VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
DƯƠNG TRUNG VIỆT
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VĂN HÓA
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN ĐẢO LÝ SƠN,
TỈNH QUẢNG NGÃI
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số
: 60.34.04.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRẦN ĐÌNH HẢO
HÀ NỘI, năm 2016
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này là kết quả tiếp thu kiến thức của tôi sau hai năm theo học
chương trình đào tạo Thạc sỹ của Học viện Khoa học xã hội. Trước tiên tôi
xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy giáo, cô giáo trong khoa Chính sách
công và các thầy cô giáo trong và ngoài Học viện Khoa học xã hội đã hết lòng
giúp đỡ, truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong quá trình học tập
tại trường.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Đình Hảo,
1.2. Vấn đề chính sách phát triển văn hóa ...................................................... 14
1.3. Mục tiêu, chủ thể, công cụ và giải pháp chính sách phát triển văn hóa .. 19
1.4. Thể chế chính sách phát triển văn hóa ..................................................... 30
1.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách phát triển văn hóa ...................... 37
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT
TRIỂN VĂN HÓA TẠI HUYỆN ĐẢO LÝ SƠN, TỈNH QUẢNG
NGÃI .............................................................................................................. 42
2.1. Khái quát về lịch sử, văn hóa, kinh tế, xã hội của huyện đảo Lý Sơn ..... 42
2.2. Thực trạng thực hiện chính sách phát triển văn hoá tại huyện đảo Lý
Sơn................................................................................................................... 46
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TRONG THỜI GIAN TỚI .. 60
3.1. Mục tiêu chính sách phát triển văn hóa tại huyện đảo Lý Sơn trong
thời gian tới ..................................................................................................... 60
3.2. Phương hướng phát triển về văn hóa ở huyện đảo Lý Sơn...................... 65
3.3. Giải pháp thực hiện chính sách phát triển văn hóa tại huyện đảo Lý
Sơn trong thời gian tới .................................................................................... 68
KẾT LUẬN .................................................................................................... 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lý Sơn là một huyện đảo nằm trên vùng biển Đông Bắc tỉnh Quảng
Ngãi, trong phạm vi 15o32’04’’ đến 15o38’14’’vĩ độ Bắc và 109o05’04’’ đến
109o14’12’’ kinh độ Đông. Với đặc thù là huyện đảo nằm án ngữ trên tuyến
đường từ Bắc vào Nam, là con đường ra Biển Đông của khu vực kinh tế trọng
điểm miền Trung qua cửa khẩu Dung Quất, là một trong những của ngõ ra
biển của các tuyến hành lang Đông - Tây nối với tuyến hàng hải quốc tế qua
Biển Đông. Tuy là một đảo nhỏ nhưng Lý Sơn có vị trí chiến lược quan trọng
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập toàn cầu, sự bùng nổ về công
nghệ thông tin, … thì những thách thức mới trong phát triển văn hóa đang đặt
ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết, nhằm đảm bảo giữ gìn và phát huy bản
sắc văn hóa của huyện đảo Lý Sơn nói riêng và của Việt Nam nói chung.
Từ những thành công và cả những hạn chế trong thực tiễn phát triển
văn hóa của Lý Sơn, đề tài sẽ làm sáng tỏ hơn về mặt lý luận, đề ra các mục
tiêu, phương hướng và giải pháp phát triển văn hóa ở Lý Sơn nói riêng và
nước ta nói chung.
Với những lý do đó, tác giả chọn đề tài nghiên cứu: “Chính sách phát
triển văn hóa từ thực tiễn huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi” để làm luận
văn tốt nghiệp cao học chính sách công.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây, có nhiều công trình nghiên cứu Lý Sơn từ
nhiều góc độ về di sản vật thể, phi vật thể, lịch sử, du lịch… Nhưng đến nay
vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ và toàn diện về chính sách phát
triển văn hóa ở huyện đảo Lý Sơn. Đối với Lý Sơn, đã có những công trình,
hội thảo, khảo cứu về văn hóa, lịch sử, du lịch như sau:
2
- Một số nghi lễ, phong tục về Hải đội Hoàng Sa trên biển đảo Lý Sơn,
Quảng Ngãi, của Dương Thị Thanh Huyền (2011), Đề tài tốt nghiệp, Hà Nội.
- Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa, của Nguyễn Nhã (1992), Luận án Tiến sĩ, Đại học Quốc gia Hồ
Chí Minh. Tác giả nghiên cứu về lịch sử hình thành đảo Hoàng Sa và Trường
Sa, về việc ra đời đội Hoàng Sa tại Lý Sơn.
- Lý Sơn - Đảo du lịch lí tưởng, của Lê Trọng chủ biên (2007), Nhà
xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
- Chính sách phát triển du lịch từ thực tiễn huyện đảo Lý Sơn, của
Nguyễn Hồng Phong (2014), Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ, Hà Nội.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận liên quan đến chính sách phát triển
văn hóa.
- Đánh giá, phân tích thực trạng chính sách phát triển văn hóa tại huyện
đảo Lý Sơn trong thời gian qua.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách phát triển văn
hóa trong thời gian đến.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề liên quan đến chính sách
phát triển văn hóa ở huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: huyện Đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
- Phạm vi về thời gian: từ năm 1998 đến 2015 và định hướng đến năm
2020.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận: Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp so
4
sánh; thống kê, điều tra, khảo sát thực tế; phân tích, tổng hợp xử lý thông tin
nhằm minh chứng cho những luận điểm của Luận văn.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập thông tin: Phân tích và tổng hợp, được sử dụng
để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến
đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, Nghị quyết, Quyết định của
Đảng, Nhà nước, bộ ngành ở Trung ương và địa phương; các công trình
nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của chính quyền, ban ngành đoàn
thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề chính sách
phát triển văn hóa ở nước ta nói chung và thực tế huyện đảo Lý Sơn nói riêng.
Việt Nam.
Chương 2. Thực trạng thực hiện chính sách phát triển văn hóa tại
huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
Chương 3. Phương hướng, giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển
văn hóa trong thời gian tới
6
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
VĂN HÓA Ở VIỆT NAM
1.1. Các khái niệm văn hóa, chính sách và chính sách phát triển
văn hóa
1.1.1. Khái niệm văn hóa
Năm 1952, A.L. Kroeber và Kluckhohn xuất bản quyển sách Culture, a
critical review of concept and definitions, trong đó tác giả đã trích lục khoảng
160 định nghĩa về văn hóa do các nhà khoa học đưa ra ở nhiều nước khác
nhau. Điều này cho thấy, khái niệm “Văn hóa” rất phức tạp. [22]
“Điều đặc biệt là các định nghĩa ấy có xu hướng tăng dần theo thời
gian. Chẳng hạn, theo Kroeber và Kluckholn, số lượng định nghĩa về khái
niệm văn hóa xuất hiện, từ năm 1871 đến 1920, là sáu; trong thập niên 1920,
là 22; trong thập niên 1930, là 35; còn trong thập niên 1940, là một trăm.
Theo chiều hướng phát triển ấy, người ta có thể đoán số lượng các định nghĩa
mới về văn hóa kể từ lúc Kroeber và Kluckhohn xuất bản công trình nghiên
cứu của họ hẳn còn nhiều hơn nữa. Giới nghiên cứu thường sắp xếp các định
nghĩa ấy theo một số khuynh hướng chính như sau:
Theo đề tài (topical approaches): nhìn văn hóa theo từng phạm trù như
tôn giáo, ẩm thực, văn học, điêu khắc, kiến trúc, v.v...
Theo lịch sử (historical approaches): nhìn văn hóa như một truyền
uống và các phong tục tập quán khác; cuối cùng, dần dần hình thành các sản
phẩm văn hóa như văn học, âm nhạc, nghệ thuật, văn hóa dân gian, v.v...”[19]
Theo cựu Tổng Giám đốc UNESCO (1987 - 1999) Federico Mayor đã
nêu: “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sống động mọi mặt
của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ
8
cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành
một hệ thống các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó
từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình”.
Theo tuyên bố của UNESCO năm 1982 về những chính sách văn hóa
tại Hội nghị quốc tế do UNESCO chủ trì từ ngày 26 tháng 7 đến ngày 6 tháng
8 năm 1982 tại Mêhicô:
- Văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ
và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người
trong xã hội.
- Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những
quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và
những tín ngưỡng. Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản
thân. Chính văn hóa đã làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặt biệt
nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách có đạo lý. Chính
nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình
là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản
thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những
công trình mới mẻ, những công trình vượt trội bản thân.
Theo Trần Ngọc Thêm “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật
chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động
thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã
hội”,.. [21]
thể những thực hành xã hội hữu thức và có suy tính kỹ về những can thiệp hay
không can thiệp của Nhà nước vào các hoạt động văn hóa nhằm vào việc đáp
ứng nhu cầu văn hóa của nhân dân, bằng cách sử dụng tối ưu tất cả những
nguồn vật chất và nhân lực, mà một xã hội nào đó sắp đặt vào một thời điểm
thích hợp”.
10
Các chính sách văn hóa đều là các thực hành Nhà nước dựa trên các
nguồn lực về tài chính, vật lực, nhân lực trong những điều kiện có thể có của
thời điểm đó. Các tổ chức văn hóa dựa vào các nguồn lực này để triển khai
các hoạt động thực thi chính sách.
Vì vậy, để can thiệp vào văn hóa Nhà nước cần có những công cụ khác
nhau gồm: luật pháp và các phương pháp hành chính; ngân sách và hệ thống
thuế, trong đó, các bộ luật, luật, văn bản pháp quy; cách thức đầu tư từ ngân
sách, hệ thống thuế là những công cụ quan trọng nhất để quản lý, điều hành
sự phát triển của văn hóa theo mục tiêu đã xác định.
Trong bối cảnh Việt Nam, khái niệm chính sách văn hóa đã được xác
định dựa trên các quan niệm về văn hóa, về vai trò của văn hóa trong đấu
tranh giành độc lập và phát triển đất nước, xây dựng con người mới xã hội
chủ nghĩa. Xác định được văn hóa là một trong những trụ cột trong công cuộc
đấu tranh dành độc lập dân tộc và xây dựng đất nước.
Hiện nay, Đảng đã xác định phát triển kinh tế phải đi đôi với phát triển
kinh tế là chủ trương rất đúng đắn và phù hợp. Vì như chúng ta đều biết, phát
triển văn hóa và phát triển kinh tế có mối liên hệ bản chất nhưng không phải
là đồng nhất. Đời sống văn hóa có sự phát triển độc lập tương đối. Thay đổi
kinh tế sẽ làm thay đổi văn hóa, song văn hóa cũng có tác động tích cực hoặc
tiêu cực đến sự phát triển kinh tế. Một nền văn hóa chưa có cơ chế phát triển
những năng lực tiềm tàng của cá nhân, chưa có cơ chế hỗ trợ mạnh mẽ cho
thương mại, tiềm ẩn rất nhiều thành kiến và lối sống tiểu nông... chắc chắn sẽ
bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế - xã
hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội”. [4]
Theo nghĩa rộng về văn hóa được nhiều nhà nghiên cứu về văn hóa tán
thành thì Văn hóa là hệ thống các giá trị vật chất, tinh thần do lao động của
con người sáng tạo ra, được cộng đồng khẳng định, tích lũy lại, tạo ra bản sắc
12
riêng của từng tộc người, từng xã hội. Trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa
VIII, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định Văn hóa Việt Nam là tổng thể
những giá trị vật chất và tinh thần “qua hàng nghìn năm lao động sáng tạo,
đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt
Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thụ tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới
để không ngừng hoàn thiện mình. Văn hoá Việt Nam đã hun đúc nên tâm
hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc”.
Qua đó có thể xây dựng khái niệm về chính sách phát triển văn hóa
chung phù hợp với đặc điểm của Việt Nam như sau “Chính sách phát triển
văn hóa là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước
nhằm lựa chọn các mục tiêu, công cụ chính sách và giải pháp để giải quyết
các vấn đề có liên quan đến phát triển văn hóa theo các mục tiêu đã xác định
trên cơ sở vận dụng các điều kiện vật chất và tinh thần sẵn có của xã hội”.
Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, cùng với quá trình đặt trọng tâm vào
đổi mới về kinh tế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam
đã xác định đường lối xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc. Quan điểm này đánh dấu sự phát triển tư duy lý luận của Đảng, đồng
thời cũng là kết quả tổng kết thực tiễn xây dựng và phát triển văn hóa Việt
Nam trong suốt quá trình lãnh đạo của Đảng trong 85 năm qua.
Nhận thức toàn diện và sâu sắc về phương hướng, đặc trưng, nhiệm vụ
và các giải pháp để xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
lĩnh vực nào đó của xã hội là quan trọng và mang tính quyết định sự thành
công của chính sách. Tuy nhiên cũng cần có sự tham gia của xã hội dân sự
trong thực hiện chính sách của Nhà nước
Các thay đổi lớn của xã hội đều có nguồn gốc từ sự thay đổi chính sách,
mở đường cho những thể chế mới đi vào cuộc sống. Công cuộc đổi mới của
14
Việt Nam từ năm 1986 đã là chứng minh cho sự đi trước của chính sách trong
sự phát triển của đất nước, khắc phục được khủng hoảng kinh tế - xã hội, huy
động và phát huy được nguồn lực của xã hội, giải quyết được các xung đột,
từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống, giải quyết được các vấn đề an sinh
xã hội. Đồng thời coi trọng và phát triển văn hóa phục vụ đời sống tinh thần
của nhân dân, xem văn hóa là động lực cho sự phát triển. Vì các chính sách
văn hóa đã thể hiện được các vai trò sau:
Một là, định hướng phát triển cho toàn bộ đời sống văn hóa hay từng
lĩnh vực của văn hóa nghệ thuật.
Hai là, điều hòa các mâu thuẫn, các vấn đề phát sinh mang tính tiêu cực
trong quá trình phát triển văn hóa.
Ba là điều tiết sự phát triển bằng các công cụ chính sách được thể hiện
được tính minh bạch, công khai và hệ thống các cơ quan công quyền về văn
hóa hoạt động có hiệu lực và hiệu quả.
Bốn là, thể hiện các ưu tiên trong phát triển thông qua ưu tiên đầu tư
cho mỗi lĩnh vực trong từng thời kỳ, thông qua tài trợ của Nhà nước, các
chính sách thuế, ưu đãi và hỗ trợ các tổ chức, cá nhân về phí, lệ phí đối với
các hoạt động trong lĩnh vực văn hóa.
Năm là, tập trung các nguồn lực cho phát triển văn hóa bằng các
chương trình, kế hoạch và dự án phát triển của từng giai đoạn, của mỗi lĩnh
vực văn hóa không dàn trải và có định hướng phù hợp với đặc thù của từng
dân tộc, từng vùng, miền.
giữa Nhà nước và xã hội dân sự.
1.2.3. Các loại chính sách văn hóa
- Xây dựng con người, lối sống văn hóa: nhằm xây dựng con người
toàn diện, có đủ phẩm chất (về tư tưởng, đạo đức, lối sống và nhân cách văn
hóa) đáp ứng yêu cầu thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội
16
nhập quốc tế theo những chuẩn mực nhất định kết hợp các chuẩn mực riêng
của dân tộc và của thế giới.
- Xây dựng đời sống văn hóa và môi trường văn hóa lành mạnh: có
quan hệ chặt chẽ với phát triển con người một cách toàn diện: do đó cần xác
lập các thể chế dân chủ ở cơ sở, khuyến khích và tạo điều kiện cho mọi người
dân được tổ chức và tham gia các sinh hoạt văn hóa cộng đồng; hình thành
truyền thống xã hội học tập; giáo dục sức khỏe cộng đồng, lối sống thân thiện
và bảo vệ môi trường thiên nhiên, môi trường sinh thái; thực hiện nghiêm
pháp luật, phòng chống tham nhũng, ngăn chặn và trấn áp tội phạm, tệ nạn xã
hội và những hành vi vi phạm pháp luật, gìn giữ kỷ cương và cuộc sống yên
bình của nhân dân gắn với những hoạt động xây dựng đời sống văn hóa với
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với từng khu vực, từng vùng,
từng dân tộc, tôn giáo; xây dựng cộng đồng văn hóa, gia đình văn hóa. Đồng
thời, hoạt động văn hóa phải góp phần thiết thực vào việc đảm bảo an ninh,
trật tự xã hội; củng cố khối đại đoàn kết dân tộc; giáo dục nhân cách văn hóa;
nâng cao mức hưởng thụ văn hóa cho nhân dân, ... góp phần thực hiện mục
tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
- Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc và dân tộc thiểu số: Tập
trung nghiên cứu, sưu tầm, gắn với bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa và văn hóa phi vật thể; các loại hình nghệ thuật cổ truyền đặc sắc, văn
hóa dân gian của từng địa phương, từng vùng văn hóa, từng vùng dân tộc;
nghề thủ công truyền thống, lễ hội tiêu biểu, kho tàng Hán Nôm. Kết hợp hài
hòa việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa với các hoạt động phát
thời đại. Qua đó, giới thiệu, trao đổi và phổ biến sâu rộng những tác phẩm văn
học, nghệ thuật mang đậm bản sắc, tâm hồn, cốt cách của người Việt Nam với
các nước. Tuy nhiên cũng cần ngăn chặn, loại bỏ những ảnh hưởng tiêu cực,
mặt trái của toàn cầu hóa đối với văn hóa nước ta, nhất là thông qua mạng
18
Internet.
- Hoàn thiện hệ thống thể chế và thiết chế văn hóa. Đây là yêu cầu rất
quan trọng trong phát triển văn hóa, do đó, cần xây dựng, bổ sung, hoàn thiện
hệ thống các văn bản pháp luật và cơ chế, chính sách về văn hóa, nghệ thuật
một cách toàn diện, đồng bộ trên mọi lĩnh vực của đời sống văn hóa phù hợp
với đường lối của Đảng, Nhà nước và thực tiễn phát triển của đất nước và với
những cam kết quốc tế; Thực tiễn đồng bộ, tạo được bước chuyển biến rõ rệt
trong công tác cải cách hành chính, chấn chỉnh lề lối và đổi mới phương thức
làm việc của các cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ làm công tác quản lý về
văn hóa. Đầu tư xây dựng đồng bộ và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt
động của các thiết chế văn hóa cộng đồng.
1.3. Mục tiêu, chủ thể, công cụ và giải pháp chính sách phát triển
văn hóa
1.3.1. Mục tiêu phát triển văn hóa
1.3.1.1. Mục tiêu chung
Với vai trò quan trọng của văn hóa đối với sự phát triển của xã hội
đồng thời là mục tiêu của sự phát triển. Vì mọi sự phát triển đều do con người
quyết định mà văn hóa thể hiện trình độ vun đắp ngày càng cao các giá trị,
chuẩn mực của xã hội trong từng giai đoạn phát triển, qua đó văn hóa khơi
dậy và nhân lên mọi tiềm năng sáng tạo của con người, huy động sức mạnh
nội sinh to lớn trong con người đóng góp vào sự phát triển xã hội, đây vừa là
mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển.
Trước đây, để phát triển kinh tế, người ta thường nhấn mạnh và khai
mực và bản sắc văn hóa Việt Nam.
Nhận thức sâu sắc giá trị của văn hóa trong quá trình phát triển, Đảng ta
xác định tiến hành đồng bộ và gắn kết chặt chẽ ba lĩnh vực: Phát triển kinh tế
là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt cùng
20
với việc xây dựng văn hóa, nền tảng tinh thần của xã hội nhằm tạo nên sự
phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững của đất nước. Trong đó, mục tiêu
chung phát triển văn hóa là “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam
phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân
tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh
thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát
triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. [6]
1.3.1.2. Mục tiêu cụ thể
Trên cơ sở mục tiêu chung về phát triển văn hóa con người Việt Nam
trong thời gian đến, để hiện thực hóa mục tiêu chung cần định hướng một số
mục tiêu cụ thể.
Một là, phát triển văn hóa là xây dựng con người Việt Nam phát triển
toàn diện theo các chuẩn mực văn hóa và con người Việt Nam, không chỉ tạo
môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực
sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức
tuân thủ pháp luật; đề cao tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, cư xử, ứng xử,
lương tâm, trách nhiệm của mỗi người với bản thân, gia đình, cộng đồng, xã
hội và đất nước, mà còn phải gắn liền với giới tính, với các tầng lớp xã hội,
các khu vực dân cư, các hoạt động nghề nghiệp, văn hóa nông nghiệp, văn
hóa công nghiệp, văn hóa công sở, văn hóa doanh nghiệp, văn hóa gia đình…
mà phải gắn với việc tăng trưởng, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, nhân
ca cho mọi thành viên trong xã hội; tìm kiếm, nuôi dưỡng các tài năng xuất