Thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển từ thực tiễn huyện đảo lý sơn, tỉnh quảng ngãi - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THỊ HƢƠNG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN ĐẢO LÝ SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI

Chuyên ngành

: Chính sách công

Mã số

:

60.34.04.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS. VÕ KHÁNH VINH

HÀ NỘI, năm 2017


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CTr/HU


UBND

: Ủy ban nhân dân


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN ...................................................................6
1.1. Khái quát về chính sách phát triển kinh tế biển ...................................................6
1.2. Khái niệm, vai trò của thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển ....................7
1.3. Nội dung thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển.......................................14
1.4. Qui trình (các bước) thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển .....................17
1.5. Những yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển
Việt Nam ...................................................................................................................23
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
KINH TẾ BIỂN TẠI HUYỆN ĐẢO LÝ SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI ..............34
2.1. Những yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển tại
huyện đảo Lý Sơn, tính Quảng Ngãi .........................................................................34
2.2. Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển tại huyện
đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi....................................................................................39
2.3. Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển huyện Đảo
Lý Sơn .......................................................................................................................54
CHƢƠNG 3. TĂNG CƢỜNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
KINH TẾ BIỂN Ở NƢỚC TA HIỆN NAY ..........................................................68
3.1. Mục tiêu, quan điểm tăng cường thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển
ở nước ta ....................................................................................................................68
3.2. Phương hướng, giải pháp tăng cường thực hiện chính sách phát triển kinh tế
biển ở nước ta nói chung và huyện Lý Sơn nói riêng ...............................................69

57

2.4.

Giá trị sản xuất ngành CN-XD và giá trị sản xuất toàn
ngành

58


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia ven biển có bờ biển dài 3.260 km với diện tích 1 triệu
Km2 rộng gấp ba lần lãnh thổ trên đất liền, vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền
và quyền tài phán quốc gia của nước ta chứa đựng nhiều tài nguyên và tiềm năng
phong phú để phát triển kinh tế - xã hội. Xuất phát từ lợi ích của biển mà các nước
trong khu vực tiếp giáp Biển Đông với nước ta luôn có xu hướng cạnh tranh, tạo ra
những mâu thuẫn bất đồng trong việc tranh giành quyền chủ quyền quốc gia trên biển.
Nhận thức được vị trí, vai trò, tiềm năng của biển trong phát triển kinh tế - xã hội và
quốc phòng, an ninh nên từ năm 1993 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 03NQ/TW ngày 06/5/1993 Về một số nhiệm vụ phát triển kinh tế biển trong những năm
trước mắt, trong đó khẳng định rằng phải đẩy mạnh phát triển kinh tế biển đi đôi với
tăng cường khả năng bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia; xây dựng quốc gia Việt
Nam mạnh về biển và phát triển kinh tế biển thành một bộ phận mũi nhọn của nền
kinh tế quốc dân là một mục tiêu chiến lược, đồng thời là nhiệm vụ bức bách đang đặt
ra cho dân tộc ta trước thách thức lớn trên Biển Đông. Ngày 09 tháng 02 năm 2007
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TW về
Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, trong đó xác định phấn đấu đưa nước ta trở
thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền
chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá, làm cho đất nước giàu mạnh. Nhằm cụ thể hóa quan điểm của Đảng

tư khai thác nhưng chưa phát huy hết tiềm năng sẵn có.
Trước thực trạng trên, cấp ủy Đảng, chính quyền huyện đảo Lý Sơn đã ban
hành nhiều đề án, dự án, kế hoạch về phát triển kinh tế trong đó xác định kinh tế biển
là ngành kinh tế mũi nhọn của huyện, xong những chương trình, kế hoạch chỉ dừng lại
ở tính định hướng chưa đi sâu nghiên cứu đánh giá, phân tích thực trạng và có những
giải pháp mang tính khoa học để vận dụng vào thực tiễn, đồng thời đến nay vẫn chưa
có đề tài khoa học nghiên cứu về kinh tế biển huyện đảo Lý Sơn. Chính vì vậy, đề tài
“Thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển từ thực tiễn huyện đảo Lý Sơn, tỉnh
Quảng Ngãi” nhằm đánh giá thực trạng và đưa ra những giải pháp có tính khoa học và
khả thi để vận dụng vào quá trình quản lý, điều hành phát triển ngành kinh tế biển
2


huyện đảo Lý Sơn xứng tầm với tiềm năng hiện có.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong những năm gần đây, có một số tác giả đã đề cập đến các khía cạnh mà đề
tài nghiên cứu quan tâm. Trong số đó có:
Giải pháp phát triển bền vững nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 theo
tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng của TS. Nguyễn Văn Cường, Phó Vụ
trưởng Văn phòng Chính Phủ.
Tiếp cận Chiến lược kinh tế biển của Việt Nam của PGS. TS. Trần Đình Thiên,
Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam. Tác giả đánh giá Viêt Nam có hai lợi thế đó là:
Tiềm năng tự nhiên và vị trị địa kinh tế và địa chiến lược và đi sâu phân tích về hiện
trạng kinh tế biển và những định hình chiến lược kinh tế biển.
Về Chiến lược phát triển kinh tế biển Việt Nam trong hội nhâp quốc tế của tác
giả Phạm Ngọc Anh, Đại học Sư phạm Hà Nội.
Nhóm giải pháp phát triển kinh tế biển của TS. Hồ Văn Hoành, Phó Chủ tịch
Hội khoa học phát triển nguồn nhân lực, nhân tài Việt Nam.
Tổng cục Biển và Hải đảo với nhiệm vụ phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ
quyền biển, đảo của Tổ quốc của Nguyễn Đăng Đạo, Phó Tổng cục trưởng, Chỉ huy

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển
từ thực tiễn huyện Lý Sơn Quảng Ngãi dưới góc độ khoa học chính sách công.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về không gian: Tập trung chủ yếu về thực hiện chính sách phát triển
kinh tế biển từ thực tiễn huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
Phạm vi về thời gian: Từ năm 2005 đến 2015 và giải pháp đến năm 2020.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn vận dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành xã hội học và vận dụng
phương pháp nghiên cứu chính sách công. Đó là cách tiếp cận quy phạm chính sách
công về chu trình chính sách từ hoạch định đến xây dựng, thực hiện, đánh giá chính
sách công có sự tham gia của các chủ thể chính sách.Luận văn được thực hiện dựa trên
cơ sở lý luận và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác phát triển
kinh tế biển.
4


5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan, bao gồm các
Văn kiện, Nghị quyết, Chỉ thị, Nghị định, Quyết định của Đảng, Nhà nước, các văn
bản quy phạm pháp luật ở trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu, các
báo cáo, tài liệu thống kê liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề chính sách phát
triển kinh tế biển ở nước ta nói chung và thực tế ở Lý Sơn nói riêng.
Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, chuyên gia, phương pháp dự báo
các điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, phương pháp phân tích chiến lược phát triển.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài nghiên cứu thành công sẽ góp phần làm sáng tỏ hơn về mặt lý luận và
đóng góp vào sự hoàn thiện lý luận về thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn

nghiệp hóa, hiện đại hóa. Từ những quan điểm cơ bản của chỉ thị này, cùng với việc
tiếp tục nhấn mạnh chủ trương lớn xây dựng Việt Nam trở thành một nước mạnh về
biển, phát triển kinh tế - xã hội vùng biển, hải đảo, ven biển phải gắn kết với yêu cầu
bảo vệ đất nước. Để kinh tế biển phát triển một cách đồng bộ chúng ta cần đặt kinh tế
biển trong tổng thể kinh tế cả nước, trong quan hệ tương tác với các vùng và trong xu
thế hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới. Vì vậy, lợi ích kinh tế biển không chỉ
xuất phát từ một địa phương, một ngành mà cần được liên kết một cách khoa học sự
phát triển của các ngành trên toàn vùng, trên từng địa bàn cụ thể thành một chương
trình phát triển thống nhất. Đặc biệt, phát triển kinh tế biển phải chú trọng ngay từ đầu
sự tiến bộ xã hội của vùng biển.
Ngày 9/2/2007, BCH Trung ương Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết 09 –
NQ/TW về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020. Đây là chủ trương tổng thể
mang tính toàn diện để phát triển kinh tế biển Việt Nam trong thời gian tới.
Do đó, để thực hiện Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, trước hết cần có sự kết
hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng - an ninh, hợp tác
6


quốc tế và bảo vệ môi trường.; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển vùng biển, ven biển,
hải đảo với phát triển vùng nội địa theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Mở rộng
không gian kinh tế biển và nhất thể hóa trên phạm vi vùng biển, ven biển và hải đảo
gắn kết chặt chẽ với các vùng quy hoạch lâu nay trong đất liền. Sự phát triển các
ngành kinh tế biển được gắn kết hữu cơ với nhau trên cơ sở phát huy cao nhất lợi thế
của mỗi ngành.
Qua gần 10 năm thực hiện Nghị quyết 09-NQ/TW ngày 9-2-2007 của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng Khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, chúng ta
có thể nhận thấy ngành kinh tế biển đã có những bước phát triển đáng kể góp phần
quan trọng trong chiến lược phát triển của đất nước. Hiện nay, các ngành kinh tế biển
và liên quan đến biển đóng góp khoảng 47 - 48% GDP cả nước. Trong đó, các ngành
kinh tế biển như khai thác dầu khí, hải sản, vận tải biển và dịch vụ cảng biển, du lịch

hội. Hiện nay có nhiều các khái niệm về chính sách công trên thế giới vì các hình thái
nhà nước, hệ thống chính trị khác nhau. Ở nước ta, tồn tại cụm từ “chính sách của
Đảng và Nhà nước” vì Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội thông qua việc vạch ra các
cương lĩnh, chiến lược, các định hướng chính sách. Đây là các căn cứ chỉ đạo để nhà
nước ban hành chính sách công. Như vậy, chính sách công là một trong những công cụ
cơ bản được Nhà nước sử dụng để thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước.
Do đó, có thể định nghĩa chính sách công như sau: “Chính sách công là một tập hợp
các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể
với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề xã hội theo mục tiêu xác định
của đảng chính trị cầm quyền”
1.2.2. Khái niệm kinh tế biển
Kinh tế biển hiểu theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ các hoạt động kinh tế diễn
ra trên biển và các hoạt động kinh tế diễn ra trên đất liền nhưng trực tiếp liên quan đến
khai thác biển. Cụ thể là:
- Các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển, chủ yếu bao gồm: Kinh tế hàng hải
(vận tải biển và dịch vụ cảng biển); Hải sản (đánh bắt và nuôi trồng hải sản); Khai thác
dầu khí ngoài khơi; Du lịch biển; Làm muối; Dịch vụ tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn; và
Kinh tế đảo.
- Các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển, tuy không phải
diễn ra trên biển nhưng những hoạt động kinh tế này là nhờ vào yếu tố biển hoặc trực
tiếp phục vụ các hoạt động kinh tế biển ở dải đất liền ven biển, bao gồm: Đóng và sửa
8


chữa tàu biển ( hoạt động này cũng được xếp chung vào lĩnh vực kinh tế hàng hải);
Công nghiệp chế biến dầu, khí; Công nghiệp chế biến thuỷ, hải sản; Cung cấp dịch vụ
biển; Thông tin liên lạc biển; Nghiên cứu khoa học - công nghệ biển; Đào tạo nhân
lực phục vụ phát triển kinh tế biển; Điều tra cơ bản về tài nguyên - môi trường biển.
Từ khái niệm trên cho chúng ta thấy rằng, kinh tế biển có những đặc trưng sau
đây:

nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế:
Thời gian qua, việc triển khai thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển đã
góp phần đẩy mạnh quan hệ và hội nhập quốc tế của nước ta, đến nay nước ta có mối
quan hệ ngoại giao với 167 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó thiết lập quan hệ kinh
tế thương mại với trên 100 đối tác. Việt Nam cũng là thành viên tích cực của các tổ
chức như: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác kinh tế
Châu Á- Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức thương mại thế giới (WTO), …Các sản
phẩm thủy sản của Việt Nam đã có mặt trên nhiều thị trường lớn như: Trung Quốc,
Nga, Mỹ, Nhật, EU, …Năm 2000 Việt Nam ký Hiệp định hợp tác nghề cá với Trung
Quốc nhằm đảm bảo sự ổn định và khai thác nghề cá trên Vịnh Bắc Bộ và những cam
kết với các Quốc gia có chung biển đông.
Tuy nhiên, theo đánh giá ban đầu việc thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế
biển chưa được quán triệt sâu rộng trong hệ thống chính trị, cộng đồng các doanh
nghiệp và mọi tầng lớp nhân dân. Việc phát triển kinh tế biển trong thời gian qua chưa
quan tâm đầy đủ đến vốn đầu tư, đào tạo nhân lực, . . .chưa lồng ghép các chương trình
phòng ngừa, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ chủ quyền an ninh biển đảo.
Nhiều địa phương, các ngành, các cấp, các doanh nghiệp, cư dân ven biển còn thờ ơ
với tác động của biến đổi khí hậu đến sự phát triển kinh tế biển bền vững, chưa nhận
thức đầy đủ về ngành kinh tế biển là ngành đầu tiên chịu sự thiệt hại nặng nề do biến
đổi khí hậu và nước biển dâng.
Để phát triển kinh tế biển bền vững chúng ta cần phải tập trung nâng cao nhận
thức cho toàn xã hội về chiến lược phát triển kinh tế biển gắn với phòng ngừa, thích
ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ chủ quyền biển đảo, xem đây là ba mặt của một
vấn đề có quan hệ mật thiết với nhau. Xây dựng đề án tái cơ cấu ngành kinh tế biển,
các cơ chế, chính sách nhằm phát huy quyền chủ động của các ngành, các cấp, các địa
phương và vùng lãnh thổ, có sự quản lý tập trung của trung ương, tạo nên bước đột
phá về tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu theo hướng hiện đại, theo chiều rộng
10



11


đổi khí hậu và bảo vệ chủ quyền biển đảo.
Với sự phát triển đồng bộ và bền vững, ngành kinh tế biển sẽ giữ vai trò chủ
yếu không chỉ để đảm bảo cho nhu cầu đời sống của nhân dân, mà còn góp phần thúc
đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, góp phần
bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.
Phát triển kinh tế biển góp phần giải quyết công ăn việc làm, nâng cao đời sống
vật chất, tinh thần cho vùng nông thôn ven biển:
Việt Nam có 28 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là vùng ven biển và 12
huyện đảo. Các huyện đảo đồng thời là địa bàn chính trong xây dựng khu vực phòng
thủ và thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế biển Việt Nam. Hiện nay, nước ta có
khoảng trên 20 triệu người dân ven biển và trên các hải đảo có sinh kế trực tiếp hay
gián tiếp phụ thuộc vào nguồn lợi từ biển. Trong những năm qua, mà đặc biệt là từ khi
thực hiện Chiến lược biển Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã quan tâm đầu tư cơ sở hạ
tầng cho các địa bàn ven biển và hải đảo. Một số đảo lớn như: Côn Đảo, Phú Quốc,
Trường Sa, Phú Quý, Lý Sơn, Cồn Cỏ, Cát Bà, Bạch Long Vĩ, Vân Đồn, …đã được
đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, hệ thống giao thông, mạng lưới điện, thông tin liên lạc,
cung cấp nước ngọt, trường học, bệnh xá, bố trí lại dân cư, tham gia vào phát triển
kinh tế, nông nghiệp, du lịch, công nghiệp dầu khí có bước phát triển nhanh; bảo vệ
môi trường biển đảo bước đầu được chú trọng, đã có 16 khu bảo tồn biển và các vườn
quốc gia ven biển và hải đảo, …được công nhận và thiết lập; đồng thời đảm bảo tốt
công tác quốc phòng, an ninh; hình thành hệ thống các khu công nghiệp, các cảng
biển, cảng cá, khu du lịch từ Quảng Ninh cho đến Cà Mau, …
Tính đến nay cả nước đã có 9 cảng biển và 15 khu kinh tế ven biển được thành
lập với tổng diện tích mặt đất và mặt nước lên đến gần 700.000 ha, thu hút khoảng trên
700 dự án do nước ngoài và trong nước đầu tư, với tổng số vốn gần 40 tỷ USD và gần
350.000 tỷ đồng. Nhiều thị trấn, thị tứ, khu nghỉ dưỡng đã hình thành dọc theo chiều
dài ven biển của đất nước. Bên cạnh đó, Nhà nước đầu tư hàng ngàn tỷ đồng để hiện

phải thể hiện trong xây dựng cơ cấu kinh tế biển hợp lý; có chiến lược kinh tế đối
ngoại đúng đắn; xây dựng và hoàn thiện không ngừng hệ thống quan hệ sản xuất.
Ngày nay, hoạt động kinh tế là trung tâm, hàng đầu nhằm huy động mọi nguồn lực từ
con người đến của cải vật chất, tài nguyên thiên nhiên, để giải quyết những vấn đề bức
xúc nhất về nâng cao đời sống nhân dân, tạo ra những điều kiện vật chất, kỹ thuật quan
trọng để củng cố quốc phòng, đó là xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, xây dựng
13


lực lượng sẵn sàng đủ sức bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ thành
quả cách mạng, giữ vững và củng cố hòa bình, an ninh, ổn định trên cả nước, thúc đẩy
công cuộc xây dựng kinh tế, hiện đại hóa đất nước.
Hiện nay, có 6 nước đều tuyên bố có chủ quyền trên khu vực 2 quần đảo Trường
Sa và Hoàng Sa gồm: Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Philippines, Malaysia và
Brunei. Và đặc biệt, mới đây nhất Trung Quốc ngang nhiên hạ đặt trái phép giàn khoan
HD 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng
luật pháp quốc tế, đe dọa trực tiếp đến an ninh, an toàn hàng hải, làm ảnh đến hòa bình
trong khu vực. Với quan điểm hoà bình hữu nghị, Việt Nam chủ trương giải quyết các
tranh chấp thông qua thương lượng, đàm phán không dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực
để giải quyết vấn đề tranh chấp trên Biển Đông, đến nay Việt Nam đã ký Hiệp định về
phân định vịnh Bắc Bộ và vùng đánh cá chung với Trung Quốc, tích cực cùng các nước
ASIAN xây dựng bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông COC.
Trong quan điểm chỉ đạo của Đảng ta về Chiến lược phát triển kinh tế biển phải
gắn với bảo vệ chủ quyền quốc gia, vì thế kinh tế biển phát triển là điều kiện tạo ra cơ
sở vật chất, kỹ thuật cho khu vực ven biển, nâng cao đời sống nhân dân và góp phần
củng cố cơ sở chính trị và xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc; bên cạnh đó, sự
hiện diện của ngư dân trên các vùng biển không chỉ là để khai thác đánh bắt hải sản mà
gắn liền với đó là trách nhiệm bảo vệ chủ quyền quốc gia, là thể hiện tinh thần dân tộc
nối bước đội quân hùng binh Hoàng Sa năm xưa để bảo vệ chủ quyền vùng biển thiêng
liêng của Tổ quốc và đó cũng chính là quan điểm xây dựng nền quốc phòng toàn dân

dương lớn là Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Những điều kiện thuận lợi này là cơ
sở quan trọng để phát triển giao thông vận tải biển. Vận chuyển hàng hoá bằng đường
biển đã tăng hơn 6 lần trong giai đoạn (1995 - 2010).
Thứ hai, tăng cường hợp tác quốc tế về đào tạo, huấn luyện thuyền viên. Việt
Nam ước tính thiếu hụt khoảng 5.000 thuyền viên vào năm 2020. Để giảm thiểu sự
thiếu hụt này, nhà nước cần xây dựng Trung tâm đào tạo huấn luyện thuyền viên dựa
trên nguồn kinh phí tài trợ của nhà nước và của tư nhân, đồng thời hợp tác với nước
ngoài để đào tạo nguồn nhân lực theo tiêu chuẩn quốc tế. Bên cạnh đó, cần phát triển
dịch vụ hàng hải và hiện đại cơ sở vật chất kỹ thuật cho khâu quản lý điều hành nhằm
bảo đảm an toàn hàng hải và dịch vụ hàng hải. Phát triển thương mại biển, đảo và
vùng ven biển có trọng điểm để sớm hình thành một số trung tâm thương mại mạnh tại
một số khu vực biển. Duy trì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hải sản cao, ổn định và bền
15


vững, cải thiện cơ cấu xuất khẩu theo hướng nâng cao tỷ trọng mặt hàng chế tạo, sản
phẩm chế biến.
Thứ ba, tập trung phát triển du lịch đảo và du lịch ven biển. Du lịch và giải trí
biển là một lĩnh vực hoạt động kinh tế biển. Các hoạt động kinh tế biển đã đóng góp
giải quyết đáng kể về thu nhập cũng như giảm thất nghiệp, xoá đói nghèo, bảo đảm an
ninh quốc gia vùng biển. Du lịch biển có tiềm năng kinh doanh lớn. Vùng biển và ven
biển tập trung tới ¾ khu du lịch tổng hợp và hơn ½ khu du lịch chuyên đề nhưng
ngành du lịch biển vẫn chưa có những sản phẩm dịch vụ đặc sắc, có tính cạnh tranh
cao so với khu vực và quốc tế, chưa có khu du lịch biển tổng hợp đạt qui mô và trình độ
quốc tế. Những năm gần đây, du lịch, nghỉ dưỡng cũng như giải trí biển đã được mở
rộng đáng kể. Việt Nam có nhiều trung tâm du lịch biển quan trọng, có vị trí địa lý thuận
lợi, nằm trển tuyến du lịch quốc tế Đông Nam Á. Doanh thu du lịch biển tăng hơn 5 lần
giai đoạn (2000 – 2010), Mục tiêu năm 2020 thu hút hoảng 8-10 triệu lượt khách quốc
tế, 50 - 60 triệu lượt khách trong nước đến du lịch biển.
Thứ tư, tăng cường khai thác năng lượng, khoáng sản, thuỷ sản biển. Đẩy mạnh

có một phương pháp quản lý biển tổng hợp, đảm bảo được an ninh sinh thái và an ninh
xã hội ở vùng biển đảo và ven biển. Thêm nữa là phải thay đổi cách tư duy về quản lý
và khai thác tài nguyên biển, phải chinh phục biển và chế ngự biển khơi, có như vậy,
mục tiêu “trở thành một quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển vào năm 2020” của
Chính phủ Việt Nam mới có khả năng thành hiện thực.
1.4. Qui trình (các bƣớc) thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển
Thực hiện chính sách đóng vai trò vô cùng quan trọng trong qui trình chính sách
công. Nếu hoạch định chính sách công đã làm tốt thì việc tiếp theo là phải làm tốt
thực thi chính sách mới góp phần làm cho chính sách đạt kết quả. Vậy việc thực hiện
chính sách phát triển kinh tế biển gôm các bước sau đây:
1.4.1. Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách
Tất cả các chủ thể, cơ quan chủ trì và phối hợp xây dưng kế hoạch thực hiện
về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực, những dự kiến về cơ chế trách nhiệm của
cán bộ quản lý và công chức; các nguồn lực; về thời gian thực hiện; kiểm tra đôn đốc
thực thi chính sách phát triển kinh tế biển.
Trên cơ sở Nghị quyết số 09-NQ/TW về “Chiến lược Biển Việt Nam đến năm
2020”, trong đó xác định: “Phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm
giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo,
17


góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm cho đất nước
giàu mạnh. Xây dựng và phát triển toàn diện các lĩnh vực kinh tế, xã hội, khoa học –
công nghệ, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, làm cho đất nước giàu mạnh từ
biển, bảo vệ môi trường biển. Và tiếp tục thực hiện chủ trương phát triển kinh tế biển
được xác định trong các văn kiện trước đây của Đảng, Chiến lược phát triển kinh tế –
xã hội 10 năm (2011-2020), được Đại hội XI của Đảng (tháng 1-2011) thông qua,
nhấn mạnh: “Phát triển mạnh kinh tế biển tương xứng với vị thế và tiềm năng biển của
nước ta, gắn phát triển kinh tế biển với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ
quyền vùng biển. Phát triển nhanh một số khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển, ưu

phức tạp, khó lường, ở chừng mực nào đó, khiến cho lộ trình phát triển kinh tế biển,
đảo của nước ta chưa tương xứng với tiềm năng, chưa được như mong muốn.
Tiếp tục giải quyết những vấn đề đặt ra, không ngừng phát triển kinh tế biển,
đảo gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh:
Để phát triển kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh theo tình thần
Nghị quyết Trung ương 4 (khóa X) và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XI của Đảng, cần tập trung giải quyết thỏa đáng một số vấn đề cấp bách sau:
Thứ nhất, về tư duy và nhận thức:
Có tình trạng khiếm khuyết, hạn chế, thậm chí có phần lệch lạc trong tư duy,
trong nhận thức đối với kinh tế biển, đảo và việc phát triển kinh tế biển gắn liền với an
ninh, quốc phòng ở mức độ này hay ở mức khác không? Nếu không thì tại sao không ít
người vẫn đang suy nghĩ và cho rằng, phát triển kinh tế biển là nhiệm vụ chỉ của các
tỉnh, thành phố, huyện thị có biển hoặc của riêng các ngành như tài nguyên và môi
trường, thủy hải sản, công thương, du lịch, dầu khí…? Và, có không sự tách rời kinh tế
biển, đảo với kinh tế duyên hải, hoặc chỉ chú trọng mục tiêu phát triển kinh tế mà
buông lơi công tác an ninh, quốc phòng? Việc tiếp tục đổi mới tư duy về biển, đảo và
kinh tế biển, đảo, gắn kinh tế với quốc phòng bao gồm những vấn đề gì, chúng như thế
nào, để từ đó xác lập và thống nhất một tầm nhìn xa trông rộng, vững vàng tư tưởng
vươn ra biển lớn, gắn kết đất liền với đại dương, để xây dựng và phát triển văn hóa
biển, đảo – văn hóa hướng ra đại dương trong cả cộng đồng và mỗi con người nhằm
phát triển một cách bền vững và ổn định.
Thứ hai, về quy hoạch:
Muốn phát triển toàn diện, đồng thời có chiều sâu và hiệu quả, bền vững, nhất
thiết phải làm tốt công tác quy hoạch bảo đảm cho sự phát triển một cách chủ động.
19


Nhưng tại sao vẫn còn tình trạng phân tán, thậm chí khép kín, biệt lập giữa các ngành
trong tỉnh, các địa phương, dù hầu như tỉnh ven biển nào cũng định hướng, quy hoạch,
phác thảo chương trình, mô hình riêng của mình về xây dựng cảng nước sâu, về nhà

Thứ năm, giải quyết hiệu quả vấn đề an sinh xã hội:
An sinh xã hội cần được đặt ở vị trí ngang tầm vừa là nền tảng, vừa là mục tiêu
và động lực đối với lộ trình hướng ra biển lớn hiệu quả và gìn giữ sự bình yên của đại
dương theo hướng kết hợp hữu cơ kinh tế biển, đảo với kinh tế duyên hải; phát triển
kinh tế kết hợp với củng cố quốc phòng, an ninh.
Việc có thể làm ngay là, phát triển mạnh khai thác thủy hải sản với hướng ưu
tiên tập trung khai thác vùng biển khơi vừa phát triển kinh tế biển, đảo vừa tham gia
bảo vệ chủ quyền an ninh trên vùng biển, trong đó chú trọng mở rộng năng lực đánh
bắt xa bờ, hoàn thiện và mở rộng hệ thống kết cấu hạ tầng và dịch vụ hậu cần nghề cá,
tạo điều kiện cho ngư dân bám biển dài ngày bằng các chính sách hỗ trợ tín dụng, hỗ
trợ năng lực sản xuất thiết thực.
Đổi mới chính sách đầu tư, trước hết là đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, chính
sách tín dụng, hỗ trợ giá cả một cách cụ thể, hiệu quả, để đồng bào diêm dân khắc
phục khó khăn, nỗ lực sản xuất. Tiếp tục xây dựng chương trình phát triển du lịch –
dịch vụ, nhất là du lịch ven biển, hải đảo, tăng cường hợp tác liên doanh ở mọi cấp độ,
mở rộng thị trường tiêu thụ nội địa và xuất khẩu, thu hút nhiều lao động, tạo thêm
nhiều việc làm. Chú trọng phát triển công tác giáo dục – đào tạo, y tế cơ sở ở các vùng
sâu, vùng xa, vùng hải đảo.
Tăng cường sự gắn bó giữa ngư dân, diêm dân, các tầng lớp cư dân vùng biển
với các lực lượng vũ trang, trực tiếp là Bộ đội Biên phòng để giúp nhau sản xuất, nâng
cao đời sống văn hóa, tạo dựng thế trận lòng dân vững chắc bảo vệ vùng biển, đảo của
Tổ quốc.
1.4.2. Về thông tin, tuyên truyền chính sách
Các cơ quan truyền thông tiếp tục đẩy mạnh công tác truyền thông về các chủ
trương của Đảng, chính sách của nhà nước đối với việc thực hiện chính sách phát triển
kinh tế biển nâng cao nhận thức, xây dựng năng lực truyền thông cho đội ngũ phóng
viên, báo chí, trong đó tập trung đi sâu vào năng lực truyền thông về các cơ chế chính
sách việc thực hiện chính sách cho ngư dân và nhân dân. Bên cạnh đó, cần chú ý đến
những chương trình, chiến dịch truyền thông mang tính dài hạn, đồng thời chú trọng
nêu gương tốt, xây dựng các gương điển hình trong công việc, là người lãnh đạo giỏi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status