Luận văn Thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển từ thực tiễn huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi - Pdf 42

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia ven biển có bờ biển dài 3.260 km với diện tích 1 triệu
Km2 rộng gấp ba lần lãnh thổ trên đất liền, vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền
và quyền tài phán quốc gia của nước ta chứa đựng nhiều tài nguyên và tiềm năng
phong phú để phát triển kinh tế - xã hội. Xuất phát từ lợi ích của biển mà các nước
trong khu vực tiếp giáp Biển Đông với nước ta luôn có xu hướng cạnh tranh, tạo ra
những mâu thuẫn bất đồng trong việc tranh giành quyền chủ quyền quốc gia trên biển.
Nhận thức được vị trí, vai trò, tiềm năng của biển trong phát triển kinh tế - xã hội và
quốc phòng, an ninh nên từ năm 1993 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 03NQ/TW ngày 06/5/1993 Về một số nhiệm vụ phát triển kinh tế biển trong những năm
trước mắt, trong đó khẳng định rằng phải đẩy mạnh phát triển kinh tế biển đi đôi với
tăng cường khả năng bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia; xây dựng quốc gia Việt
Nam mạnh về biển và phát triển kinh tế biển thành một bộ phận mũi nhọn của nền
kinh tế quốc dân là một mục tiêu chiến lược, đồng thời là nhiệm vụ bức bách đang đặt
ra cho dân tộc ta trước thách thức lớn trên Biển Đông. Ngày 09 tháng 02 năm 2007
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TW về
Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, trong đó xác định phấn đấu đưa nước ta trở
thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền
chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá, làm cho đất nước giàu mạnh. Nhằm cụ thể hóa quan điểm của Đảng
về chiến lược biển, Tỉnh ủy Quảng Ngãi đã ban hành Chương trình hành động số 15CTr/TU ngày 29/6/2007, trong đó xác định mục tiêu tổng quát là “Phấn đấu đến năm
2020, đưa tỉnh ta trở thành một trong các tỉnh mạnh về biển, góp phần bảo vệ vững
chắc chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển và đảo”. Phát huy tiềm năng lợi thế sẵn
có, trên cơ sở chương trình hành động số 15 – CTr/ TU của tỉnh ủy Quảng Ngãi, huyện
Lý Sơn đã xây dựng và triển khai kế hoạch để thực hiện chương trình hành động. Với
mục tiêu kinh tế biển là ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương trong thời gian đến.
Huyện đảo Lý Sơn có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh, là
1


đảo tiền tiêu trong khu vực phòng thủ của tỉnh Quảng Ngãi. Trong những năm qua,



huyện đảo Lý Sơn xứng tầm với tiềm năng hiện có.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong những năm gần đây, có một số tác giả đã đề cập đến các khía cạnh mà đề
tài nghiên cứu quan tâm. Trong số đó có:
Giải pháp phát triển bền vững nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 theo
tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng của TS. Nguyễn Văn Cường, Phó Vụ
trưởng Văn phòng Chính Phủ.
Tiếp cận Chiến lược kinh tế biển của Việt Nam của PGS. TS. Trần Đình Thiên,
Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam. Tác giả đánh giá Viêt Nam có hai lợi thế đó là:
Tiềm năng tự nhiên và vị trị địa kinh tế và địa chiến lược và đi sâu phân tích về hiện
trạng kinh tế biển và những định hình chiến lược kinh tế biển.
Về Chiến lược phát triển kinh tế biển Việt Nam trong hội nhâp quốc tế của tác
giả Phạm Ngọc Anh, Đại học Sư phạm Hà Nội.
Nhóm giải pháp phát triển kinh tế biển của TS. Hồ Văn Hoành, Phó Chủ tịch
Hội khoa học phát triển nguồn nhân lực, nhân tài Việt Nam.
Tổng cục Biển và Hải đảo với nhiệm vụ phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ
quyền biển, đảo của Tổ quốc của Nguyễn Đăng Đạo, Phó Tổng cục trưởng, Chỉ huy
trưởng Ban CHQS Tổng cục.
Bài viết của TS. Tạ Quang Ngọc - Nguyên Bộ trưởng Bộ thủy sản Việt Nam “
Để Việt nam sớm trở thành mốt quốc gia mạnh về biển và giàu lên từ biển” trong Tạp
chí Cộng sản số 777, tháng 7/2007.
Và còn nhiêu công trình nghiên cứu khác liên quan đến kinh tế biển, song trong
pham vi nghiên cứu tác giả đã tiếp cận và tham khảo các công trình nghiên cứu nhưng
chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu vấn đề thực hiện chính sách phát triển kinh tế
biển từ thực tiễn Huyện đảo Lý Sơn. Xuất phát từ lý do trên tôi chọn đề tài này làm
luận văn thạc sĩ của mình, đề tài luân văn thực hiện có sự kế thừa, phát triển những kết
quả thực hiện trước đó để đánh giá, phân tích, từ đó đề xuất ra các giải pháp phù hợp
với tình hình thực tế của địa phương trong những năm tới.

sách công có sự tham gia của các chủ thể chính sách.Luận văn được thực hiện dựa trên
cơ sở lý luận và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác phát triển
kinh tế biển.
4


5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan, bao gồm các
Văn kiện, Nghị quyết, Chỉ thị, Nghị định, Quyết định của Đảng, Nhà nước, các văn
bản quy phạm pháp luật ở trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu, các
báo cáo, tài liệu thống kê liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề chính sách phát
triển kinh tế biển ở nước ta nói chung và thực tế ở Lý Sơn nói riêng.
Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, chuyên gia, phương pháp dự báo
các điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, phương pháp phân tích chiến lược phát triển.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài nghiên cứu thành công sẽ góp phần làm sáng tỏ hơn về mặt lý luận và
đóng góp vào sự hoàn thiện lý luận về thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài nghiên cứu thành công sẽ là cơ sở khoa học để áp dụng vào quá trình
hoạch định chính sách và đề ra biện pháp phát triển kinh tế biển tại huyện Đảo Lý
Sơn; đồng thời là tài liệu tham khảo cho những người quan tâm đến vấn đề thực hiện
chính sách phát triển kinh tế biển.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba
chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển
Chương 2: Thực trạng thực hiện kinh tế biển tại huyện đảo Lý Sơn tỉnh Quảng
Ngãi
Chương 3: Tăng cường thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển ở nước ta

NQ/TW về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020. Đây là chủ trương tổng thể
mang tính toàn diện để phát triển kinh tế biển Việt Nam trong thời gian tới.
Do đó, để thực hiện Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, trước hết cần có sự kết
hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng - an ninh, hợp tác
6


quốc tế và bảo vệ môi trường.; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển vùng biển, ven biển,
hải đảo với phát triển vùng nội địa theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Mở rộng
không gian kinh tế biển và nhất thể hóa trên phạm vi vùng biển, ven biển và hải đảo
gắn kết chặt chẽ với các vùng quy hoạch lâu nay trong đất liền. Sự phát triển các
ngành kinh tế biển được gắn kết hữu cơ với nhau trên cơ sở phát huy cao nhất lợi thế
của mỗi ngành.
Qua gần 10 năm thực hiện Nghị quyết 09-NQ/TW ngày 9-2-2007 của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng Khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, chúng ta
có thể nhận thấy ngành kinh tế biển đã có những bước phát triển đáng kể góp phần
quan trọng trong chiến lược phát triển của đất nước. Hiện nay, các ngành kinh tế biển
và liên quan đến biển đóng góp khoảng 47 - 48% GDP cả nước. Trong đó, các ngành
kinh tế biển như khai thác dầu khí, hải sản, vận tải biển và dịch vụ cảng biển, du lịch
biển… đóng góp khoảng 20-22% GDP cả nước. Với tốc độ phát triển như hiện nay, dự
báo đến năm 2020 kinh tế biển đóng góp khoảng 53 – 55% GDP, 55 – 60% kim ngạch
xuất khẩu của cả nước, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kể đời
sống của nhân dân vùng biển và ven biển.
Để đảm bảo tính đồng bộ và bền vững trong phát triển kinh tế biển, Chính phủ
đã ban hành và phê duyệt nhiều nghị quyết và quyết định như: Một số giải pháp cấp
bách trong quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường biển; Đề án đẩy mạnh công
tác tuyên truyền và quản lý bảo vệ và phát triển bền vững biển và hải đảo; Quy hoạch
phát triển kinh tế đảo Việt Nam đến năm 2020; … và gần đây, ngày 06/9/2013 Thủ
tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1570/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược khai
thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển đến năm 2020, tầm nhìn

Kinh tế biển hiểu theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ các hoạt động kinh tế diễn
ra trên biển và các hoạt động kinh tế diễn ra trên đất liền nhưng trực tiếp liên quan đến
khai thác biển. Cụ thể là:
- Các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển, chủ yếu bao gồm: Kinh tế hàng hải
(vận tải biển và dịch vụ cảng biển); Hải sản (đánh bắt và nuôi trồng hải sản); Khai thác
dầu khí ngoài khơi; Du lịch biển; Làm muối; Dịch vụ tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn; và
Kinh tế đảo.
- Các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển, tuy không phải
diễn ra trên biển nhưng những hoạt động kinh tế này là nhờ vào yếu tố biển hoặc trực
tiếp phục vụ các hoạt động kinh tế biển ở dải đất liền ven biển, bao gồm: Đóng và sửa
8


chữa tàu biển ( hoạt động này cũng được xếp chung vào lĩnh vực kinh tế hàng hải);
Công nghiệp chế biến dầu, khí; Công nghiệp chế biến thuỷ, hải sản; Cung cấp dịch vụ
biển; Thông tin liên lạc biển; Nghiên cứu khoa học - công nghệ biển; Đào tạo nhân
lực phục vụ phát triển kinh tế biển; Điều tra cơ bản về tài nguyên - môi trường biển.
Từ khái niệm trên cho chúng ta thấy rằng, kinh tế biển có những đặc trưng sau
đây:
- Kinh tế biển là một ngành kinh tế tổng hợp, là một bộ phận mũi nhọn của nền
kinh tế quốc dân.
- Kinh tế biển luôn gắn liền với nguồn tài nguyên thiên nhiên trên biển như các
hoạt động đánh bắt, khai thác thủy sản, khai thác dầu khí, du lịch, vận tải, …
- Kinh tế biển phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, Việt Nam là quốc gia nhiệt đới
nằm ở cực Đông Nam bán đảo Đông Dương nên trung bình hàng năm có khoảng 5 - 6
cơn bão và 2 - 3 ấp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến Việt Nam. Điều này đã tác động rất
lớn đến hoạt động kinh tế biển.
- Kinh tế biển là ngành kinh tế chủ yếu khai thác các nguồn tài nguyên từ biển
nên có sự tác động đến môi trường sinh thái biển, như các hoạt động đánh bắt thủy
sản, khai thác

Tuy nhiên, theo đánh giá ban đầu việc thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế
biển chưa được quán triệt sâu rộng trong hệ thống chính trị, cộng đồng các doanh
nghiệp và mọi tầng lớp nhân dân. Việc phát triển kinh tế biển trong thời gian qua chưa
quan tâm đầy đủ đến vốn đầu tư, đào tạo nhân lực, . . .chưa lồng ghép các chương trình
phòng ngừa, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ chủ quyền an ninh biển đảo.
Nhiều địa phương, các ngành, các cấp, các doanh nghiệp, cư dân ven biển còn thờ ơ
với tác động của biến đổi khí hậu đến sự phát triển kinh tế biển bền vững, chưa nhận
thức đầy đủ về ngành kinh tế biển là ngành đầu tiên chịu sự thiệt hại nặng nề do biến
đổi khí hậu và nước biển dâng.
Để phát triển kinh tế biển bền vững chúng ta cần phải tập trung nâng cao nhận
thức cho toàn xã hội về chiến lược phát triển kinh tế biển gắn với phòng ngừa, thích
ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ chủ quyền biển đảo, xem đây là ba mặt của một
vấn đề có quan hệ mật thiết với nhau. Xây dựng đề án tái cơ cấu ngành kinh tế biển,
các cơ chế, chính sách nhằm phát huy quyền chủ động của các ngành, các cấp, các địa
phương và vùng lãnh thổ, có sự quản lý tập trung của trung ương, tạo nên bước đột
phá về tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu theo hướng hiện đại, theo chiều rộng
10


và chiều sâu. Bổ sung và hoàn chỉnh quy hoạch phát triển ngành theo nội dung mới
gắn phát triển kinh tế biển với phòng ngừa thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ
chủ quyền biển đảo trên tất cả các lĩnh vực đầu tư cơ sở hạ tầng, xây dựng tuyến đảo,
hệ thống cảng biển, đô thị ven biển, các ngành dầu khí, đóng tàu, giao thông, du lịch,
khai thác nuôi trồng thủy hải sản, …đồng thời thúc đẩy liên kết hợp tác giữa các
ngành, các địa phương và vùng lãnh thổ, hiện đại hóa các doanh nghiệp, các hợp tác
xã, xây dựng các thương hiệu biển quốc gia, thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài và
đầu tư tư nhân vào phát triển kinh tế biển, ...Xây dựng chiến lược thích ứng cho sinh
kế ven biển, bảo vệ môi trường sinh thái, xác định và tiếp cận cho từng lĩnh vực, như
vận tải biển, đánh bắt cá, nuôi trồng thủy sản, trồng trọt, chăn nuôi, …có sự tham gia
của đại diện các cơ quan ở địa phương, các chuyên gia kỹ thuật, các tổ chức quần

huyện đảo. Các huyện đảo đồng thời là địa bàn chính trong xây dựng khu vực phòng
thủ và thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế biển Việt Nam. Hiện nay, nước ta có
khoảng trên 20 triệu người dân ven biển và trên các hải đảo có sinh kế trực tiếp hay
gián tiếp phụ thuộc vào nguồn lợi từ biển. Trong những năm qua, mà đặc biệt là từ khi
thực hiện Chiến lược biển Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã quan tâm đầu tư cơ sở hạ
tầng cho các địa bàn ven biển và hải đảo. Một số đảo lớn như: Côn Đảo, Phú Quốc,
Trường Sa, Phú Quý, Lý Sơn, Cồn Cỏ, Cát Bà, Bạch Long Vĩ, Vân Đồn, …đã được
đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, hệ thống giao thông, mạng lưới điện, thông tin liên lạc,
cung cấp nước ngọt, trường học, bệnh xá, bố trí lại dân cư, tham gia vào phát triển
kinh tế, nông nghiệp, du lịch, công nghiệp dầu khí có bước phát triển nhanh; bảo vệ
môi trường biển đảo bước đầu được chú trọng, đã có 16 khu bảo tồn biển và các vườn
quốc gia ven biển và hải đảo, …được công nhận và thiết lập; đồng thời đảm bảo tốt
công tác quốc phòng, an ninh; hình thành hệ thống các khu công nghiệp, các cảng
biển, cảng cá, khu du lịch từ Quảng Ninh cho đến Cà Mau, …
Tính đến nay cả nước đã có 9 cảng biển và 15 khu kinh tế ven biển được thành
lập với tổng diện tích mặt đất và mặt nước lên đến gần 700.000 ha, thu hút khoảng trên
700 dự án do nước ngoài và trong nước đầu tư, với tổng số vốn gần 40 tỷ USD và gần
350.000 tỷ đồng. Nhiều thị trấn, thị tứ, khu nghỉ dưỡng đã hình thành dọc theo chiều
dài ven biển của đất nước. Bên cạnh đó, Nhà nước đầu tư hàng ngàn tỷ đồng để hiện
đại hóa đội tàu đánh bắt xa bờ từng bước chuyển đổi ngư trường đánh bắt hải sản ven
bờ sang ngư trường khơi xa với phương tiện kỹ thuật hiện đại để phát triển kinh tế
thủy sản mà trước mắt là tăng thu nhập cho ngư dân.
12


Theo số liệu thống kê cho thấy, nếu năm 2005 mức thu nhập bình quân đầu
người của khu vực ven biển là 310 USD thì đến năm 2015 mức thu nhập bình quân đầu
người đã tăng lên 2.300 USD, phấn đấu đến năm 2020, kinh tế trên biển và ven biển
đóng góp khoảng 53% – 55% tổng GDP của cả nước. Giải quyết tốt các vấn đề xã hội,
cải thiện một bước đáng kể đời sống nhân dân vùng biển và ven biển. Phấn đấu thu nhập

công cuộc xây dựng kinh tế, hiện đại hóa đất nước.
Hiện nay, có 6 nước đều tuyên bố có chủ quyền trên khu vực 2 quần đảo Trường
Sa và Hoàng Sa gồm: Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Philippines, Malaysia và
Brunei. Và đặc biệt, mới đây nhất Trung Quốc ngang nhiên hạ đặt trái phép giàn khoan
HD 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng
luật pháp quốc tế, đe dọa trực tiếp đến an ninh, an toàn hàng hải, làm ảnh đến hòa bình
trong khu vực. Với quan điểm hoà bình hữu nghị, Việt Nam chủ trương giải quyết các
tranh chấp thông qua thương lượng, đàm phán không dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực
để giải quyết vấn đề tranh chấp trên Biển Đông, đến nay Việt Nam đã ký Hiệp định về
phân định vịnh Bắc Bộ và vùng đánh cá chung với Trung Quốc, tích cực cùng các nước
ASIAN xây dựng bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông COC.
Trong quan điểm chỉ đạo của Đảng ta về Chiến lược phát triển kinh tế biển phải
gắn với bảo vệ chủ quyền quốc gia, vì thế kinh tế biển phát triển là điều kiện tạo ra cơ
sở vật chất, kỹ thuật cho khu vực ven biển, nâng cao đời sống nhân dân và góp phần
củng cố cơ sở chính trị và xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc; bên cạnh đó, sự
hiện diện của ngư dân trên các vùng biển không chỉ là để khai thác đánh bắt hải sản mà
gắn liền với đó là trách nhiệm bảo vệ chủ quyền quốc gia, là thể hiện tinh thần dân tộc
nối bước đội quân hùng binh Hoàng Sa năm xưa để bảo vệ chủ quyền vùng biển thiêng
liêng của Tổ quốc và đó cũng chính là quan điểm xây dựng nền quốc phòng toàn dân
và thế trận chiến tranh nhân dân trong giai đoạn hiện nay.
1.3. Nội dung thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển
Đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết 09-NQ/TW ngày 9-2-2007 của Ban
Chấp hành Trung ương Đảng Khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 cho
thấy: Kinh tế biển Việt Nam hiện đã có bước chuyển biến đáng kể. Ngoài các ngành
nghề truyền thống, đã xuất hiện nhiều ngành kinh tế biển gắn với công nghệ - kỹ thuật
hiện đại như khai thác dầu khí, đánh bắt xa bờ, vận tải biển, du lịch biển - đảo và tìm
kiếm cứu hộ, cứu nạn, …Tuy nhiên, điểm mấu chốt trong chiến lược phát triển kinh tế
biển Việt Nam là hội nhập quốc tế.
14


một số khu vực biển. Duy trì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hải sản cao, ổn định và bền
15


vững, cải thiện cơ cấu xuất khẩu theo hướng nâng cao tỷ trọng mặt hàng chế tạo, sản
phẩm chế biến.
Thứ ba, tập trung phát triển du lịch đảo và du lịch ven biển. Du lịch và giải trí
biển là một lĩnh vực hoạt động kinh tế biển. Các hoạt động kinh tế biển đã đóng góp
giải quyết đáng kể về thu nhập cũng như giảm thất nghiệp, xoá đói nghèo, bảo đảm an
ninh quốc gia vùng biển. Du lịch biển có tiềm năng kinh doanh lớn. Vùng biển và ven
biển tập trung tới ¾ khu du lịch tổng hợp và hơn ½ khu du lịch chuyên đề nhưng
ngành du lịch biển vẫn chưa có những sản phẩm dịch vụ đặc sắc, có tính cạnh tranh
cao so với khu vực và quốc tế, chưa có khu du lịch biển tổng hợp đạt qui mô và trình độ
quốc tế. Những năm gần đây, du lịch, nghỉ dưỡng cũng như giải trí biển đã được mở
rộng đáng kể. Việt Nam có nhiều trung tâm du lịch biển quan trọng, có vị trí địa lý thuận
lợi, nằm trển tuyến du lịch quốc tế Đông Nam Á. Doanh thu du lịch biển tăng hơn 5 lần
giai đoạn (2000 – 2010), Mục tiêu năm 2020 thu hút hoảng 8-10 triệu lượt khách quốc
tế, 50 - 60 triệu lượt khách trong nước đến du lịch biển.
Thứ tư, tăng cường khai thác năng lượng, khoáng sản, thuỷ sản biển. Đẩy mạnh
sản xuất muối biển trên cơ sở thâm canh, cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất các
đồng muối hiện có. Mặc dù ngành khai thác dầu thô và khí thiên nhiên trên biển Việt
Nam mới được bắt đầu từ năm 1986, nhưng hiện đang đứng ở vị trí thứ 4 ở Đông Nam
Á và thứ 44 trong Cộng đồng các quốc gia khai thác dầu mỏ trên thế giới. Ngành dầu
khí là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn có tiềm lực kỹ thuật, vật chất lớn và
hiện đại nhất trong nhũng ngành khai thác biển, đồng thời cũng là một trong những
ngành xuất khẩu thu được nhiều ngoại tệ nhất. Cần đẩy mạnh phát triển công nghiệp ven
biển, trước hết là dầu mỏ, khí đốt, than, quặng kim loại, chuẩn bị điều kiện khai thác
khoáng sản ở biển sâu sau năm 2010. Bên cạnh khai thác khoáng sản biển, thì thủy sản
cũng đóng vai trò quan trọng vì thuỷ sản là nguồn tài nguyên tài tạo, phát triển dựa trên
nền tảng của các hệ sinh thái. Kinh tế thuỷ sản bảo đảm và cải thiện kế sinh nhai cho dân

Tất cả các chủ thể, cơ quan chủ trì và phối hợp xây dưng kế hoạch thực hiện
về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực, những dự kiến về cơ chế trách nhiệm của
cán bộ quản lý và công chức; các nguồn lực; về thời gian thực hiện; kiểm tra đôn đốc
thực thi chính sách phát triển kinh tế biển.
Trên cơ sở Nghị quyết số 09-NQ/TW về “Chiến lược Biển Việt Nam đến năm
2020”, trong đó xác định: “Phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm
giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo,
17


góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm cho đất nước
giàu mạnh. Xây dựng và phát triển toàn diện các lĩnh vực kinh tế, xã hội, khoa học –
công nghệ, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, làm cho đất nước giàu mạnh từ
biển, bảo vệ môi trường biển. Và tiếp tục thực hiện chủ trương phát triển kinh tế biển
được xác định trong các văn kiện trước đây của Đảng, Chiến lược phát triển kinh tế –
xã hội 10 năm (2011-2020), được Đại hội XI của Đảng (tháng 1-2011) thông qua,
nhấn mạnh: “Phát triển mạnh kinh tế biển tương xứng với vị thế và tiềm năng biển của
nước ta, gắn phát triển kinh tế biển với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ
quyền vùng biển. Phát triển nhanh một số khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển, ưu
tiên phát triển các ngành công nghiệp năng lượng, đóng tàu, xi-măng, chế biến thủy
sản chất lượng cao, ...
Tiềm năng, cơ hội cho phát triển kinh tế biển của Việt Nam:
Nước ta có bờ biển trải dài 3.260km dọc Bắc – Trung – Nam, chủ quyền bao
quát hơn một triệu ki-lô-mét vuông trên vùng Biển Đông (gấp ba lần diện tích đất
liền), trên biển có hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ, với trữ lượng hải sản lớn và phong phú,
trữ lượng khoáng sản, nhất là dầu khí to lớn, tiềm năng du lịch gắn với biển và trên
biển dồi dào,…Điểm nổi bật là, trong số mười tuyến đường biển lớn nhất hành tinh, có
năm tuyến đi qua Biển Đông – một hướng chính chúng ta đang đi ra thế giới, đã và
tiếp tục tạo động lực mạnh mẽ mở rộng thông thương, thắt chặt và tăng cường các mối
bang giao quốc tế, nhằm phát triển theo phương châm “tăng trưởng xanh” một cách

người vẫn đang suy nghĩ và cho rằng, phát triển kinh tế biển là nhiệm vụ chỉ của các
tỉnh, thành phố, huyện thị có biển hoặc của riêng các ngành như tài nguyên và môi
trường, thủy hải sản, công thương, du lịch, dầu khí…? Và, có không sự tách rời kinh tế
biển, đảo với kinh tế duyên hải, hoặc chỉ chú trọng mục tiêu phát triển kinh tế mà
buông lơi công tác an ninh, quốc phòng? Việc tiếp tục đổi mới tư duy về biển, đảo và
kinh tế biển, đảo, gắn kinh tế với quốc phòng bao gồm những vấn đề gì, chúng như thế
nào, để từ đó xác lập và thống nhất một tầm nhìn xa trông rộng, vững vàng tư tưởng
vươn ra biển lớn, gắn kết đất liền với đại dương, để xây dựng và phát triển văn hóa
biển, đảo – văn hóa hướng ra đại dương trong cả cộng đồng và mỗi con người nhằm
phát triển một cách bền vững và ổn định.
Thứ hai, về quy hoạch:
Muốn phát triển toàn diện, đồng thời có chiều sâu và hiệu quả, bền vững, nhất
thiết phải làm tốt công tác quy hoạch bảo đảm cho sự phát triển một cách chủ động.
19


Nhưng tại sao vẫn còn tình trạng phân tán, thậm chí khép kín, biệt lập giữa các ngành
trong tỉnh, các địa phương, dù hầu như tỉnh ven biển nào cũng định hướng, quy hoạch,
phác thảo chương trình, mô hình riêng của mình về xây dựng cảng nước sâu, về nhà
máy lọc dầu, về khu công nghiệp, về cầu cảng hàng không…, trong khi rất cần một
“nhạc trưởng” hay một trung tâm điều phối chung một cách tổng thể về năng lượng, về
đất đai, về dân số, về môi trường, về đối phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng…
Và, để điều này không cản trở sức sáng tạo, phát huy năng lực, lợi thế của mỗi ngành,
mỗi địa phương… thì cần phải làm gì và làm như thế nào? Phát triển toàn diện, thống
nhất nhưng có trọng tâm, trọng điểm là như thế nào? Những câu hỏi này rất cần có lời
giải một cách khoa học, cụ thể.
Thứ ba, về cơ chế phối hợp:
Theo lẽ tự nhiên, sự liên kết hợp tác giữa các tỉnh, thành phố có biển, đảo trong
cả nước bằng những chương trình hành động cụ thể dựa trên từng lợi thế so sánh,
trong tất cả các hướng chiến lược và kế hoạch của từng bước đi là việc tất yếu, là sự

Đổi mới chính sách đầu tư, trước hết là đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, chính
sách tín dụng, hỗ trợ giá cả một cách cụ thể, hiệu quả, để đồng bào diêm dân khắc
phục khó khăn, nỗ lực sản xuất. Tiếp tục xây dựng chương trình phát triển du lịch –
dịch vụ, nhất là du lịch ven biển, hải đảo, tăng cường hợp tác liên doanh ở mọi cấp độ,
mở rộng thị trường tiêu thụ nội địa và xuất khẩu, thu hút nhiều lao động, tạo thêm
nhiều việc làm. Chú trọng phát triển công tác giáo dục – đào tạo, y tế cơ sở ở các vùng
sâu, vùng xa, vùng hải đảo.
Tăng cường sự gắn bó giữa ngư dân, diêm dân, các tầng lớp cư dân vùng biển
với các lực lượng vũ trang, trực tiếp là Bộ đội Biên phòng để giúp nhau sản xuất, nâng
cao đời sống văn hóa, tạo dựng thế trận lòng dân vững chắc bảo vệ vùng biển, đảo của
Tổ quốc.
1.4.2. Về thông tin, tuyên truyền chính sách
Các cơ quan truyền thông tiếp tục đẩy mạnh công tác truyền thông về các chủ
trương của Đảng, chính sách của nhà nước đối với việc thực hiện chính sách phát triển
kinh tế biển nâng cao nhận thức, xây dựng năng lực truyền thông cho đội ngũ phóng
viên, báo chí, trong đó tập trung đi sâu vào năng lực truyền thông về các cơ chế chính
sách việc thực hiện chính sách cho ngư dân và nhân dân. Bên cạnh đó, cần chú ý đến
những chương trình, chiến dịch truyền thông mang tính dài hạn, đồng thời chú trọng
nêu gương tốt, xây dựng các gương điển hình trong công việc, là người lãnh đạo giỏi
21


có đóng góp cho sự phát triển kinh tế-xã hội của địa phương và quốc gia. Qua đó giúp
cán bộ, lãnh đạo quản lý nhận thức được vai trò, vị trí quan trọng của chiến lược phát
triển kinh tế biển hiểu rõ hơn về chính sách của Đảng và Nhà nước hiện nay.
Phát triển kinh tế biển, đảo gắn chặt với bảo đảm quốc phòng, an ninh nhằm
hướng tới khai thác, quản lý, giữ gìn và bảo vệ biển, đảo một cách bền vững nhằm góp
phần vào sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước là trách nhiệm của cả hệ thống
chính trị từ Trung ương đến địa phương.
1.4.3. Phân công phối hợp thực hiện chính sách công

thực thi chính sách, trong đó đánh giá toàn bộ được thực hiện sau khi kết thúc chính
sách. Đánh giá tổng kết trong bước tổ chức thực thi chính sách được hiểu là quá trình
xem xét, kết luận về chỉ đạo - điều hành và chấp hành chính sách của các đối tượng
thực thi chính sách.
Đối tượng được xem xét, đánh giá tổng kết về chỉ đạo điều hành thực thi chính
sách là các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến cơ sở. Ngoài ra, còn xem xét cả vai
trò, chức năng của các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội và xã hội trong việc tham gia
thực thi chính sách công. Cơ sở để đánh giá, tổng kết công tác chỉ đạo, điều hành thực
thi chính sách công trong các cơ quan nhà nước là kế hoạch được giao và những nội
quy, quy chế được xây dựng ở bước 1 của phần này. Đồng thời còn kết hợp sử dụng
các văn bản liên tịch giữa cơ quan nhà nước với các tổ chức xã hội và các văn bản quy
phạm khác để xem xét tình hình phối hợp chỉ đạo, điều hành thực thi chính sách công
của các tổ chức chính trị và xã hội với Nhà nước.
Bên cạnh việc tổng kết, đánh giá kết quả chỉ đạo, điều hành của các cơ quan
nhà nước, còn xem xét, đánh giá việc thực thi của các đối tượng tham gia thực hiện
chính sách công bao gồm các đối tượng thụ hưởng lợi ích trực tiếp và gián tiếp từ
chính sách, nghĩa là tất cả các thành viên xã hội với tư cách là công dân. Thước đo
đánh giá kết quả thực thi của các đối tượng này là tinh thần hưởng ứng với mục tiêu
chính sách và ý thức chấp hành những quy định về cơ chế, biện pháp do cơ quan nhà
nước có thẩm quyền ban hành để thực hiện mục tiêu chính sách trong từng điều kiện
về không gian và thời gian.
1.5. Những yếu tố ảnh hƣởng đến thực hiện chính sách phát triển kinh tế
biển Việt Nam

1.5.1. Điều kiện địa lý
Việt Nam, là quốc gia có biển nằm án ngữ trên con đường hàng hải và hàng
23


không huyết mạch thông thương giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa Châu



nước…, các di tích lịch sử và văn hóa như: Cố đô Huế, phố cổ Hội An, Tháp Chàm,
Nhà thờ đá Phát Diệm… phân bố tại vùng ven biển. Tiềm năng du lịch kể trên rất phù
hợp để Việt Nam phát triển và đa dạng các loại hình du lịch hiện đại như nghỉ ngơi,
dưỡng bệnh, tắm biển, du lịch sinh thái nghiên cứu khoa học vùng ven bờ, hải đảo,
ngầm dưới nước; du lịch thể thao: bơi, lặn sâu, lướt ván, nhảy sóng, đua thuyền…Với
điều kiện địa lý thuận lợi và tài nguyên thiên nhiên phong phú từ biển là môi trường
thuận lợi để nước ta hoàn thành các mục tiêu của Chiến lược biển đến năm 2020.
1.5.2. Vốn và công nghệ
Trong điều kiện đất nước ta còn nghèo nên việc huy động nguồn vốn cho phát
triển kinh tế biển cực kỳ quan trọng. Cần phải huy động tổng hợp các nguồn vốn từ
ngân sách nhà nước, ODA, FDI, vốn từ các thành phần kinh tế trong nước và đặc biệt
là nguồn vốn từ trong nhân dân. Dù Nhà nước đã có nhiều cố gắng trong việc huy
động đầu tư phát triển ngành kinh tế biển, song nguồn vốn cho đầu tư phát triển vẫn
còn nhiều hạn chế. Theo số liệu cho thấy giai đoạn 2009-2012 vốn đầu tư phát triển
toàn xã hội cho ngành nông, lâm, thủy sản đạt 228.110 tỷ đồng, tuy nhiên mức đầu tư
cho ngành thủy sản chiếm gần 3%, như vậy tỷ lệ đầu tư là rất thấp nên dẫn đến những
bất cập và hạn chế cho phát triển thủy sản. Cơ sở hạ tầng nghề cá gồm hạ tầng thủy lợi
phục vụ nuôi trồng thủy sản, hệ thống cảng cá, chợ cá, chợ thủy sản đầu mối, khu neo
đậu tránh bão cho tàu thuyền... đều chưa được đầu tư đúng mức, làm ảnh hưởng không
nhỏ đến tốc độ tăng trưởng của ngành và thu nhập của ngư dân. Cộng thêm những khó
khăn từ nhiều phía khiến ngành thủy sản đang phải đối mặt với quá nhiều thách thức
như: xuất khẩu ngày càng bị áp lực cạnh tranh, rào cản kỹ thuật các nước gia tăng,
trong khi chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm chưa đồng bộ. Vấn đề nuôi trồng, đánh
bắt xa bờ vẫn còn quy mô nhỏ, lạc hậu. Ứng dụng khoa học - kỹ thuật hạn chế, phát
triển mô hình công nghiệp còn ít. Ảnh hưởng biến đổi khí hậu đẩy nước mặn xâm
nhập sâu vào đất liền đe dọa nghề nuôi thủy sản.
Bên cạnh các yếu tố trên, chúng ta không chỉ tập trung khai thác nguồn lợi sẵn
có, tận dụng những lợi thế của một đất nước có bờ biển dài và nguồn lợi thủy sản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status