Chính sách phát triển kinh tế vùng - Pdf 23

52(4): 27 - 29 Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 4 - 2009

1

CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VÙNG: KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
VÀ HƯỚNG VẬN DỤNG Ở VIỆT NAM

Nguyễn Xuân Trường (Đại học Thái Nguyên)

Tóm tắt
Trong bài báo tác giả đề cập đến các vấn đề sau đây: 1) Tầm quan trọng của vấn đề tổ chức không gian
lãnh thổ quốc gia và vai trò của nhà nước trong việc thực hiện chức năng quản lý điều tiết phát triển lãnh
thổ; 2) Bước đầu đề cập đến khái niệm chính sách vùng, bản chất của chính sách vùng; 3) Các phương
hướng thực hiện chính sách vùng trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam; 4) Các công cụ điều tiết phát
triển vùng ở Việt Nam theo quan niệm chính sách vùng. Từ cách tiếp cận và phân tích chính sách vùng, tác
giả đưa ra một số khuyến nghị trong việc thực hiện chính sách này trong điều kiện kinh tế thị trường và hội
nhập của Việt Nam hiện nay.

1. Vấn đề tổ chức không gian lãnh thổ và điều
tiết phát triển vùng của đất nước luôn nhận được
sự quan tâm của bất kỳ nhà nước nào trên thế giới.
Ở Liên Xô cũ và các nước xã hội chủ nghĩa trước
đây, điều tiết phát triển vùng là một trong những
phân hệ quan trọng nhất của quy hoạch và quản lý
nhà nước. Trong các nước có nền kinh tế thị
trường phát triển (Bắc Mỹ, Tây Âu), hệ thống
chính sách điều tiết phát triển vùng của nhà nước
hiện nay đã được hình thành từ trong thời kỳ
khủng hoảng kinh tế thế giới những năm 1929 -
1933, và có hình thức phát triển cao hơn khi nền
kinh tế các nước này bước vào giai đoạn phục hồi

của lãnh thổ quốc gia với các đặc điểm tự nhiên,
kinh tế - xã hội và trình độ phát triển tương đối
khác biệt và chênh lệch so với các bộ phận lãnh
thổ khác, đòi hỏi quốc gia đó phải thực hiện các
chính sách phát triển vùng với một hệ thống các
công cụ, phương tiện can thiệp khác nhau nhằm
đảm bảo sự gắn kết chung giữa các bộ phận lãnh
thổ này trong một thực thể quốc gia thống nhất. Từ
khái niệm vùng đã được xác định trên, có thể đưa
đến định nghĩa về chính sách vùng - đó là sự phối
hợp hoạt động theo một phương hướng nhất định
với phương thức tiếp cận và cách thức thực hiện
được quy định cụ thể. Các hoạt động này được cơ
quan quản lý Nhà nước các cấp tổ chức, điều phối
thực hiện để đạt tới mực tiêu cuối cùng là tăng
cường khả năng cạnh tranh, tiềm lực kinh tế và đạt
được mức độ tăng trưởng kinh tế cao hơn các lãnh
thổ còn lại của quốc gia [10].
Mục tiêu cơ bản của chính sách vùng là kích
thích sự tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế đất
nước và phát triển cân bằng giữa các vùng. Mục
52(4): 22 - 26 Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 4 - 2009
23

tiêu cân bằng là hướng tới một sự hài hoà tương
đối giữa các vùng về thụ hưởng phúc lợi xã hội,
thu nhập và cơ hội phát triển của công dân và các
nhóm xã hội. Ngược lại, mục tiêu tăng trưởng
hướng vào việc sử dụng tối ưu tất cả các nguồn lực
và lợi thế của từng vùng để thúc đẩy mức tăng

tăng trưởng” cũng được xây dựng ở những vùng
này. Lần đầu tiên quy chế về xây dựng các “cực
tăng trưởng” được thông qua ở Italia năm 1957
trong khuôn khổ của chính sách vùng, tiếp theo đó
các “cực tăng trưởng” cũng bắt đầu được xây dựng
ở Tây Ban Nha, Pháp và các nước khác. Trong
thời gian gần đây cùng với quá trình công nghiệp
hoá ở các vùng kém phát triển, người ta cũng đã
dành nhiều sự chú ý cho sự phát triển kinh tế nông
nghiệp, du lịch và dịch vụ.
+ Phương hướng thứ hai của chính sách vùng
là làm “sống lại” các vùng đình trệ. Đó là những
vùng công nghiệp cũ với sự phát triển chủ yếu các
ngành công nghiệp khai khoáng (công nghiệp khai
thác than, quặng sắt…), công nghiệp dệt… đã xuất
hiện trong thời kỳ cách mạng công nghiệp thế kỷ
XVIII - XIX. Sự chuyển đổi việc sử dụng nguồn
năng lượng từ than đá sang dầu mỏ và khí đốt
trong thời kỳ cách mạng khoa học kỹ thuật hiện
đại, việc thay thế khai thác quặng kim loại địa
phương bằng nguồn nguyên liệu nhập khẩu, việc
sử dụng sợi nhân tạo thay thế dần sợi tự nhiên
trong công nghiệp dệt đã dẫn tới sự sụp đổ và đình
trệ nền kinh tế của vùng. Hậu quả dẫn đến là
khủng hoảng về mặt xã hội: di dân, khủng hoảng
cơ cấu dân số, thất nghiệp cơ cấu. Vùng Apalatxơ
bao trùm hoàn toàn hay một phần lãnh thổ 13 bang
của Mỹ với dân số gần 20 triệu người là một ví dụ
rõ nhất của vùng đình trệ, bởi vì đây là vùng có bể
than lớn nhất nước Mỹ. Chính sách vùng đối với

+ Phương hướng thứ tư của chính sách vùng là
tiến hành khai thác tài nguyên ở các lãnh thổ mới
có điều kiện tự nhiên khó khăn. Trước chiến tranh
thế giới lần thứ II các nước Tây Âu, Mỹ và Nhật
Bản có thể dựa vào nguồn nguyên liệu và nhiên
liệu ở các thuộc địa và nửa thuộc địa của mình,
cho nên sự chú ý của họ đến các vùng lãnh thổ xa
xôi của đất nước là rất hạn chế. Sau khi hệ thống
thuộc địa bị sụp đổ, sự quan tâm của các nước
phương Tây đến với các vùng đất mới của mình
tăng lên. Ngoài ra sự cần thiết chuyển hướng phát
triển công nghiệp dựa trên nguồn tài nguyên của
mình để tránh sự lệ thuộc vào bên ngoài đã dẫn
đến việc khai thác mạnh mẽ các vùng đất rộng lớn
(Alaxca của Mỹ, Bắc Canađa, Ôxtrâylia).
Nhìn chung các kết quả việc thực hiện chính
sách vùng của các nước phương Tây còn khá
nhiều hạn chế, sự chênh lệch vùng vẫn còn tồn tại.
Tuy nhiên, không thể phủ nhận một điều, nếu như
không có sự thực hiện các chính sách này, nhiều
vùng lãnh thổ ở các nước Tây Âu đã rơi vào tình
trạng đình trệ sâu sắc hơn.
Ở các nước đang phát triển, việc thực hiện
chính sách vùng có những đặc điểm riêng. Đối với
các nước này thì vấn đề “hồi phục” và làm “sống
lại” các vùng công nghiệp đình trệ có tính thời sự
không lớn, nhưng ba phương hướng còn lại vẫn
được coi là khá phổ biến. Đó là sự phát triển các
vùng lạc hậu, trong số đó là sự xuất hiện các công
trường xây dựng mới nhằm tạo ra các “cực tăng

vùng bắt đầu được thể hiện trong các văn bản pháp
lý (năm 1975, phương pháp luận quy hoạch tổng
thể các tỉnh, khu vực, khu tự trị của Nga và một
loạt các nước cộng hoà khác được thông qua). Đặc
điểm có tính nguyên tắc chính sách vùng trong
thời kỳ đó là tính chất quốc gia. Nội dung chủ yếu
của nó là thực hiện các nhiệm vụ quốc gia có cân
nhắc đến phân bố các cơ sở tài nguyên và đặc
điểm kinh tế - xã hội các vùng.
Sự khác biệt về bản chất của chính sách vùng
của Liên Xô cũ với các nước kinh tế phát triển
phương Tây là rất rõ. Nguyên nhân của sự khác
biệt này có thể chỉ ra: Thứ nhất, đối với Liên Xô
cũ và nước Nga hiện nay việc sử dụng các nguồn
tài nguyên thiên nhiên giàu có của đất nước là một
phương hướng quan trọng. Vì vậy, các vấn khai
khẩn các vùng đất mới ở phía Bắc và phía Đông
thường xuyên được coi là là một nhiệm vụ cơ bản
của chính sách vùng. Thứ hai, trong điều kiện nền
kinh tế kế hoạch tập trung, vấn đề chênh lệch về
thu nhập của dân cư giữa các nước cộng hoà liên
bang được giải quyết ở cấp độ toàn liên bang
thông qua việc phân phối lại nguồn tài chính là
điều có thể chấp nhận. Thứ ba, sự phân hoá giữa
các vùng không làm ảnh hưởng đến tình hình chính
trị, xã hội đất nước trong điều kiện sự quản lý của
chính quyền trung ương tập trung còn mạnh. Vì
vậy, nhiệm vụ “san bằng trình độ phát triển kinh tế
- xã hội” mang tính chất không hẳn về mặt kinh tế,
mà chủ yếu mang tính chất chính trị liên quan đến

về trình độ phát triển giữa khu vực miền Trung với
hai đầu của đất nước (miền Bắc và miền Nam), sự
tụt hậu ngày càng xa hơn của các vùng miền núi,
vùng sâu, vùng xa so với mặt bằng chung của cả
nước. Thành quả của 20 năm đổi mới dường như
mới chỉ thấy rõ nhất ở các khu vực đô thị, các
thành phố lớn mà chưa thực sự thay đổi về chất tại
các vùng nông thôn miền núi khó khăn. Đã có
những khuyến nghị thiện chí từ phía bạn bè quốc
tế và đặc biệt điều này cũng được Chính phủ Việt
Nam quan tâm chú ý. Đã có nhiều chương trình,
chính sách phát triển được thực hiện như chương
trình mục tiêu Quốc gia xoá đói giảm nghèo,
Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc
biệt khó khăn ở miền núi và vùng sâu, vùng xa
(gọi tắt là chương trình 135),… Các công trình
trọng điểm quốc gia cũng có ý nghĩa quan trọng
phát triển vùng: công trình nhà máy thuỷ điện Sơn
La, Na Hang, các công trình thuỷ điện ở Tây
Nguyên, công trình nhà máy lọc dầu Dung Quất,
công trình nhà máy khí - điện - đạm Cà Mau, Phú
Mỹ… Việc hình thành 3 vùng kinh tế trọng điểm
Bắc Bộ, miền Trung và Nam Bộ là một biểu hiện
của chính sách đầu tư có trọng điểm nhằm tạo ra
các đầu tàu kinh tế thúc đẩy nền kinh tế cả nước.
Cho đến nay vẫn chưa có những đánh giá tổng kết
chính thức về chính sách phát triển vùng của Việt
Nam, nhưng có thể nói các nỗ lực của Chính phủ
Việt Nam đã và đang đem lại những chuyển biến
tích cực. Vấn đề đặt ra là các chính sách này cần

địa phương và cần được giám sát thực hiện sát sao,
tránh việc các địa phương tự tiện “phá rào” ảnh
hưởng đến lợi ích toàn cục.
- Phát triển vùng là một quá trình lâu dài và
phức tạp, cho nên cần nhận thức đầy đủ về vị trí
vai trò của công việc này và xây dựng được một
cơ sở lý luận vững chắc thông qua việc bồi dưỡng,
đào tạo cán bộ thuộc các cơ quan xây dựng chính
sách có đủ trình độ, năng lực xây dựng và thực
hiện có hiệu quả các chiến lược, chương trình,
chính sách phát triển vùng;
- Nhà nước cần sớm nghiên cứu mô hình một
cơ quan tổ chức tư vấn phát triển vùng phù hợp.
Vùng không phải là một đơn vị hành chính hay một
khu vực hành chính, đồng thời vùng cũng không
52(4): 22 - 26 Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 4 - 2009
26

phải là phép cộng đơn thuần của các đơn vị hành
chính. Do vậy, để tăng cường khả năng phối hợp
hoạt động các địa phương trong vùng có thể thành
lập Hội đồng tư vấn phát triển vùng. Ví dụ: ở Pháp
có Hội đồng vùng; còn ở Nga ngoài cơ quan quản
lý nhà nước là Bộ phát triển vùng, trong 7 khu vực
liên bang có cơ quan đại diện của chính quyền trung
ương và người đứng đầu là đại diện toàn quyền của
Tổng thống tại các khu vực liên bang.
- Quy hoạch vùng phải là quy hoạch tổng thể,
các quy hoạch ngành đơn lẻ (quy hoạch hệ thống
giao thông, quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch

- Việt Nam là nước có đến 31 tỉnh và thành
phố trực thuộc Trung ương tiếp giáp với biển, vì
vậy quan niệm kết hợp đất liền - vùng biển - đảo
và quần đảo cần phải trở thành nguyên tắc bắt
buộc cần phải tuân theo khi soạn thảo các chương
trình, dự án phát triển vùng;
- Để tạo ra các tiền đề thuận lợi cho phát triển
nhanh các vùng và giảm sự chênh lệch giữa chúng,
Nhà nước cần lựa chọn các địa điểm đầu tư hợp lý
để xây dựng các trung tâm và các “cực tăng
trưởng” mới ở các vùng còn thiếu vắng hệ thống
đô thị, để từ đó nhờ hiệu ứng “lan toả” sẽ thúc đẩy
phát triển toàn vùng.
Tài liệu tham khảo
[1] Alaev. E.B (1987). Các vấn đề vùng của các nước
tư bản phát triển: khả năng sử dụng kinh nghiệm nước
ngoài. Matxcova, LB Nga (Tiếng Nga).
[2] Artobolepvxki. X.X (1992). Chính sách vùng các
nước phát triển Tây Âu: khía cạnh lí luận, phương pháp
luận và thực tiễn. Tóm tắt luận văn Tiến sĩ địa lí.
Matxcova, LB Nga, (Tiếng Nga).
[3] Burmatova. O.P (2000). Chính sách vùng của Nga.
Hôvôsibiski, LB Nga, (Tiếng Nga).
[4] Butov. V.I (2000). Cơ sở kinh tế vùng. Rôtstốp trên
sông Đông, LB Nga, (Tiếng Nga).
[5] Gladki. Iu.N, Chistabaev.A.I (1998). Cơ sở chính
sách vùng. Sanhpertecbua, LB Nga, (Tiếng Nga).
[6] Chistabaev.A.I (1996). Địa lí và quản lí vùng. Tạp
chí khoa học, Trường ĐH Tổng hợp Quốc gia
Santpertecbua, LB Nga, (Tiếng Nga).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status