đang hoạt
động hoặc mới thành lập tại Việt Nam . Năm 2007, vốn điều lệ của SSI đạt xấp xỉ 1.200 tỷ
đồng, giá trị nguồn vốn chủ sở hữu đạt trên 4.056 tỷ đồng, tổng giá trị tài sản do SSI quản
lý đạt trên 9.300 tỷ đồng.
”Nguồn: SSI”
1.3.1. Huy động vốn đầu tư và mở rộng nghiệp vụ
Năng lực tài chính mang ý nghĩa quan trọng và có tính quyết định tới khả năng cạnh tranh
của bất cứ doanh nghiệp nào. Năng lực tài chính vững vàng tạo nguồn cho việc đầu tư
nâng cao nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng kỹ thuật – công nghệ, hoạt động marketing, nghiên
cứu thị trường. Đối với công ty chứng khoán năng lực tài chính còn có khả năng quyết
định sự thành công hay thất bại trong chiến lược kinh doanh của công ty. Đặc biệt là trong
hoàn cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2008 – 2009 đang khó khăn như hiện
nay tạo ra nhiều thách thức lẫn cơ hội, công ty nào có năng lực tài chính vững mạnh mới
có thể tồn tại vươn lên trong cuộc cạnh tranh gay gắt trên thị trường hiện nay.
Mục tiêu của SSI là phát triển trở thành một trong những tổ chức tài chính hàng đầu tại
Việt Nam , hoạt động theo mô hình của một ngân hàng đầu tư với đầy đủ các nghiệp vụ.
Để đạt được mục tiêu đó công ty phải có tiềm lực tài chính dồi dào. Nhưng trong hoàn
cảnh quy mô thị trường chứng khoán Việt Nam còn nhỏ bé, nếu chỉ dựa vào huy động vốn
từ thị trường chứng khoán là chưa đáp ứng đủ nhu cầu vốn của SSI. Vì vậy việc tìm kiếm
đối tác chiến lược nước ngoài để tài trợ vốn là vô cùng cần thiết. Mỗi năm SSI đầu tư
khoảng 3 tỷ đồng cho việc tìm kiếm đối tác nước ngoài. Việc tìm kiếm đối tác nước ngoài
được chia làm 3 giai đoạn: Tìm kiếm, Đánh giá, Thực hiện đàm phán.
- SSI đã đầu tư mỗi năm 1 tỷ đồng vào việc đăng tải thông báo tìm đối tác chiến lược trên
báo chí và cử cán bộ nhân viên ra nước ngoài để tìm kiếm đối tác.
- Để đánh giá một cách toàn diện nhà đầu tư chiến lược, SSI đã lập ra hai nhóm đánh giá
nhà đầu tư riêng biệt gồm: nhóm đánh giá về năng lực tài chính và nhóm đánh giá về chiến
lược của các nhà đầu tư. Hàng năm công ty đã đầu tư 1 tỷ đồng trả lương cho nhân viên
thuộc hai nhóm đánh giá này.
- Sau khi đánh giá, công ty tổ chức các buổi đàm phán với các nhà đầu tư chiến lược nước
ngoài này và ký kết hợp đồng.
Kết quả là trong năm 2007 và 2008, SSI đã ký kết hợp đồng với hai đối tác chiến lược lớn
là ANZ và Daiwa. Trong đó ANZ mua 10% cổ phần SSI với giá trị 88 triệu USD, Daiwa
mua 10% cổ phiếu với giá trị mệnh giá 116 tỷ đồng.
Không chỉ bằng việc thu hút vốn đầu tư từ đối tác nước ngoài, SSI còn thực hiện hoạt động
20 26 52 500
Nghiệp vụ
- Tư vấn đầu tư
- Môi giới
- Tự doanh
- Lưu ký chứng
khoán
Thêm:
- Quản lý danh
mục
Thêm:
- Bảo lãnh phát
hành
Thêm:
- Mở công ty bất
động sản
“Nguồn: www.ssi.com.vn”
Hình 1.3: Vốn điều lệ năm 2008
“Nguồn: Báo cáo tài chính SSI, Bảo Việt, Kim Long”
Trong hoàn cảnh giá cổ phiếu năm 2008 tụt dốc, giá rất nhiều cổ phiếu gần như trở lại giá
gốc ban đầu khi mới chào bán trên thị trường. Đây là cơ hội cho công ty chứng khoán có
tiềm lực tài chính mạnh và lượng tiền mặt lớn mua cổ phiếu giá rẻ và chờ thị trường chứng
khoán phục hồi để thu lợi nhuận khổng lồ. Từ giữa năm 2008 khi thị trường chứng khoán
liên tục phá đáy thị trường, do có tiềm lực tài chính mạnh SSI thực hiện thu mua rất nhiều
cổ phiếu tiềm năng với giá rẻ. Với dự đoán thị trường chứng khoán sẽ hồi phục vào cuối
năm 2009, đây là cơ hội cho SSI thu lợi nhuận lớn và nâng cao năng lực tài chính của
mình. Thêm vào đó nhờ việc tận dụng thời điểm lãi suất thị trường tăng vọt (lãi suất cho
vay có lúc lên tới 20%/năm), với nguồn tài chính và tiền mặt dồi dào đã đầu tư mua trái
phiếu lợi tức cao. Sau đó bán lại với giá cao hơn khi lãi suất thị trường hạ thấp để thu lợi
nhuận. Trên thị trường Việt Nam chỉ có SSI và HSC có đủ năng lực tài chính để tận dụng
trường trên bảng điện tử và đặt lệnh giao dịch. Mỗi phòng giao dịch đều có các khu riêng
phục vụ khách hàng lớn, quan trọng của công ty, tạo cho họ sự thoải mái và tiện nghi khi
đến đây thực hiện việc giao dịch đặt lệnh.
Hàng năm SSI luôn giành lượng vốn lớn đầu tư cho cơ sở hạ tầng nhằm mở rộng thị phần
và tăng sự thuận tiện cho khách hàng. Năm 2006 lượng vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng là 4
tỷ đồng chiếm 57.1% lượng vốn đầu tư cho đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, năm 2007 lượng
vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng là 95 tỷ đồng chiếm 60.8%. Lượng vốn đầu tư vào cơ sở hạ
tầng năm 2007 tăng đột biến như vậy là do năm 2007 SSI đầu tư xây dựng thêm 9 trụ sở và
chi nhánh ở các thành phố lớn. Năm 2008 là 10 tỷ đồng chiếm 20%, lượng vốn đầu tư
giảm về lượng và tỷ trọng là do thay đổi trong chiến lược đầu tư của công ty. Thay vì đầu
tư tăng số lượng công ty quyết định tập trung đầu tư vào máy móc, dịch vụ để nâng cao
chất lượng dịch vụ.
1.3.2.2. Máy móc, thiết bị, công nghệ
Nền tảng về máy móc thiết bị công nghệ tốt là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng trực tiếp
đến khả năng cạnh tranh của công ty chứng khoán. Đặc trưng của công ty chứng khoán là
không sản xuất mà cung cấp dịch vụ và hưởng phí dịch vụ nên SSI chủ yếu đầu tư vào
thiết bị công nghệ để nâng cao chất lượng dịch vụ. Do đó các công ty chứng khoán là nơi
ứng dụng Công nghệ thông tin nhiều nhất. Công nghệ thông tin giúp khách hàng có thể
giao dịch chứng khoán, kiểm tra tài khoản, thanh toán qua mạng tiện lợi. Vì vậy công nghệ
thông tin có thể coi là vấn đề sống còn với công ty chứng khoán, công ty nào có cơ sở về
công nghệ thông tin hiện đại hơn, an toàn hơn, giao dịch đặt lệnh nhanh chóng hiệu quả,
mang lại nhiều tiện ích cho khách hàng hơn sẽ tạo được lợi thế cạnh tranh với công ty
khác.
a. Giải pháp giao dịch:
- Các giải pháp giao dịch nhanh chóng, chính xác, thuận tiện là yếu tố quan trọng nhất thu
hút các nhà đầu tư sử dụng dịch vụ chứng khoán của công ty. Nhận thức vấn đề đó, từ khi
thành lập năm 2000 SSI đã đầu tư 200 triệu đồng giao dịch lõi của FPT phát triển, gọi là
BOSC. Giải pháp này liên tục được nâng cấp, mở rộng thêm ứng dụng đáp ứng nhu cầu
giao dịch và kết nối của SSI và khách hàng. Trước nhu cầu phát triển cả về bề rộng cũng
như bề sâu, SSI đã nhận thức được phải phát triển phần mềm lõi mới, có khả năng ứng
hệ thống máy chủ (server) đa dạng. Tùy theo mỗi ứng dụng sẽ có những series máy chủ phù
hợp do các hãng IBM, HP hoặc DELL sản xuất đảm bảo sự ổn định, hiệu quả. Đặc biệt,
dùng cho phần ứng dụng lõi môi giới chứng khoán, SSI đã đầu tư 100 ngàn USD vào hệ
thống P series của IBM, nổi tiếng về sự ổn định và tin cậy. Hệ thống máy chủ này cũng sử
dụng kỹ thuật dự phòng (back up) tiên tiến của hãng IBM (gọi là TIVOLI) dự phòng, sao
chép dữ liệu đề phòng những rủi ro không nhìn thấy trước. Nhằm tránh những hư hỏng,
thất thoát dữ liệu do những ảnh hưởng vật lý (như cháy, nổ) hay trong những trường hợp
không tính trước được, SSI đã đầu tư xây dựng 2 Trung tâm dữ liệu (data center) tại Hà
Nội và thành phố Hồ Chí Minh với sự bảo mật cao, có thể thay thế nhau trong trường hợp
cần thiết. Có thể thấy rằng SSI đang ngày càng cải tiến dịch vụ, mang lại nhiều tiện ích cho
nhà đầu tư thông qua việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật - công nghệ. Tuy nhiên chuyển
giao công nghệ là thách thức lớn với SSI. Mặc dù áp dụng phần mềm hiện đại nhưng việc
ứng dụng vẫn chưa thành thạo, phần mềm đôi lúc còn bị lỗi gây gián đoạn trong phiên giao
dịch.
- So với các công ty chứng khoán cùng nghành thì SSI là công ty áp dụng phần mềm giao
dịch hiện đại nhất, nhưng hạ tầng kỹ thuật kém hiện đại hơn các công tu chứng khoán
khác, nhất là hệ thống nối mạng nội bộ. Điển hình là công ty chứng khoán Kim Long đã
đầu tư 0.8 triệu USD công nghệ mạng SAN gồm hệ thống tủ đĩa (Storage) và hệ thống
chuyển mạch (San Switch). Hệ thống SAN với những kết nối chuyển mạch dùng cáp
quang tốc độ 4GB gấp 2 lần tốc độ đường truyền mạng Lan của SSI. Trong khi đó BVSC
đầu tư hệ thống đường truyền và mạng cáp quang (mạng Wan) kết nối giữa Văn phòng
Công ty với Chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh và các đại lý nhận lệnh tại các địa
phương khác.
Năm 2006 lượng vốn đầu tư máy móc, thiết bị, công nghệ là 3 tỷ đồng chiếm 42.9%. Năm
2007 lượng vốn đầu tư là 61 tỷ đồng tăng 20 lần, chiếm tỷ lệ 39.1%. Lượng vốn đầu tư
năm 2007 tăng đột biến so với năm 2006 là do 4/2007 SSI giành 1.4 triệu USD mua phần
mềm freewill. Năm 2008 lượng vốn đầu tư là 40 tỷ đồng chiếm 80%. Mặc dù lượng vốn
đầu tư năm 2008 giảm về số lượng nhưng chiếm tỷ trọng cao hơn trong lượng vốn đầu tư
cho cơ sở vật chất kỹ thuật. Điều này chứng tỏ năm 2008 SSI chú trọng vào nâng cao chất
lượng dịch vụ hơn là mở rộng phạm vi hoạt động.
39.1
10
40
20
80
“Nguồn: SSI”
Bảng 1.4: Tổng vốn đầu tư vào cơ vật chất kỹ thuật
”Nguồn: SSI, Bảo Việt, Kim Long”
Qua biểu đồ ta có thể thấy so với các công ty chứng khoán có uy tín trên thị trường trường
chứng khoán Việt Nam như BVSC và KLS thì công ty chứng khoán Sài Gòn luôn giành
lượng vốn đầu tư lớn nhất cho đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật công nghệ.
1.3.3. Đầu tư cho nhân lực
Nguồn lực về con người là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn nhất tới hiệu quả hoạt
động và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong bất kỳ kĩnh vuẹc nào. Đặc biệt là
công ty chứng khoán vì doanh thu nghiệp vụ tư vấn tự doanh chiếm phần lớn doanh thu
của công ty. Mà nghiệp vụ này phụ thuộc phần lớn vào khả năng chuyên môn, phân tích thị
trường của đội ngũ nhân viên. Vì vậy đầu tư cho nguồn nhân lực là rất quan trọng trong
đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh của SSI. Năm 2000 đến năm 2007 nguồn vốn đầu tư
của SSI cho việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực không ngừng gia tăng. Nhưng năm
2008 lượng vốn đầu tư cho lĩnh vực này có xu hướng giảm nhẹ. Cụ thể là: Năm 2006 mức
vốn đầu tư cho nguồn nhân lực là 1.1 tỷ đồng chiếm 0.88% tổng vốn đầu tư của công ty.
Năm 2007 vốn đầu tư cho nhân lực là 6 tỷ đồng gấp 5 lần năm trước. Năm 2008 là 4 tỷ
đồng chiếm 0.23% giảm so với năm 2007 do thị trường chứng khoán 2008 giảm mạnh ít
khách hàng giao dịch gây tình trạng thừa nhân lực.
Bảng 1.4: Vốn đầu tư cho nguồn nhân lực
Năm
2006 2007 2008
Giá trị
1.5
33.3
41.7
25
0.3
2.7
1
7.5
67.5
25
“Nguồn: SSI”
Đầu tư nâng cao nguồn nhân lực gồm 3 lĩnh vực chính:
- Tuyển dụng
- Đào tạo
- Chính sách đãi ngộ
Công tác tuyển dụng là công việc đầu tiên, nền móng trong quá trình thực hiện đầu tư nâng
cao nguồn nhân lực. Do vậy công tác tuyển dụng luôn được SSI đặc biệt ưu tiên đầu tư.
SSI đã xây dựng quy trình tuyển dụng chặt chẽ và khoa học. Bên cạnh việc đăng tải thông
tin tuyển dụng rộng rãi trên các phương tiện báo chí, website, SSI còn có sự hợp tác chặt
chẽ với các trường Đại học trong nước cũng như Hội sinh viên Việt Nam ở nước ngoài.
Sau khi đầu tư lượng vốn khá lớn vào IT, SSI cần nhiều chuyên gia giỏi cũng như đội ngũ
IT đông đủ để vận hành hiệu quả hệ thống. SSI mở cửa với các chuyên gia IT giỏi và có
kinh nghiệm trong các lĩnh vực IT mà SSI quan tâm. Đội ngũ chuyên gia IT của SSI bao
gồm những chuyên gia người Việt Nam và những chuyên gia nước ngoài dày dạn kinh
nghiệm trong lĩnh vực IT. Bên cạnh những chuyên gia này, SSI cũng tuyển dụng các cán
bộ trẻ, mới tốt nghiệp đại học để đào tạo, tạo nên lớp kế thừa bền vững cho công ty. Hiện
nay, số cán bộ IT của SSI là 30 người và sẽ còn tăng lên trong thời gian ngắn trước mắt.
cao trong vốn đầu tư cho nhân lực. Cụ thể là năm 2006 lượng vốn đầu tư cho đào tạo là 0.4
tỷ đồng chiếm 36.4%, năm 2007 lượng vốn đầu tư cho đào tạo là 2.5 tỷ đồng chiếm 41.7%,
năm 2008 là 2.7 tỷ đồng chiếm 67.5%. Những năm gần đây rất nhiều công ty chứng khoán
ra đời tạo ra sức ép cạnh tranh gay gắt. Việc tăng thị phần thông qua mở thêm cơ sở hoạt
động và tăng nhân viên không còn là biện pháp hiệu quả nữa. Chất lượng dịch vụ sẽ đóng
vai trò quyết định trong thu hút khách hàng, cụ thể hơn là công ty nào có nhân lực có chất
lượng cao hơn sẽ có khả năng chiếm lĩnh thị trường. Nhận thức được xu hướng đó công ty
đã giành lượng lớn vốn đầu tư vào đào tạo nâng cao trình độ nhân viên vì đặc thù lĩnh vực
kinh doanh chứng khoán
Bên cạnh đó hiện tại có nhiều công ty chứng khoán đang hoạt động, trong khi đó nguồn
nhân lực có trình độ chuyên môn cao, giàu kinh nghiệm lại không nhiều. Trước tình hình