Đề tài: Phân tích thực trạng phát triển &
chính sách phát triển kinh tế của Việt Nam
qua các giai đoạn lịch sử từ 1945 tới nay.
GV hướng dẫn: Phạm Thị Hạnh Nhân
Nhóm 1:
Lê Thị Huệ
Lê Thị Thủy
Trương Quang Khánh
Phan Đình Hào
Mục tiêu:
Từ việc tìm hiểu các chính sách kinh tế mà
Nhà nước thực hiện qua các giai đoạn. Để có
được những thành tựu kinh tế phát triển vượt
bậc.
Bên cạnh đó thấy được những khó khăn gặp
phải trong quá trình phát triển kinh tế.
Nội dung
3
Giai đoạn 1945 - 1975
Giai đoạn 1975 - 1986
Giai đoạn 1986 đến nay
3
3
1
2
3
Giai đoạn sau cách mạng đến 1975
Xóa nghèo đói:
Vận động toàn dân đóng góp tiền của và
hưởng ứng “Tuần lễ vàng”.
Giai đoạn sau cách mạng đến 1975
31/1/1946, Chính phủ đã đưa ra Nghị định về
in & phát hành tiền Việt Nam, trước hết lưu
hành tại khu vực trung tâm và đến cuối năm
1946 là trên cả nước.
1951, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được
thành lập → Việc phân phối hàng hóa, thương
mại và các hoạt động thương mại bắt đầu phát
triển.
Giai đoạn sau cách mạng đến 1975
Kết quả đạt được:
1946, đã có 2.520.678 người thoát nạn mù chữ,
dân số là 22 Tr người → Đây là một kỳ tích có
một không hai trong lịch sử xã hội hóa giáo
dục.
Nạn đói được đẩy lùi, sản xuất nông nghiệp
khôi phục nhanh & phát triển. Năm 1946 sản
lượng lương thực cả năm đạt 1.925.000 tấn tính
riêng Bắc Bộ, xấp xỉ bằng vụ mùa của cả nước
năm 1940.
Giai đoạn sau cách mạng đến 1975
Các sản phẩn giấy, dệt muối, xà phòng, thuốc
lá, đường, thuốc lá, đường, thuốc được phát
Nông nghiệp tiếp tục phát triển.
Đẩy mạnh diện tích canh tác nông nghiệp
Giai đoạn 1975 - 1986
Là giai đoạn áp dụng mô hình kinh tế cũ ở miền Bắc cho
cả nước sau khi thống nhất và đồng thời là giai đoạn của
những tìm tòi để thoát khỏi mô hình này.
Thời kỳ xác lập mô hinhg kinh tế chung cho cả nước:
12/1976, Đại hội Đại biểu Toàn quốc của Đảng Lao
Động Việt Nam được tổ chức, đưa ra các đường lối
chính sách:
Áp dụng mô hình kế hoạch hóa tập trung.
Công nghiệp nặng được lựa chọn làm ngành động
lực chính của tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Giai đoạn 1975 - 1986
Đẩy mạnh sản xuất tập trung ở Miền Bắc:
Hợp tác xã nông nghiệp ở Miền Bắc tăng gấp
hai đến 2,5 lần kích thích sản xuất.
Tính trên đầu người thì lượng thực phẩm ở
Miền Bắc giảm từ 248 kg vào năm 1976 xuống
chỉ còn 215 kg vào năm 1980.
Giai đoạn 1975 - 1986
Cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam:
9/1979, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IV
tiến hành đại hội lần 6:
Cho phép kết hợp kế hoạch hóa với cơ chế thị
trường.
Sử dụng lai kinh tế tư nhân nhưng dưới sự quản
lý của Nà nước.
Sửa lại giá lương thực & giá các nông sản khác
theo hướng dựa trên thỏa thuận.
Cho phép địa phương tiến hành xuất nhập khẩu.
Giai đoạn 1975 - 1986
12/1980, Hội nghị Trung ương Đảng khóa IV lần 9
đã quyết định mở rộng việc thực hiện & hoàn thành
khoán sản phẩm trong nông nghiệp.
21/1/1981, Triển khai nghị quyết: “Một số chủ
trương và biện pháp nhằm tiếp tục phát huy quyền
chủ động sản xuất, kinh doanh và quyền tự chủ về tài
chính của các xí nghiệp quốc doanh.
Giai đoạn 1975 - 1986
Kết quả đạt được: Từ
1981, kinh tế Việt Nam
khởi sắc.
Sản lượng
về giá – lương – tiền.
Tính đẻ chi phí hợp lý vào sản xuất.
Thực hiện cơ chế một giá trong toàn bộ hệ thống
giá cả.
Đảm bảo tiền lương thực tế, thực sự đảm bảo cho
người ăn lương sống chủ yếu bằng tiền lương, tái
sản xuất được sức lao động.
Xác lập quyền tự chủ về tài chính của các ngành
và cơ sở kinh tế.
Giai đoạn 1975 - 1986
Kết quả: Tuy kế hoạch cải cách giá - lương - tiền không
diễn ra như kế hoạch do sự chắp vá giữa cải cách với mô
hình cũ, gây ra những hậu quả nghiêm trọng trong thời
gian cuối năm 1985 và năm 1986, song chính sự khủng
hoảng này đã làm cho các cấp các ngành nhận ra rằng đã
cải cách là phải cải cách triệt để. Mô hình cũ phải bị
đoạn tuyệt hoàn toàn. Trên cơ sở đó, Đại hội Đại biểu
Toàn quốc lần thứ 6 của Đảng Cộng sản Việt Nam tháng
12 năm 1986 đã đưa ra những chủ trương cải cách, đổi
mới lịch sử
Giai đoạn 1986 đến nay
Giai đoạn 1986-1990: Bắt đầu công cuộc đổi mới
chuyển theo kinh tế thị trường:
Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần,
vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã
giá trị xuất khẩu cả nước, tăng 5 lần so với năm
1986.
Năm 1989, Việt Nam bắt đầu xuất khẩu dầu thô,
đem lại nguồn thu xuất khẩu lớn.
Giai đoạn 1986 đến nay
Siêu lạm phát được kiềm chế và đẩy lùi (năm 1986
lạm phát là 774,7 %, thì năm 1987 là 223,1 %, 1989 là
34,7% và 1990 là 67,4 %).
Chuyển đổi cơ bản cơ chế quản lý cũ sang cơ chế
quản lý mới, đổi mới đời sống KTXH và giải phóng
sức sản xuất.
Hạn chế:
•
Các biện pháp đổi mới cơ chế quản lí tác động trong
những năm cuối 1990.
•
Kinh tể phát triển chậm, không ổn định:1986-1990,
tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 3,9 %.