Xúc tiến xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ - Pdf 23

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam và Hoa Kỳ là hai quốc gia có quan hệ thương mại phát triển và
không ngừng mở rộng. Kể từ sau khi Hiệp định thương mại Việt – Mỹ được ký
kết, quan hệ kinh tế thương mại giữa hai nước đã có nhiều khởi sắc. Điều này
phù hợp với lợi ích của cả hai nước, phù hợp với xu thế hội nhập, mở cửa hiện
nay của các quốc gia trên thế giới cũng như chiến lược phát triển kinh tế đối
ngoại của Việt Nam và Hoa Kỳ.
Trong những năm vừa qua, xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Hoa
Kỳ tăng mạnh. Một trong số các mặt hàng xuất khẩu lớn vào thị trường Hoa Kỳ
ta phải kể đến là mặt hàng đồ gỗ. Hoa Kỳ là nước nhập khẩu gỗ, sản phẩm gỗ và
đồ nội thất hàng đầu trên thế giới. Đồ gỗ của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường
Hoa Kỳ được đánh giá là có chất lượng tốt, kiểu dáng sáng tạo, giá cả khá cạnh
tranh, vì thế tạo được độ tín nhiệm cao đối với người tiêu dùng. Kim ngạch xuất
khẩu đồ gỗ của Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ những năm vừa qua không
ngừng tăng. Kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ vào thị trường này đạt 16 triệu USD
vào năm 2001. Năm 2006, kim ngạch xuất khẩu đã tăng lên 902,5 triệu USD
(tăng gấp 56 lần so với kim ngạch năm 2001).
Tuy nhiên, thị trường Hoa Kỳ là thị trường khó tính, rất khắt khe về chất
lượng hàng hoá nói chung và mặt hàng đồ gỗ nói riêng. Do vậy, xuất khẩu đồ gỗ
của Việt Nam trong những năm vừa qua tuy đã đạt được một số kết quả bước
đầu đáng khích lệ song vẫn chưa xứng với tiềm năng của mình. Sản phẩm đồ gỗ
của Việt Nam vẫn chưa thực sự đáp ứng những yêu cầu về chất lượng và thời
gian giao hàng của thị trường Hoa Kỳ. Đồ gỗ của Việt Nam vào thị trường Hoa
Kỳ vẫn chưa cạnh tranh được với đồ gỗ của Trung Quốc và Canada. Các doanh
nghiệp Việt Nam vẫn chưa có biện pháp xúc tiến xuất khẩu. Vì vậy, Việt Nam
muốn xuất khẩu thành công vào thị trường này thì cần phải có những biện pháp
xúc tiến xuất khẩu hữu hiệu từ cả phía nhà nước và doanh nghiệp.
1
Chính vì lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Xúc tiến xuất khẩu đồ gỗ của
Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ” với mục đích đề xuất một số giải pháp xúc

Ngoài Lời mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn
được chia làm 3 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về xúc tiến xuất khẩu và sự cần thiết phải xúc
tiến xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ.
Chương 2: Thực trạng xúc tiến xuất khẩu mặt hàng đồ gỗ của Việt Nam
vào thị trường Hoa Kỳ.
Chương 3: Một số giải pháp xúc tiến xuất khẩu nhằm đẩy mạnh kim
ngạch xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ.
3
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ XÚC TIẾN XUẤT KHẨU VÀ SỰ CẦN
THIẾT PHẢI XÚC TIẾN XUẤT KHẨU ĐỒ GỖ CỦA VIỆT NAM VÀO
THỊ TRƯỜNG HOA KỲ
1.1 Khái niệm về xúc tiến xuất khẩu
1.1.1 Xúc tiến thương mại
Theo cách hiểu truyền thống, xúc tiến thương mại (XTTM) là hoạt động
trao đổi và hỗ trợ trao đổi thông tin giữa bên bán và bên mua, hoặc qua khâu
trung gian nhằm tác động tới thái độ và hành vi mua bán, qua đó thúc đẩy việc
mua bán và trao đổi hàng hoá và dịch vụ. Theo định nghĩa này, XTTM bao gồm
các hoạt động trực tiếp thúc đẩy việc bán hàng, tiêu thụ hàng hoá bao gồm các
hoạt động cụ thể: thông tin thương mại, tuyên truyền xuất khẩu, quảng cáo và
khuyến mại hàng hoá và dịch vụ; tổ chức và tham gia các đoàn khảo sát thị
trường nước ngoài; tổ chức và tham gia hội chợ triển lãm trong và ngoài nước;
đại diện thương mại ở nước ngoài. Các hoạt động XTTM có phạm vi rất rộng
nhưng theo định nghĩa truyền thống thì nội dung của XTTM chỉ bó hẹp trong
phạm vi hỗ trợ cho khâu cuối cùng của quá trình sản xuất.
Với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu sắc, khái niệm
XTTM truyền thống chưa phát huy hết vai trò của nó và chưa đáp ứng được yêu
cầu của doanh nghiệp. Do vậy, khái niệm XTTM được hiểu theo nghĩa rộng
4
(hay nghĩa hiện đại). Theo nghĩa hiện đại, XTTM là những hoạt động bổ trợ

thường được thực hiện bởi các tổ chức XTTM của Chính phủ hoặc các tổ chức
hỗ trợ XTTM.
 Quảng cáo thương mại
Quảng cáo thương mại là hành vi thương mại của thương nhân nhằm giới
thiệu hàng hoá, dịch vụ để xúc tiến thương mại. Quảng cáo có nhiều loại khác
nhau nhưng cơ bản có ba loại: (1) quảng cáo qua phương tiện thông tin đại
chúng; (2) quảng cáo trực tiếp; (3) quảng cáo tại nơi bán hàng được tiến hành
khi khách hàng đang ở gần cửa hàng. Doanh nghiệp sẽ gây sự chú ý lôi kéo
khách hàng, kích thích họ tự tìm hiểu sản phẩm thúc đẩy hành vi mua hàng.
Quảng cáo là một hình thức XTTM truyền thống, là phương tiện để thúc đẩy bán
hàng, phương tiện để tích luỹ tài sản vô hình- sự quan tâm của khách hàng tiềm
năng và là phương tiện để nắm bắt phản ứng của khách hàng.
 Khuyến mại
Theo luật thương mại năm 2006, mục 12, điều 180 cho rằng: “ Khuyến
mại là hành vi thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc bán hàng, cung
ứng dịch vụ trong phạm vi kinh doanh của thương nhân bằng cách dành những
lợi ích nhất định cho khách hàng”. Khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương
mại nhằm bổ sung cho quảng cáo, kích thích khách hàng tiến tới hành vi mua
sắm.
 Hội trợ triển lãm trong và ngoài nước
Hội chợ thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại tập trung trong một
thời gian địa điểm nhất định. Trong đó, các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh
được trưng bày hàng hoá của mình nhằm mục đích tiếp thị, ký kết hợp đồng mua
bán.
Triển lãm là hoạt động xúc tiến thương mại thông qua việc trưng bày
hàng hoá, tài liệu về hàng hoá để giới thiệu, quảng cáo nhằm mở rộng thúc đẩy
việc tiêu thụ hàng hoá.
 Đại diện thương mại ở trong và ngoài nước
6
Đại diện thương mại có thể là văn phòng hoặc trung tâm thươg mại, trung

việc tìm kiếm thông tin trên mạng Internet ,v.v…
XTTM thông qua CNTT hay có thể gọi là xúc tiến thương mại điện tử (E-
promotion), được coi là một hình thức XTTM mới và đang phát huy tác dụng rất
lớn trong kinh doanh ở cả thị trường trong nước và quốc tế. [6, tr.50]
Ứng dụng công nghệ thông tin trong XTTM nói riêng, hoạt động thương
mại nói chung góp phần làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, giúp
doanh nghiệp nhanh chóng hoà nhập vào xu hướng chung của thế giới.
1.1.2 Xúc tiến xuất khẩu
Nhìn từ góc độ nghiệp vụ kinh doanh quốc tế, xúc tiến xuất khẩu chỉ là
một bộ phận của XTTM nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ. Theo
tập đoàn tư vấn Boston (BCG) định nghĩa: “Xúc tiến và phát triển xuất khẩu là
những sự lựa chọn mang tính chiến lược. Những chương trình liên quan của
chính phủ có thể trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các cơ quan đại diện thực
hiện để tăng số lượng các nhà xuất khẩu, kim ngạch xuất khẩu và thu nhập/ lợi
ích từ xuất khẩu (cả lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội); thông qua các chương trình
nâng cao năng lực, các hỗ trợ vượt biên giới hoặc các hoạt động trên thị trường”.
Theo Serringhaus & Rosson (1990) “Xúc tiến xuất khẩu được hiểu là
những công cụ của chính sách nhằm thúc đẩy trực tiếp hay gián tiếp đến các
hoạt động xuất khẩu ở cấp độ doanh nghiệp, một ngành công nghiệp hay ở cấp
độ quốc gia”.
Như vậy, theo định nghĩa ở trên, xúc tiến xuất khẩu bao gồm những biện
pháp nâng cao nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp về vai trò của xuất khẩu
như một động lực của sự tăng trưởng kinh tế quốc gia; thông tin cho họ về
những cơ hội để mở rộng thị trường xuất khẩu; làm thuận lợi hoá quá trình xuất
khẩu bằng cách giảm thiểu các hàng rào cản trở quá trình này; đồng thời thiết
lập và cung cấp các dịch vụ và hỗ trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu hay
những nhà xuất khẩu “ tiềm năng”.
8
Các chuyên gia của Trung tâm thương mại Quốc tế ( ITC) đưa ra cách
hiểu về xúc tiến xuất khẩu dưới góc độ là một bộ phận của chiến lược phát triển

định thương mại song phương với Mỹ (BTA - Hiệp định thương mại Việt Nam-
Hoa Kỳ), Nhật Bản, EU và Trung Quốc, v.v… Việt Nam là một trong 11 thành
viên của ASEAN. ASEAN và Trung Quốc đã ký kết hiệp định thương mại tự do
ASEAN - Trung Quốc (ACFTA). Những hiệp định thương mại song phương
này có ý nghĩa quan trọng đối với sự tăng trưởng thương mại của Việt Nam nói
chung và xuất khẩu nói riêng.
Một trong những nguyên tắc để phân loại hiệp định thương mại là nguyên
tắc đối xử tối huệ quốc (MFN), hay nói đúng hơn là cách thức thực thi nguyên
tắc MFN của GATT và WTO. Các hiệp định thương mại đa phương gắn liền với
việc ra đời của GATT 1947. Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
(GATT) được ký vào năm 1947 có thể coi là Hiệp định thương mại đa phương
đầu tiên. Việc kết thúc vòng đàm phán Uruguay vào năm 1994 dẫn đến sự ra đời
của WTO đã đánh dấu một bước phát triển về chất của hệ thống Hiệp định
thương mại đa phương. Trong khuôn khổ của WTO, một loạt các hiệp định đa
phương và các hiệp định nhiều bên đã được ký kết và có hiệu lực trên thực tế.
Việt Nam là thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào
ngày 11/01/2007. Đây là một sự kiện quan trọng, đồng thời Việt Nam cũng phải
tiếp tục thực hiện các Hiệp định thương mại đa phương đã ký kết. Thông qua
các Hiệp định thương mại song phương và đa phương, thương mại của Việt
Nam nói chung và xuất khẩu nói riêng sẽ ngày càng phát triển.
1.2.1.2 Tổ chức các phái đoàn viếng thăm
Hàng năm Việt Nam cùng với các nước trên thế giới đều tổ chức các cuộc
viếng thăm lẫn nhau. Đa số các cuộc viếng thăm đều có các nhà lãnh đạo tham
dự. Thông qua các cuộc viếng thăm giữa hai nhà nước với nhau, các doanh
10
nghiệp có cơ hội thúc đẩy hàng hoá của mình vào thị trường nước ngoài và
ngược lại. Đây là một cơ hội rất lớn cho hoạt động thương mại, trong đó có hoạt
động xúc tiến xuất khẩu. Chính nhờ các cuộc viếng thăm, ngoài mối quan hệ
ngoại giao được mở rộng thì quan hệ thương mại ngày càng được phát triển mở
rộng hơn nữa. Việc tổ chức các phái đoàn viếng thăm là rất cần thiết và là một

sẽ góp phần thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của một nước vào thị trường nước
ngoài để mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá. Chính vì vậy, hợp tác với các tổ
chức xúc tiến thương mại quốc tế là một hoạt động xúc tiến xuất khẩu hiệu quả
ở cấp vĩ mô hiện nay.
1.2.2 Hoạt động xúc tiến xuất khẩu ở cấp vi mô
Hoạt động xúc tiến xuất khẩu ở cấp vi mô là một hoạt động trong
marketing xuất khẩu với chức năng chủ yếu là truyền đạt thông tin tới khách
hàng nước ngoài để thông báo, thuyết phục và nhắc nhở về sản phẩm và hình
ảnh của doanh nghiệp.[5, tr.35]
Hoạt động xúc tiến xuất khẩu ở cấp vi mô bao gồm các bước sau:
1.2.2.1 Quảng cáo ( Advertisement)
Theo Philip Kotler “Quảng cáo bao gồm mọi hình thức giới thiệu một
cách giản tiếp và đề cao những ý tưởng, hình thức và dịch vụ được thực hiện
theo yêu cầu của chủ thể quảng cáo và chủ thể quảng cáo phải chịu chi phí”.
Luật thương mại Việt Nam đưa ra định nghĩa như sau: “Quảng cáo là hoạt
động thương mại của các thương nhân sử dụng hoặc phổ biến các sản phẩm
quảng cáo để XTTM”. Hiện nay, trong hoạt động xúc tiến xuất khẩu các doanh
nghiệp thường sử dụng các phương tiện quảng cáo chủ yếu sau đây:
 Nhóm các phương tiện nghe nhìn: Quảng cáo trên truyền hình,
quảng cáo trên đài phát thanh, quảng cáo trên Internet.
 Nhóm các phương tiện in ấn: Quảng cáo trên báo chí, quảng cáo
trên tạp chí, quảng cáo trên ca-ta-lô, tờ rơi, lịch…
12
 Nhóm các phương tiện quảng cáo ngoài trời là một hình thức quảng
cáo hiệu quả vì tính linh hoạt cũng như tính hữu ích của nó. Các phương tiện
quảng cáo ngoài trời có một tính chất đặc biệt là nó dễ gây ấn tượng và đập ngay
vào mắt công chúng ở mọi nơi. Các loại phương tiện quảng cáo ngoài trời phổ
biến là: biển tôn có đèn rọi, hộp đèn quảng cáo, đèn màu uốn, biển quảng cáo
điện tử, các panô quảng cáo chất lượng cao.
 Nhóm phương tiện quảng cáo di động là hình thức quảng cáo trên

- Bảo vệ sản phẩm đang gặp rắc rối với công chúng trên thị trường
nước ngoài
- Xây dựng hình ảnh về doanh nghiệp trong mắt người nhập khẩu
Hoạt động quan hệ công chúng ảnh hưởng đến người tiêu dùng gấp năm
lần so với quảng cáo. Quan hệ công chúng ở trong nước và quốc tế thường sử
dụng các công cụ sau:
+ Thông qua các loại ấn phẩm
+ Thông qua tài trợ các sự kiện văn hoá, thể thao, giáo dục và đào tạo
+ Thông qua các bài phát biểu
+ Các hoạt động xã hội
+ Tổ chức hội nghị khách hàng, hội thảo
Trong xúc tiến xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam vào thị trường quốc tế,
các doanh nghiệp cần quan tâm nhiều hơn đến hoạt động PR quốc tế. Nếu hoạt
động PR quốc tế được làm tốt thì sẽ giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam tạo
dựng và duy trì quan hệ hữu hảo với chính quyền địa phương nước sở tại. Đồng
thời, PR quốc tế có thể kiểm tra và đánh giá những bất lợi có thể xảy cho các
doanh nghiệp. Vì vậy, các doanh nghiệp có thể chủ động đối phó trong mọi tình
huống xấu.
Quan hệ công chúng quốc tế cho đến nay được coi là một hoạt động xúc
tiến xuất khẩu rất quan trọng và nó đem lại hiệu quả cao cho các doanh nghiệp
nói chung và doanh nghiệp của Việt Nam nói riêng.
14
1.2.2.3 Bán hàng cá nhân (Personal selling)
Bán hàng cá nhân là phương pháp nói chuyện với một hay nhiều khách
hàng để bán hàng. Chi phí bán hàng rất cao nên thường sử dụng đối với hàng có
giá trị lớn hoặc khi cần có sự tin tưởng của khách hàng đối với sản phẩm. Đối
với hoạt động bán hàng cá nhân thì việc đào tạo đội ngũ nhân viên bán hàng hết
sức quan trọng bởi vì họ sẽ đại diện cho chính doanh nghiệp. Nhân viên phải
được đào tạo một cách toàn diện từ cử chỉ, lời nói, thái độ, cách ăn mặc đến
những kiến thức chào hàng, giới thiệu hàng và họ cần có khả năng phản ứng

thể tăng số lượng hàng hoá xuất khẩu của mình. Do vậy, hoạt động xúc tiến bán
hàng được coi là một hoạt động XTXK ở cấp vi mô.
1.2.2.5 Xây dựng và quảng bá thương hiệu
Để đẩy mạnh hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động xuất khẩu nói
riêng, chúng ta không thể không chú ý đến một khâu mà bấy lâu nay chúng ta
không chú ý hoặc chưa chú ý đúng múc. Đó là vấn đề xây dựng và quảng bá
thương hiệu. Thương hiệu là vấn đề vô cùng quan trọng. Cho đến bây giờ ở Việt
Nam, các doanh nghiệp đều có chung một mục tiêu đó là sản phẩm của doanh
nghiệp mình phải đạt được thương hiệu. Vấn đề này đã được các doanh nghiệp
quan tâm từ trước thời điểm Việt Nam hội nhập AFTA. Do vậy, trọng tâm của
hoạt động XTXK của các doanh nghiệp và tổ chức làm công tác hiện nay là phải
xây dựng, củng cố, quảng bá và bảo vệ thương hiệu cho hàng hoá và doanh
nghiệp Việt Nam, từng bước xây dựng thương hiệu cho sản phẩm quốc gia, nâng
cao vị thế và khả năng cạnh tranh của hàng Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Trong nền kinh tế cạnh tranh ngày càng gay gắt, vấn đề xây dựng và
quảng bá thương hiệu có ý nghĩa lớn:
- Thương hiệu tạo dựng sự tin tưởng của khách hàng vào chất lượng
hàng hoá, yên tâm và tự hào khi sử dụng chúng. Khách hàng chỉ lựa chọn tiêu
dùng hàng hoá khi họ đã chấp nhận và tin tưởng vào thương hiệu hàng hoá, tin
16
vào chất lượng hàng hoá và tin rằng khi sử dụng hàng hoá đó nó sẽ tạo cho
người tiêu dùng một giá trị riêng.
- Thương hiệu giúp tạo dựng hình ảnh doanh nghiệp, thu hút khách
hàng mới, vốn đầu tư, gia tăng quan hệ khách hàng. Khi đã có thương hiệu nổi
tiếng, các bạn hàng của doanh nghiệp sẽ sẵn sàng hợp tác kinh doanh, cung cấp
nguyên liệu và các hàng hoá liên quan cho doanh nghiệp tạo môi trường thuận
lợi cho doanh nghiệp trong kinh doanh.
- Thương hiệu giúp việc phân phối và tiêu thụ sản phẩm dễ dàng
hơn, tạo thuận lợi hơn khi tìm kiếm thị trường mới, mở rộng thị trường xuất
khẩu. Khi thương hiệu hàng hoá được nhiều người biết đến, doanh nghiệp có

khu vực, nhiều hãng chỉ trưng bày hàng hoá chứ không bán hàng và việc ký kết
hợp đồng mua bán hay hợp đồng đại lý được thực hiện tại trụ sở của doanh
nghiệp. Hiện nay, nhiều tiêu thức khác nhau để phân chia hội chợ triển lãm
thương mại quốc tế thành:
- Hội chợ- triển lãm thương mại tổng hợp
- Hội chợ – triển lãm thương mại chuyên ngành
- Hội chợ – triển lãm thương mại định kỳ
- Hội chợ – triển lãm thương mại không định kỳ
Trước khi tham gia hội chợ triển lãm quốc tế, doanh nghiệp phải thu thập
thông tin về thời gian khai mạc, địa điểm, chi thuê gian hàng, phiên dịch… để
lập kế hoạch tham gia. Một số công ty còn coi hội chợ triển lãm thương mại
quốc tế là biện pháp quan trọng để bán hàng. Việc tham gia hội chợ triển lãm
còn là dịp để tìm kiếm đại lý, quy tụ các khách hàng tiềm năng. Việc tham gia
hội chợ triển lãm quốc tế có những đặc trưng sau đây:
+ Quy tụ một lượng khách hàng hớn.
+ Đánh giá được ngay phản ứng của khách hàng
+ Trưng bày giới thiệu sản phẩm
+ Đánh giá đối thủ cạnh tranh
18
Trong thương mại quốc tế, nếu một công ty thực hiện các hoạt động xúc
tiến xuất khẩu trên một cách độc lập thì chi phí cao của những hoạt động này có
thể sẽ vượt quá những lợi ích mà nó đem lại. Chính vì thế, các doanh nghiệp
không thể thực hiện hoạt động xúc tiến xuất khẩu một cách đơn lẻ mà họ phải
kết hợp với các tổ chức, hiệp hội và Chính phủ nước sở tại. Ngày nay, theo quan
điểm marketing hiện đại thì hoạt động xúc tiến xuất khẩu ở cấp vi mô thường
được nhấn mạnh hơn so với hoạt động xúc tiến xuất khẩu ở cấp vĩ mô.
1.3 Sự cần thiết phải xúc tiến xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam vào thị trường Hoa
Kỳ
Kể từ sau Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ được ký kết, kim
ngạch xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ đã tăng hơn so với

tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, để giúp cho các doanh nghiệp có cơ hội mở
rộng thị trường thì đòi hỏi phải xúc tiến xuất khẩu. Xúc tiến xuất khẩu đồ gỗ của
Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ có vai trò sau:
+ Nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng đồ gỗ của Việt Nam trên thị
trường Hoa Kỳ.
+ Góp phần thay đổi tỷ trọng mặt hàng đồ gỗ trong tổng kim ngạch xuất
khẩu hàng hoá vào thị trường Hoa Kỳ.
+ Mở rộng giao lưu kinh tế với các nước trong thị trường Châu Mỹ.
+Tạo dựng hình ảnh đẹp của doanh nhân và các sản phẩm gỗ của Việt
Nam trong con mắt của người dân Hoa Kỳ.
+ Thâm nhập sâu hơn nữa vào thị trường đồ gỗ của Hoa Kỳ.
+ Tạo thu hút vốn đầu tư vào Việt Nam, thông qua các dự án đầu tư cho
các ngành sản xuất và chế biến đồ gỗ xuất khẩu.
20
+ Nâng cao chất lượng mặt hàng đồ gỗ, đồng thời làm phong phú mẫu mã
của mặt hàng đồ gỗ của Việt Nam, để nâng cao hình ảnh và gây uy tín của mặt
hàng đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ.
+ Xúc tiến xuất khẩu đồ gỗ góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ nói
riêng và kim ngạch hàng hoá nói chung vào thị trường Hoa Kỳ.
+ Một cách gián tiếp, XTXK đồ gỗ vào thị trường Hoa Kỳ sẽ tạo thêm
nhiều công ăn việc làm cho người lao động, chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh
hơn, tăng thu ngoại tệ và góp phần nâng cao đời sống cho người dân Việt
Nam…
1.5 Kinh nghiệm xúc tiến xuất khẩu đồ gỗ của một số nước trên thế giới vào thị
trường Hoa Kỳ và bài học cho các doanh nghiệp Việt Nam
Trong hoạt động xúc tiến xuất khẩu hàng hoá nói chung và mặt hàng đồ
gỗ nói riêng vào thị trường Hoa Kỳ, Malaysia và Thái Lan là hai quốc gia trong
khu vực đã thành công. Do đặc điểm của hai nước này có những nét tương đồng
giống Việt Nam vì vậy thành công của họ trong hoạt động xúc tiến xuất khẩu
nói chung và đồ gỗ nói riêng là bài học quý giá cho Việt Nam.

khẩu đồ gỗ vào thị trường Hoa Kỳ.
+ Tổ chức các hội chợ triển lãm cho các doanh nghiệp Malaysia giới thiệu
sản phẩm đồ gỗ tại thị trường Hoa Kỳ.
+ Hỗ trợ thông tin cho nhà nhập khẩu đồ gỗ Hoa Kỳ
22
Hình 1.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của MATRADE
23
18
văn phũng
nước
ngoài
Ph
ũng phõn
tớch
thống kờ
Ph
ũng hỗ
trợ và
dịch vụ tự
động
Ph
ũng mạng
và an ninh
Bộ
phận
chõu
Âu/chõu
Mỹ
Bộ
phận thúc

Ph
ũng chõu
Phi
Ph
ũng Mỹ,
Canada và
Caribe
Ph
ũng Trung
và Nam
Mỹ
Ph
ũng Tõy
Âu
Ph
ũng Nga
và Đông
Âu
Ph
ũng 14
văn phũng
nước
ngoài
Ph
ũng dịch
vụ tư vấn
xuất khẩu
Ph
ũng phỏt
triển và

Á/chõu
Phi
24
1.5.2 Kinh nghiệm của Thái Lan
Các hoạt động hỗ trợ xúc tiến thương mại tại Thái Lan được giao chủ yếu cho Cục xúc tiến xuất khẩu – thuộc Bộ thương
mại Thái Lan (viết tắt là DEP). Sau nhiều năm hoạt động, DEP Thái Lan là một bộ phận quan trọng của Bộ Thương mại Thái
Lan, có tổng số nhân viên trên 700 người, với một cơ cấu tổ chức tương đối hoàn thiện gồm các Văn phòng, Trung tâm hỗ trợ
từng hoạt động XTTM và 22 chi nhánh, văn phòng ở nước ngoài.
DEP có vai trò như sau:
+ Tổ chức cho các doanh nghiệp xuất khẩu đồ gỗ Thái lan tham gia các hội chợ thương mại ở Hoa Kỳ. Hàng năm, DEP
thường xuyên phối hợp với các khu vực tư nhân và Nhà nước đứng ra tổ chức cho nhiều đoàn doanh nghiệp Thái Lan tham gia
các hội chợ triển lãm quốc tế về hàng hoá nói chung và mặt hàng đồ gỗ nói riêng. Đối với các thị trường trọng điểm như Hoa Kỳ,
hầu hết các hội chợ quốc tế đều có các doanh nghiệp Thái Lan tham gia. DEP còn nghiên cứu và có những đề xuất lên Chính phủ
Thái Lan nhằm mở rộng, tìm kiếm các thị trường mới.
+ Giới thiệu sản phẩm đồ gỗ qua mạng Internet.
+ Giới thiệu các cơ hội kinh doanh qua mạng như đăng tải các nhu cầu cần mua hoặc cần bán lên trang web của DEP để
các doanh nghiệp nhập khẩu đồ gỗ Hoa Kỳ biết thông tin và liên hệ.
+ Quảng bá các thương hiệu đồ gỗ nổi tiếng của Thái Lan.
+ Tổ chức trao giải thưởng xuất khẩu đồ gỗ cho các doanh nghiệp Thái Lan.
+ Tổ chức trung tâm dịch vụ xuất khẩu một cửa.
18
văn phũng
nước
ngoài
Ph
ũng chõu
Phi
Ph
ũng 14
văn phũng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status