TOÀN CẦU HÓA
VÀ THAY ÐỔI CHÍNH TRỊ
Cao Huy Thuần* Tóm tắt
Ðể nghiên cứu về tương quan giữa toàn cầu hóa và dân chủ, bài viết đề
nghị phân biệt "dân chủ hình thức" và "dân chủ kinh tế xã hội". Toàn
cầu hóa có khuynh hướng làm lan rộng dân chủ hình thức nhưng đồng
thời cũng có đe dọa phân chia xã hội ra làm hai thành phần, một thành
phần được toàn cầu hóa biệt đãi và do đó có khả năng hưởng thụ
những không gian tự do vừa được mở ra, và một thành phần bị toàn
cầu hóa gạt ra ngoài lề, trở thành công dân hạng nhì, cung cấp phiếu
cho các lãnh tụ, mới hoặc cũ. Tuy nhiên bài viết không gạt bỏ dân chủ hình thức vì nó có khả năng
đáp ứng hai đòi hỏi của thời đại mới: mở cửa và cạnh tranh. Hơn nữa,
luật chơi của toàn cầu hóa là trong suốt, một sự áp dụng thông minh và
sáng tạo dân chủ hình thức có thể cần thiết để dẹp bỏ tệ hại tham
nhũng mà một bộ máy chính trị mờ ám dung dưỡng. Trong chừng mực
đó, một liều lượng hợp lý và điều độ của dân chủ hình thức có thể giúp
cho việc thực hiện nhu cầu mà thời đại mới ngày nay gọi là
gouvernance. C
ác nước Tây phương tin rằng quá trình toàn cầu hóa sẽ làm thay
đổi chế độ chính trị trong các nước chuyên chế khiến các nước này
3. Khủng hoảng mà toàn cầu hóa đã gây ra ở Á châu năm 1997 đã
đưa đến những cải tổ chính trị gì ?
Ba câu hỏi đặt ra cốt để suy nghĩ nhiều hơn là để trả lời.
I
Toàn cầu hóa và dân chủ hình thức
Không phải bỗng nhiên mà tôi phân biệt dân chủ hình thức và dân
chủ nội dung. Marx đã phân biệt như vậy khi chỉ trích dân chủ Tây
phương chỉ là hình thức, thực chất vẫn là giai cấp bóc lột. Tranh luận
này vẫn còn giá trị của nó, nhưng thời đại mới có tranh luận mới. Vào
cuối những năm 70, đầu những năm 80, một hiện tượng chính trị xảy ra
tại châu Mỹ la tinh: lạ thật, hầu hết những chính thể độc tài quân phiệt
đang hoành cứ tại đấy bỗng nhiên rủ nhau biến mất hoặc ít ra cũng
thay đổi: Equateur, Nicaragua, Pérou, Argentine, Uruguay, Brésil,
République Dominicaine, thậm chí cả Chili, Salvador, Paraguay,
Guatemala. Lý thuyết gia, nhất là ở Mỹ, hớn hở như gặp được mỏ
vàng, đua nhau khai quật, phân tích, so sánh, lập thuyết. Danh tiếng
của G. O’Donnell vang dội trong đại học với tác phẩm gồm 4 pho dày
cộm tập hợp bài viết của nhiều tác giả: Transitions from Authoritarian
Cao Huy Thuần, Toàn cầu hoá và thay đổi chính trị
49
Rule, xuất bản năm 1986. Chuyển tiếp từ các chính thể chuyên chính… Áp
lực nhân quyền, dân chủ khởi xướng với Carter, tiếp diễn với Reagan,
coi bộ thành công mỹ mãn. Mà đâu có phải riêng gì châu Mỹ la tinh!
Thành công dân chủ vang dội nhất, vẻ vang thay, lại nổ ra tại Á châu
năm 1986, tại nước Phi Luật Tân đang nằm trong bàn tay sắt của nhà
độc tài Marcos và dưới 500 đôi giày của bà vợ hoa khôi Imelda. Lần
tên tuổi của Pháp về đề mục chuyển tiếp, mang một nhan đề áo nảo
như một tiếng thở dài: “Les désenchantements de la liberté”. Tự do mà
THỜI ÐẠI số 7
50
cũng biết "khi tỉnh mộng lúc tàn canh…". Chuyển tiếp vẫn còn là đề tài
hấp dẫn, nhưng chuyển tiếp đến cái gì thì chẳng ai nữa dám nói là biết.
Có thể chuyển tiếp đến dân chủ, mà cũng có thể chuyển tiếp đến hỗn
loạn để rồi lại trở về với độc tài. Bởi vậy chữ " démocratique” bị cắt ra
khỏi chữ "transition" : transition thì trăm phần trăm là có – cái gì mà
chẳng biến đổi ? – nhưng démocratique thì chưa biết nắng mưa thế nào.
Chuyển tiếp, do đó, được định nghĩa như một khoảng thời gian dài ngắn
không lường trước được, trong đó mọi khả năng đều có thể xảy ra, tai
họa cũng như ân sủng. Dân chủ là một trong những khả năng đó và chỉ
trong trường hợp đó mới nói được transition démocratique.
Nhưng thế nào là dân chủ ? Hầu hết các lý thuyết gia về chuyển
tiếp gạt phăng mọi tranh luận về nội dung xã hội, kinh tế của khái niệm
dân chủ, cho là không có ích lợi gì, chỉ làm rối rắm thêm đề tài chuyển
tiếp. Ðối với họ, vấn đề phải khảo sát là như thế nào một quốc gia đi từ
chính thể này qua chính thể kia, ai là diễn viên chính, quá trình chuyển
biến như thế nào, chiến lược dàn dựng ra làm sao, phe mới và phe cũ
bắt tay hay chống đối nhau đến đâu, nhượng bộ nhau đến mức nào,
thương lượng với nhau làm sao… Nói như vậy không có nghĩa là các
tác giả đó không có trong đầu một khái niệm về dân chủ. Trong quan
niệm của họ, dân chủ được xây dựng trên những định chế, đứng đầu là
tuyển cử có cạnh tranh thực sự. Họ cùng khởi đi từ một nguyên tắc:
bản chất của dân chủ là những hình thức mang tính chất định chế, và
bản chất đó không thể lẫn lộn với nội dung kinh tế, xã hội nào đó. Họ
gạt bỏ Marx, tất nhiên, nhưng họ cũng gạt bỏ Rousseau, ông tổ của
cách mạng dân chủ ở Pháp, vì Rousseau nhấn mạnh nội dung. Họ
địch thủ giống hệt như anh em sinh đôi của nó, kinh tế thị trường, hạ
kinh tế kế hoạch hoá. Ngay tại các nước hồi giáo trong đó các khuynh
hướng cực đoan chống đối kịch liệt những giá trị của Tây phương, mối
liên hệ với dân chủ hình thức không phải là hoàn toàn bị dẹp bỏ.
Không phải lúc nào các khuynh hướng đó cũng hô hào dùng bạo lực để
triệt hạ các chính quyền tại chức. Có khi họ chủ trương tuyển cử và họ
đã thắng tại Algérie. Dại gì mà không đòi tuyển cử khi họ thấy họ
chiếm đa số dân chúng ! Ðáng suy ngẫm hơn nữa là tình hình chính trị
tại Iran. Quốc gia này đặt mình dưới luật lệ của Hồi giáo, nhưng chính
quyền được dân bầu ra và ông Khatami, đại diện của phái cởi mở, đã
được bầu lên chức tổng thống một cách thực sự dân chủ.
Thứ hai, các tĩnh từ đi theo chữ dân chủ đã mất tính chính đáng, hết
gợi hứng, tàn lụi sinh khí lịch sử. Trong những năm 60, các chủ trương
"dân chủ hướng dẫn", "dân chủ Ả Rập", "tân dân chủ" … hãy còn mang
khí phách độc lập của những dân tộc vừa đập tan xiềng xích. Ngày nay,
thêm chữ gì sau chữ dân chủ chỉ làm lộ ra hình ảnh người cụt chân
khập khiễng đang cầu cứu chiếc nạng. Gần đây, vài nước Á châu
giương cao ngọn cờ tự chủ với khái niệm "giá trị châu Á" để biện minh
cho những chế độ chính trị cứng rắn. Ðiều đáng suy ngẫm là tại quê
hương của chủ thuyết này, tại Singapore, tuyển cử càng ngày càng có
thực chất, không phải chỉ là dàn dựng. Ai dám nói hình thức, với thời
gian, không dần dần trở thành nội dung ?
Do đó, thứ ba, tựa như khẩu hiệu "làm giàu đi !" dội vang lúc khởi
đầu thời đại tư bản, toàn cầu hóa ngày nay hô to: "dân chủ đi !". Và
THỜI ÐẠI số 7
52
khắp nơi trên thế giới, bầu cử trở thành điều kiện bắt buộc để người
cầm quyền được xem là người cầm quyền. Trước 1989, mấy khi tuyển
cử có cạnh tranh diễn ra ở châu Phi ; sau đó hiện tượng này lan ra cùng
tiếp chính trị, nhất là ở châu Mỹ la tinh.
Câu hỏi có tính phương pháp đã được đặt ra là thế này: tại sao
các nước ở đây thay đổi chế độ chính trị vào thời điểm những năm
80 chứ không phải trước đó hoặc sau đó ? Câu trả lời thú vị nhất là
Cao Huy Thuần, Toàn cầu hoá và thay đổi chính trị
53
thế này: bởi vì vào lúc đó châu Mỹ la tinh bị khủng hoảng kinh tế
trầm trọng nhất từ thuở 1930 và khủng hoảng đó bắt buộc Nhà
nước phải thay đổi sâu xa vai trò của mình. Mê-hi-cô vỡ nợ vào
năm 1982, không có cách nào khác hơn là cầu viện những tổ chức
tài chính quốc tế, đứng đầu là Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế và Ngân Hàng
Thế Giới. Ðường lối của các cơ quan này buộc thực hiện những biện
pháp khắt khe: kỷ luật về ngân sách, tư hữu hóa, tự do hóa thương
mại, chấm dứt thẩm quyền quy định của Nhà nước, nói chung là
phải lệ thuộc những cơ chế của thị trường. Những trói buộc đó hạn
chế tự do chọn lựa chính sách của cả Nam Mỹ và buộc các nước ở
đó từ bỏ những mẫu mực phát triển lấy Nhà nước làm trọng tâm,
đẩy mạnh sản xuất để thay thế nhập khẩu. Bắt buộc phải tuân thủ
chính sách khắc khổ, cắt đứt những khoản chi tiêu về an ninh xã
hội, các chính quyền ở Nam Mỹ biết rằng họ phải đối phó với
những hậu quả chính trị và kinh tế đau đớn ; vì vậy chính quyền
nào cũng phải bắt đầu vạch ra những hợp đồng chính trị mới,
những liên kết, thỏa thuận mới giữa các phe phái chính trị để ngăn
ngừa những hiểm nguy và tạo ra những không gian chính trị mới
cần thiết cho việc áp dụng những biện pháp kinh tế khắc khổ. Ðó là
những nhượng bộ mà các chính quyền tại chức bắt buộc phải nhận
trên lĩnh vực định chế để tránh những va chạm xã hội do chính
sách cởi mở kinh tế gây ra. Bởi vậy, không phải bỗng dưng mà sự
xuống cấp về mực sống của dân chúng xảy ra đồng thời với quá
tính lý thuyết: các chế độ dân chủ mới ở châu Mỹ la tinh là những
"chế độ dân chủ không có tính công dân" (démocratie sans
citoyenneté). Guillermo O’Donnell phỏng theo ý đó đặt tên: đó là
các "chế độ dân chủ uỷ nhiệm" (démocraties déléguées) khác với dân
chủ đại diện như người Pháp đã học với Montesquieu từ thế kỷ 19.
O’Donnell tóm tắt lập thuyết của ông như sau: phần đông các nước
ở châu Mỹ la tinh theo chính thể tổng thống, quyền hành của các cơ
quan lập pháp chẳng có bao nhiêu, đảng phái yếu ớt, chẳng có
chương trình, sống nhờ ở các đường dây thuộc hạ (clientélistes) ;
các phong trào, khuynh hướng xã hội thì nhiều nhưng vô tổ chức,
có bóng mà không có hình, muốn tìm người đại diện cho mình, nói
tiếng nói của mình, nhưng tìm không ra trong các đảng phái, bởi
vậy họ ủy nhiệm một cách tiêu cực quyền của họ cho những người
khác. Người nào ? Thiếu gì ! Thiếu gì kẻ vỗ ngực "trăm nghìn hãy
cứ trông vào một ta" ! Chính trị truyền thống ở châu Mỹ la tinh
chẳng bao giờ thiếu caudillos. Một loạt caudillos mới nhảy lên sân
khấu: Collor di Mello ở Brésil, Alberto Fujimori ở Pérou, Carlos
Menem ở Argentine... Giữa hình thức của các chế độ này với nội
dung chính sách mà họ áp dụng có tương quan với nhau như thế
này: họ không thể áp dụng những chương trình kinh tế khắc khổ và
cải tổ cấu trúc kinh tế như ý muốn của các tổ chức tài chánh quốc tế
Cao Huy Thuần, Toàn cầu hoá và thay đổi chính trị
55
nếu không có một quyền hành chính trị rất cứng rắn. Công dân hạ
lưu, cũng như công dân thượng lưu, được tham gia tuyển cử, và
tuyển cử được tổ chức tự do, đưa ra hình ảnh dân chủ đáng kính
trọng. Nhưng đồng thời từng mảng lớn lãnh thổ trong những nước
đó sống ngoài vòng pháp luật, từng mảng lớn công dân bị loại ra
khỏi công bằng tối thiểu: đây là các công dân bị mất giá, công dân
THỜI ÐẠI số 7
56