Thực trạng đói nghèo việt nam qua các giai đoạn phát triển - Pdf 12

Thực trạng đói nghèo Việt Nam qua các giai đoạn phát triển
PHỤ LỤC
1
Thực trạng đói nghèo Việt Nam qua các giai đoạn phát triển
PHẦN MỞ ĐẦU
Ngày nay, quan điểm về phát triển kinh tế - xã hội ngày càng được mở rộng về nội
hàm, ngoài yếu tố cơ bản là tăng trưởng kinh tế cao, ổn định còn phải đặc biệt quan tâm
tới các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường sống. Quan điểm phát triển bền vững trở thành
mục tiêu chung của toàn thế giới trong đó có cả Việt Nam.
Phát triển kinh tế bền vững là mục tiêu lâu dài của nước ta, trong đó vấn đề đói
nghèo được nhà nước đặc biệt quan tâm. Nghèo đói là nguyên nhân làm gia tăng các vấn
đề xã hội như mù chữ, bệnh tật, bạo hành, xung đột Chính vì thế mà việc tìm giải pháp
cho vấn đề đói nghèo là nội dung mà Đảng và Nhà nước cực kì quan tâm trong những
năm gần đây. Có rất nhiều chính sách đã được đưa ra nhằm đáp ứng nhu cầu, nguyện
vọng đông đảo của quần chúng nhân dân và phù hợp với xu hướng chung của thời đại
mới.
Bài tiểu luận của chúng em nhằm tìm hiểu nguyên nhân, thực trạng của tình trạng
đói nghèo ở nước ta hiện nay, từ đó đưa ra các giải pháp và các bài học kinh nghiệm để
chúng ta có thể xóa bỏ tình trạng đói nghèo, đưa kinh tế đất nước đi lên.
2
Thực trạng đói nghèo Việt Nam qua các giai đoạn phát triển
I. Khái quát về vấn đề nghèo đói
1.1 Một số khái niệm về đói nghèo và thước đo đói ngèo
1.1.1. Khái niệm đói nghèo
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về đói nghèo, tuy nhiên, Việt Nam thừa nhận
định nghĩa chung của đói nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á – Thái
Bình Dương tổ chức tại Băng Cốc – Thái Lan tháng 9 năm 1993:
“ Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những
nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này được xã hội thừa nhận tùy theo
trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương”.
Tổ chức y tế thế giới WHO lại định nghĩa đói nghèo theo thu nhập. Theo đó, một

tỷ lệ đói nghèo lương thực, thực phẩm tương ứng sẽ là 25% và 15%.
II. Vấn đề nghèo đói và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam
2.1 Tình trạng nghèo đói ở Việt Nam hiện nay
2.1.1 Thực trạng đói nghèo ở Việt Nam
Theo báo cáo của WB (ngân hàng thế giới) trong cuộc tọa đàm về chuẩn đói ở
Việt Nam đã diễn ra tại Hà Nội, 15-16/2/2000 tỉ lệ nghèo đói ở nước ta năm 1993 là
58.1% giảm xuống 34.4% năm 1998. Theo BLĐTBXH tỉ lệ nghèo đói ở Việt Nam là 26%
năm 1993 giảm xuống 15.7% năm 1998. Theo số liệu của Chương trình Phát triển Liên
Hiệp Quốc ở Việt Nam, vào năm 2004 chỉ số phát triển con người của Việt Nam xếp hạng
112 trên 177 nước, chỉ số phát triển giới xếp 87 trên 144 nước và chỉ số nghèo tổng hợp
xếp hạng 41 trên 95 nước. Cũng theo số liệu của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc,
vào năm 2002 tỷ lệ nghèo theo chuẩn quốc gia của Việt Nam là 12.9%, theo chuẩn thế
giới là 29% và tỷ lệ nghèo lương thực (% số hộ nghèo ước lượng năm 2002) là 10.87%.
Vào đầu thập niên 1990, chính phủ Việt Nam đã phát động chương trình xóa đói giảm
nghèo cùng với lời kêu gọi của Ngân hàng thế giới. Theo báo cáo của Bộ LĐ - TB&XH,
trong vòng 20 năm qua, Việt Nam giảm nghèo khá nhanh, hàng triệu hộ gia đình đã thoát
nghèo. Tỷ lệ hộ nghèo từ chỗ chiếm 58% dân số năm 1993, đến nay chỉ còn khoảng 7,8%.
Tuy nhiên, theo kết quả giám sát từ Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội, hiện công
cuộc giảm nghèo bền vững vẫn còn rất nhiều thách thức. Trong đó, tỷ lệ tái nghèo hiện
đang ở mức cao, gần 50% hộ nghèo tập trung ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng
cao, vùng sâu, số hộ nghèo ở đô thị cũng tăng nhanh trước những cú sốc kinh tế.
Qua số liệu thống kê trên dù đánh giá tỉ lệ nghèo đói của Việt Nam bằng phương
pháp nào thì vẫn có tốc độ giảm nghèo rất nhanh, đã từng được cộng đồng quốc tế đánh
giá là quốc gia có tốc độ giảm nghèo nhanh nhất thế giới. Tuy nhiên, xét trên tổng thể Việt
Nam vẫn là một nước nghèo, có sự phân hóa giàu nghèo giữa các vùng, thành thị và nông
thôn, giữa các tầng lớp dân cư ngày càng có xu hướng gia tăng và gay gắt.
4
Thực trạng đói nghèo Việt Nam qua các giai đoạn phát triển
a. Sự bất bình đẳng trong thu nhập và mức sống giữa các vùng và các nhóm
dân cư còn cao và xu hướng tiếp tục tăng

Thực trạng đói nghèo Việt Nam qua các giai đoạn phát triển
• Ở khu vực nông thôn tỷ lệ đói nghèo giảm chậm hơn thành thị nhưng tương
đối ổn định từ 45,5% năm 1998 xuống 35,6% năm 2002 còn 27,5% năm
2004.
• Người dân chịu nhiều rủi ro trong cuộc sống, sản xuất mà chưa có các thiết
chế phòng ngừa hữu hiệu, dễ tái nghèo trở lại như thiên tai, dịch bệnh, sâu
hại, tai nạn giao thông, tai nạn lao động, thất nghiệp…
• Theo số liệu thống kê của Bộ Lao Động - Thương Binh và Xã hội đến cuối
năm 2006, cả nước có 61 huyện với số dân 2,4 triệu người thuộc 20 tỉnh có
tỷ lệ hộ nghèo trên 50%.
2.1.2 Nguyên nhân đói nghèo của Việt Nam
Nguyên nhân khách quan:
• Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu và phải trải qua một cuộc chiến tranh
lâu dài và gian khổ, cơ sở hạ tầng bị tàn phá, ruộng đồng bị bỏ hoang, mọi nguồn
lực đều suy giảm.
• Chính sách nhà nước thất bại: sau khi thống nhất đất nước việc áp dụng chính sách
tập thể hóa nông nghiệp, cải tạo công thương nghiệp và chính sách giá lương tiền
đã đem lại kết quả xấu cho nền kinh tế.
• Hình thức sở hữu: việc áp dụng chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước và tập
thể của các tư liệu sản xuất chủ yếu trong một thời gian dài đã làm thui chột động
lực sản xuất
• Trong khi dân số tăng cao, thu nhập lại giảm sút do thương nghiệp quốc doanh
thiếu hàng hóa, thương nghiệp tư nhân lụi tàn, công nghiệp, sản xuất nông nghiệp
ko hiệu quả.
• Lao động ở nông thôn dư thừa không được khuyến khích ra thành thị lao động do
chính sách quản lý bằng hộ khẩu đã dùng biện pháp hành chính để ngăn cản dân di
cư, nhập cư vào thành phố
• Thất nghiệp tăng cao trong một thời gian dài do nguồn vốn đầu tư thấp và thiếu
hiệu quả vào các công trìn thâm dụng vốn của nhà nước
Nguyên nhân chủ quan:

2000.
• Tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam giảm nhanh, từ 17,2% năm 2001 xuống 6,3%
năm 2005, bình quân mỗi năm giảm được 30.000 hộ, đạt được mục tiêu
Nghị quyết Đai hội Đảng thư VIII và IX đề ra.
Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo giai đoạn 2001-2005 đã về đích
trước thời hạn một năm. Vào cuối năm 2004, tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam chỉ còn ở mức
trên 8%, trong khi kế hoạch Đại hội Đảng IX đề ra là năm 2005 hạ tỷ lệ hộ nghèo xuống
dưới 10%. Tình trạng tái đói kinh niên cơ bản đã không còn diễn ra. Người nghèo ngày
càng được tiếp cận với các dịch vụ sản xuất và đời sống dân sinh, được vay vốn tín dụng,
chuyển giao kỹ thuật chăn nuôi và trồng trọt, xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ đất sản xuất,
đất ở, nhà ở và các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế và giáo dục và nước sinh hoạt. Bên
cạnh đó, người nghèo cũng được thụ hưởng các chương trình văn hóa, phát thanh, truyền
hình. Tổng nguồn lực huy động cho xóa đói giảm nghèo bao gồm cả chương trình 133,
143 (Chương trình xóa đói giảm nghèo và việc làm), chương trình 135 (Chương trình phát
triển kinh tế-xã hội các xã đặc biệt khó khăn) và các dự án quốc tế trong 5 năm (2001-
2005) khoảng 40.950 tỷ đồng. Riêng nguồn lực đầu tư cho chương trình mục tiêu xóa đói
7
Thực trạng đói nghèo Việt Nam qua các giai đoạn phát triển
giảm nghèo khoảng 21.000 tỷ đồng. Ngoài ra năng lực của cán bộ làm công tác xóa đói
giảm nghèo đã được tưng lên.
b. Nguyên nhân
Trước hết, đó là do việc thường xuyên nâng cao nhận thức về mục đích, ý nghĩa,
tầm quan trọng cũng như phương pháp tiếp cận giải quyết vấn đề nghèo đói cho các cấp,
các ngành và mọi người dân đặc biệt là người nghèo và xã nghèo. Xóa đói giảm nghèo
vươn lên khá giả và làm giàu không phải chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà trước hết
thuộc về từng cá nhân, gia đình, dòng họ, cộng đồng và trách nhiệm của toàn xã hội, đây
là vấn đề mấu chốt để thực hiện thành công chương trình.
Bên cạnh đó, công tác xã hội hóa hoạt động xóa đói giảm nghèo, đặc biệt là xã hội
hóa về nguồn lực, nhân lực và vật lực ngày càng được đẩy mạnh. Chính sự hợp lực này đã
tạo ra phong trào xóa đói giảm nghèo sôi động nhiều năm trong cả nước góp phần vào

ngân sách nhà nước không lớn. Trung bình nguồn ngân sách chi cho các chương trình
XDGN chỉ chiếm gần 2% ngân sách nhà nước. Cũng phải nói rằng việc trợ cấp người
nghèo đa số chỉ dừng lại ở việc “cho con cá” chứ chưa “cho cần câu” tới người nghèo. Đó
cũng là một điều dễ hiểu vì những người nghèo hiện nay chủ yếu là ở vùng sâu, vùng cao,
thiên tai bão lũ thường xuyên nên việc tạo điều kiện cho các nhà đầu tư kinh tế nhằm tạo
việc làm cho họ là một điều khó khăn.
Các cơ chế, chính sách xoá đói giảm nghèo và hỗ trợ cho người nghèo tuy được triển
khai thực hiện, song chưa đầy đủ và đồng bộ, chưa rõ ràng và minh bạch ở một số
vùng và địa phương, chưa thích ứng với điều kiện cụ thể của từng vùng, từng nhóm
người nghèo.
Việc tổ chức thực hiện các chính sách XDGN còn nhiều yếu kém. Nhà nước chưa
có chính sách phù hợp trong việc tìm kiếm thị trường đầu ra cho hàng nông sản cũng như
chưa có chính sách về giá hợp lý vẫn còn hiện tượng đầu cơ làm thiệt hại cho nền kinh tế
quốc dân trong đó có đối tượng người nghèo vốn đời sống đã rất bấp bênh. Một vấn đề
nữa đó là việc những người nghèo đa số tiêu dùng những hàng hóa không rõ nguồn gốc
ảnh hưởng tới sức khỏe. Thiếu cơ chế giám sát, kiểm tra, thanh tra hiệu quả đối với việc
thực hiện các chương trình quốc gia về xoá đói giảm nghèo thông qua các dự án lớn về
nguốn vốn. Các hiện tượng tham ô, tham nhũng đã gây thất thoát nguồn ngân sách từ
công trình, gây mất lòng tin của nhân dân và từ phía các nhà đầu tư nước ngoài về sử
dụng và quản lý nguốn vốn vay nước ngoài (ODA, vốn vay ngân hàng ADB, IMF, WB…)
Nghèo đói không chỉ dừng lại ở vấn đề về lương thực chỗ ở mà còn là về vấn đề tri
thức. Nước ta là một nước dân số trẻ cho nên số người trong độ tuổi lao động là vô
cùng đông đảo nhưng trình độ vẫn còn kém.
Cho dù ngày nay đã có rất nhiều trường đại học được mở ra và số người đi học đại
học có vẻ như ngày càng tăng nhưng chúng ta cũng mới chỉ dừng lại ở mặt số lượng còn
về mặt chất lượng lại là một vấn đế mà đến giờ vẫn chưa giải quyết được. Chúng ta vẫn tự
hào là những người Việt Nam cần cù, có năng lực nhưng trước các nhà tuyển dụng vẫn là
câu nói “Phải đào tạo lại!”.
Nghèo đói là vấn đề ở quốc gia nào cũng có không chỉ Việt Nam. Nhưng chúng ta
nên xem xét vấn đề này một cách nghiêm túc bởi lẽ nó là khởi nguồn của nhiều vấn đề.

đoàn kết”, “ Xóa nhà tạm bợ, nhà dột nát cho hộ nghèo” , “Ngày vì người
nghèo” .…
III.1.3 Giải pháp vốn
• Ưu tiên hộ chính sách nằm trong diện hộ nghèo đói vay trước.
• Cho vay vốn tín dụng ưu đãi
III.1.4 Giải pháp công tác khuyến nông
• Cần nâng cao các dịch vụ khuyến nông nhằm tạo điều kiện cho nông dân
tiếp cận với thông tin và kỹ thuật sản xuất, tiếp cận thị trường.
• Mở thêm các lớp tập huấn cho người dân, cần phát triển HTXDV đối với
từng thôn xóm.
III.1.5 Giải pháp ở hộ gia đình
10
Thực trạng đói nghèo Việt Nam qua các giai đoạn phát triển
• Đổi mới cơ cấu lao động theo hướng tăng dần tỷ trọng lao động công
nghiệp, dịch vụ và giảm dần tỷ trọng lao động nông nghiệp.
• Khai thác sử dụng hết các tiềm năng, đặc biệt là đất đai kết hợp với bảo vệ
và cải thiện môi trường.
• Nguồn lao động cần tham gia các lớp tập huấn khuyến nông, tự hoàn thiện,
nâng cao trình độ của mình thông qua các lớp học xóa mù chữ.
III.2 Kiến nghị
III.2.1 Đối với nhà nước
• Đảng và nhà nước cần quan tâm hơn nwuax đến các xã nghèo đặc biệt khó
khăn để cho người nghèo có cơ hội phát triển không chỉ trong hiện tại mà
còn hướng tới phát triển bền vững.
• Cần đẩy mạnh xã hội hóa công tác xóa đói giảm nghèo
• Có sự mở rộng về hợp tác quốc tế để thu hút nguồn lực lớn trong công tác
xóa đói giảm nghèo
III.2.2 Đối với cơ quan địa phương
• Về cơ chế chính sách: Các đào thể ban ngành, cấp lãnh đạo có lien quan
cần thực hiện các chính sách về xóa đói giảm nghèo, giúp nhười dân có kiến

đề xuất các giải pháp xóa đói giảm nghèo ở nông thôn tỉnh Hải Dương, Webside
của Sở khoa học và nghiên cứu tỉnh Hải Dương (www.haiduongdost.gov.vn).
 Trung tâm Môi trường và Phát triển Nguồn lực Cộng đồng (10/2007), Báo cáo
“Tổng quan Lâm nghiệp cộng đồng và giảm nghèo ở Việt Nam”.
13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status