Học viện chính trị - hành chính quốc gia hồ chí minh báo cáo tổng kết đề tài khoa học cấp bộ
nghèo đói và sự phân hóa
giàu nghèo tỉnh trà vinh Cơ quan chủ trì: học Viện Ct-Hc khu vực II
Chủ nhiệm đề tài:
ThS. mai chiếm hiếu
Th ký đề tài:
ths. phạm thành long
Điều tra nghèo đói có sự tham gia của người dân
PTCS : Phỉ th«ng c¬ së
PTTH : Phỉ th«ng trung häc
QĐ : Quyết đònh
TTg : Thủ tướng
Tr : Trang
UBND :
Uỷ ban nhân dân
UNPA :
Quỹ dân số Liên hợp quốc
TP : Thµnh phè
XĐGN : Xoá đói giảm nghèo
XHCN : X· héi chđ nghÜa
VHLSS :
Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam
WB :
Ngân hàng Thế giới
i
MỤC LỤC
trang
Phần mở đầu ...............................................................................................1
Chương I: Lý luận về nghèo đói và sự phân hoá giàu nghèo .................. 15
1.1. Quan điểm và nhận thức về vấn đề nghèo đói .....................................15
1.1.1. Một số khái niệm về tình trạng nghèo đói .....................................15
1.1.2. Nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối..................................................18
1.1.3. Ngưỡng nghèo ....................................................................................... 19
1.2. Tăng trưởng kinh tế, nghèo đói và sự phân hóa giàu nghèo –
những căn cứ lý luận.............................................................................23
1.3. Hồ sơ về tình trạng nghèo đói và phân hóa giàu nghèo trên thế giới và
ở tỉnh Trà Vinh.....................................................................................85
2.2.1.5. Những hộ gia đình nghèo ở tỉnh Trà Vinh phần lớn là sở hữu
quy mô gia đình lớn, tỉ lệ phụ thuộc cao ...............................................90
2.2.1.6. Tình trạng nghèo đói của dân tộc Khơme ở tỉnh Trà Vinh là
rất trầm trọng ........................................................................................91
2.2.2. Tình trạng phân hoá giàu nghèo ở tỉnh Trà Vinh...............................95
2.2.2.1. Khoảng cách thu nhập theo khu vực ở tỉnh Trà Vinh......................95
iii
2.2.2.2. Khoảng cách thu nhập theo nhóm hộ ở tỉnh Trà Vinh ....................96
2.2.2.3. Phân hoá giàu nghèo - nhìn ở bình diện tổng thể tỉnh Trà vinh......98
2.2.3. Những nhân tố tác động đến tình trạng nghèo đói ở tỉnh Trà Vinh...103
2.2.3.1. Mô hình xác đònh nhân tố tác động đến nghèo đói tỉnh Trà Vinh..103
2.2.3.2. Kết quả ước lượng mô hình (mô hình logit) ..................................104
2.2.3.3. Giải thích kết quả ước lượng của mô hình .....................................107
Chương III: Giải pháp giảm thiểu nghèo đói và phân hoá giàu nghèo
ở tỉnh Trà Vinh .................................................................................... 114
3.1. Quan điểm đònh hướng giải pháp chính sách XĐGN ở nước ta............ 114
3.2. Nhìn lại tình trạng nghèo đói và phân hoá giàu nghèo ở tỉnh
Trà Vinh ................................................................................................... 119
3.3. Một số giải pháp XĐGN và nâng cao mức sống dân cư ở tỉnh
Trà Vinh...............................................................................................122
3.3.1. Xây dựng và từng bước thực hiện có hiệu quả mô hình
“ly nông bất ly hương”.........................................................................122
3.3.2. Giải pháp về đất sản xuất .................................................................124
3.3.3. Giải pháp về tín dụng cho người nghèo ............................................125
3.3.4. Giải pháp nâng cao kỹ thuật – công nghệ sản xuất nông nghiệp......127
3.3.5. Giải pháp cho thò trường đầu ra nông sản .........................................128
3.3.6. Giải pháp về phát triển giáo dục - đào tạo........................................130
3.3.7. Giải pháp về vấn đề dân số và kế hoạch hoá gia đình......................133
3.3.8. Giải pháp đối với đồng bào dân tộc Khơme .....................................133
tiên mang lại sự tăng trưởng kết hợp với công bằng lại không được tiếp nối.
2
Trong những năm gần đây, một bức tranh đáng quan ngại đang hiện lên với
các khoảng cách chênh lệch gia tăng dần giữa các vùng giàu và nghèo của đất
nước, đặc biệt là giữa các trung tâm tăng trưởng chính và những khu vực còn
nằm bên lề của sự phát triển”
1
.
Tuy không thể phủ nhận những thành tựu giảm nghèo màViệt Nam đã
đạt được trong thời gian qua là rất nổi bật, thế nhưng chúng ta cũng cần phải
thận trọng khi xem xét. Kết quả điều tra mức sống dân cư do Tổng cục Thống
kê thức hiện cho thấy, theo chuẩn quốc tế tỉ lệ hộ nghèo của Việt Nam đã
giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 19,5% năm 2004. Theo đánh giá của Liên
hợp quốc, Việt Nam đã về đích trước 10 năm so với mục tiêu xóa đói giảm
nghèo trong thực hiện mục tiêu Thiên niên kỷ
2
. Tuy nhiên, nếu căn cứ vào
ngưỡng nghèo mới của Việt Nam (mức thu nhập 200.000 đồng/người/tháng
đối với khu vực nông thôn và 260.000 đồng/người/tháng đối với khu vực thành
thò), tương đương chuẩn quốc tế là 2USD/ngày (tính theo PPP), thì số hộ
nghèo của Việt Nam có thể lên tới 4 triệu hộ, tăng gần 3 lần so với tiêu chí
cũ, khoảng 22% (năm 2005). Dưới góc nhìn của WB cho thấy, tốc độ giảm
nghèo của Việt Nam tăng nhanh trong giai đoạn 1993-1998, từ 58,1% xuống
37,4%, nhưng sau đó đã bò chững lại (tỉ lệ nghèo chung năm 2005 là 22,3%)
3
.
Rõ ràng, ước tính tình trạng nghèo là rất nhạy cảm do tính đại diện trong điều
tra, lựca chọn tiêu chí. Nhưng dù ước tính theo tiêu chí nào chăng nữa thì rõ
ràng, tình trạng nghèo đói hiện nay ở Việt Nam vẫn đang ở mức rất cao và
đáng quan ngại. Để đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững trong bối cảnh hội
Đặc biệt, ở ĐBSCL nghèo đói trở thành một hiện tượng phổ biến đối
với đồng bào dân tộc Khmer. Tuy chưa có cuộc điều tra riêng cho từng dân
tộc, nhưng theo Hà Quế Lâm (2002), qua tổng hợp các cuộc điều tra đã kết
luận rằng, các nhóm dân tộc thiểu số, trong đó có dân tộc Khmer ở ĐBSCL có
mức độ nghèo đói gấp 2-3 lần so với mức nghèo chung theo vùng.
Đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng ĐBSCL chủ yếu là người Khmer,
hiện có hơn 1 triệu người sinh sống tập trung phần lớn ở vòng cung từ các tỉnh
giáp giới Campuchia là Kiên Giang (182.056 người, chiếm 12,2% dân số), An
Giang (78.706 người, chiếm 3,8% dân số), đến các tỉnh giáp biển Đông là Cà
Mau (20.082 người, chiếm 1,9% dân số), Bạc Liêu (56.132 người, chiếm 7,6% 1
Phan Thò Hạnh Thu(2007). Tự do hóa thương mại và nghèo đói ở Việt Nam. Tạp chí nghiên cứu kinh tế số
355. Tr. 8-11.
4
dân số), Sóc Trăng (336.269 người, chiếm 28,7% dân số), Trà Vinh (290.932
người, chiếm 31,1% dân số), Cần Thơ (32.788 người, chiếm 1,8% dân số). Số
liệu điều tra mức sống dân cư năm 2002 từ Tổng cục Thống kê đã cho thấy
tình trạng nghèo đói ở hai tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh – khu vực tập trung
nhiều dân tộc Khmer sinh sống nhất là rất nghiêm trọng, lần lượt là 37,5% và
33,6% (hai tỉnh có tỉ lệ nghèo cao nhất vùng ĐBSCL)
1
.
Bên cạnh đó, dường như mô hình chữ U ngược trong giai đoạn đầu của
tăng trưởng kéo theo sự gia tăng về bất bình đẳng của Kuznets đang hiện diện
hầu hết các vùng của Việt Nam; trong đó, ĐBSCL cũng không là ngoại lệ.
Theo Tổng cục Thống kê, mức phân hoá giàu nghèo được đo lường theo hệ số
GINI ở ĐBSCL năm 2002 là 0.30, một giá trò khá lý tưởng; song điều đáng
2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
Như đã đề cập, nghèo đói đang trở thành một vấn nạn của toàn cầu, do
đó nó là lónh vực đã được nghiên cứu và mổ xẻ rất nhiều, sâu và rộng trên
khắp thế giới, trong đó tập trung rất nhiều cho các nước đang phát triển. Các
công trình nghiên cứu tập trung chủ yếu vào phân tích các khía cạnh về tình
cảnh nghèo đói ở trong lòng các quốc gia này; sự phân hoá giàu nghèo và
phân tầng xã hội. Có thể kể đến một số tác giả nổi bật vớiø các công trình tiêu
biểu sau đây:
- O. De Solages, 1996. Những thành công và thất bại về phát triển trong Thế
giới thứ ba. NXB CTQG, Hà Nội.
- Lusadi M., and Browing M., 1996. Household saving: Micro theories and
Micro facts. Jounal of Economic Literature, vol XXXIV, pp: 1797 - 1855.
- Todaro M. P., 1997. Economic Development. Fourth edition. Longman
Singapore Publishers.
Đối với Việt Nam, đặc biệt kể từ sau đổi mới đã có rất nhiều công trình
nghiên cứu về nghèo đói và sự phân hoá giàu nghèo của các tổ chức và cá
nhân trong và ngoài nước đã được công bố. Những công trình nghiên cứu này
bao gồm những nhóm nội dung cơ bản sau:
Nghèo đói ở Việt Nam, nhìn từ góc độ lý luận đến thực tiễn, gồm có
các công trình tiêu biểu: 1
Đảng Cộng sản Việt Nam, 2001.Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nxb
CTQG.Tr.106,162,166.
6
- Oxfam, 2000. Việt Nam - những thách thức mới trong tăng trưởng, công
bằng và giảm nghèo. Hà Nội.
- Vũ Thò Ngọc Phùng, 1999. Tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và vấn đề
hiện nay - thực trạng và giải pháp. NXB CTQG, Hà Nội.
- WB(2000). Việt Nam: Tiếng nói của người nghèo. Báo cáo tổng hợp của
Action Aid Việt Nam, Oxfam, Quỹ cứu trợ nhi đồng Anh và chương trình phát
triển của Nông thôn và Miền núi của Việt Nam và Thụy Điển, Hà Nội.
- UNDP, 2003. Đánh giá nghèo đói theo vùng- vùng ĐBSCL.
Tuy nhiên, những công trình trên nghiên cứu ở bình diện rộng nhưng
chưa thật cụ thể, chưa phản ánh tính đặc thù như nội dung mà đề tài sẽ nghiên
cứu.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Với đề tài nghiên cứu này, chúng tôi sẽ hướng vào một số mục tiêu cơ
bản sau:
- Đánh giá thực trạng nghèo đói và sự phân hoá giàu nghèo ở tỉnh Trà Vinh.
- Trên cơ sở đó, chúng tôi đưa ra một số nhóm giải pháp đối với từng nhóm
đối tượng nhằm đẩy nhanh tốc độ giảm nghèo đối với khu vực nghiên cứu.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài thông qua các phương pháp
nghiên cứu và phân tích sau đây:
- Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lòch sử, phương pháp quy
nạp nhằm hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về nghèo đói tạo nền tảng
và đònh hướng cho quá trình nghiên cứu.
- Sử dụng phương pháp chuyên gia để phân tích nội dung đề tài, tổ chức hội
thảo để thẩm tra, lấy ý kiến bổ sung, hoàn thiện nội dung đề tài.
- Sử dụng phương pháp điều tra xã hội học nhằm thu thập số liệu theo các tiêu
thức nghiên cứu. Trên cơ sở đó, sử dụng các phương pháp thống kê mô tả,
8
phương pháp tương quan nhằm làm rõ từng vấn đề trong phân tích, đánh giá
thực trạng nghèo đói và sự phân hoá giàu nghèo ở tỉnh Trà Vinh.
4.1. Phương pháp đo lường nghèo đói
Vận dụng phương pháp đo lường mức độ và tính nghiêm trọng của tình
trạng nghèo thông qua các công thức đã đïc Foster và ctv đề nghò năm
: các chỉ số xác đònh mức độ nghèo
Y
i
: đại lượng xác đònh phúc lợi (thu nhập tính trên đầu người) cho người
thứ i xếp theo thứ tự tăng dần.
Z: ngưỡng nghèo
N: số người có trong mẫu dân cư
M: số người nghèo
α: đại lượng đo mức độ quan tâm đến sự bất bình đẳng giữa những
người nghèo.
α = 0,công thức (4.2) trở thành : P
0
=
N
M
(ia)
Công thức (ia) thể hiện bằng số người nghèo chia cho tổng số người
trong mẫu. Đây được gọi là tỉ số đếm đầu (Headcount ratio) hay chỉ số đếm
đầu (Headcount index).
α = 1,công thức (i) trở thành: P
1
=
∑
=
−
M
i
i
Z
YZ
i
=
kk
kk
XX
XX
e
e
βββ
βββ
++
++
+
221
221
1
(ii)
Hay: P
i
=
)(1
)(
221
221
kk
kk
XXEXP
XXEXP
βββ
βββ
βββ
++
++
+
221
221
1
(ii) 1
Nguyễn Quang Dong (2002)
10
Bằng động tác tuyến tính hoá, mô hình (ii) trở thành:
Ln
⎟
⎟
⎠
⎞
⎜
⎜
⎝
⎛
−
i
i
P
P
1
= β
(β1+β2X2+βkXk)
Giả đònh rằng các yếu tố khác không thay đổi, khi tăng X
k
lên 1 đơn vò,
tỉ lệ giữa xác suất nghèo và xác xuất không nghèo (O
1
) sẽ là:
O
1
=
1
1
1 P
P
−
= e
[β1+β2X2+βk(Xk+1)]
=
= e
(β1+β2X2+βkXk+βk)
=
e
(β1+β2X2+βkXk)
*e
βk
Suy ra: O
1
=
k
k
e*Oo1
e*Oo
β
β
+
(iic)
Công thức (iic) thể hiện ý nghóa, với các yếu tố khác cố đònh, khi yếu tố
X
k
tăng lên 1 đơn vò, xác suất nghèo của một hộ gia đình sẽ chuyển dòch từ P
0
sang P
1
.
4.3. Phương pháp đo lường mức độ phân hóa giàu nghèo
- Đo lường mức phân phối thu nhập theo nhóm 20% số hộ có thu nhập từ
thấp đến cao
Theo cách đo lường này, người ta chia mẫu dân cư ra làm 5 nhóm, mỗi
nhóm 20% số hộ gia đình có thu nhập từ thấp nhất (nhóm I) đến cao nhất
(nhóm V). Trên cơ sở đó, xem xét tỉ lệ phần trăm theo thu nhập và khoảng
11
chênh lệch thu nhập giữa nhóm V so với nhóm I, cũng như đối với các nhóm
còn lại. Đây là một công cụ được sử dụng rất phổ biến trên thế giới nhằm đo
lường mức bất bình đẳng trong phân phối thu nhập.
- Đo lường tỉ trọng theo phần trăm số hộ có các mức thu nhập đáy, giữa
(A + B).
Cụ thể, hệ số GINI: G =
BA
A
+
Theo A. Sen (1973), công thức tính hệ số GINI được cụ thể hoá như
sau:
G =
∑
=
−+
n
i
ii
YR
Mnn
1
2
21
1
(4.3)
Trong đó:
n: là số hộ mẫu
Y
i
: mức thu nhập bình quân đầu người tương ứng hạng thứ i
M: mức thu nhập mẫu bình quân
R
i
1.2. Tăng trưởng kinh tế, nghèo đói và sự phân hóa giàu nghèo – những căn
cứ lý luận
1.3. Hồ sơ về tình trạng nghèo đói và phân hóa giàu nghèo trên thế giới và
của Việt Nam
1.4. Nguyên nhân của nghèo đói ở Việt Nam
Chương II: Thực trạng nghèo đói và sự phân hoá giàu nghèo ở tỉnh Trà
Vinh
2.1. Tổng quan về đòa bàn nghiên cứu
2.2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận về tình trạng nghèo đói và phân hóa
giàu nghèo ở tỉnh Trà Vinh
2.2.1. Thực trạng và đặc điểm nghèo đói ở tỉnh Trà vinh
2.2.2. Tình trạng phân hoá giàu nghèo ở tỉnh Trà Vinh
2.2.3. Những nhân tố tác động đến tình trạng nghèo đói ở tỉnh Trà Vinh
Chương III: Giải pháp giảm thiểu nghèo đói và phân hoá giàu nghèo ở
tỉnh Trà Vinh
3.1. Quan điểm đònh hướng giải pháp chính sách XĐGN ở nước ta
3.2. Nhìn lại tình trạng nghèo đói và phân hoá giàu nghèo ở tỉnh Trà Vinh
14
3.3. Một số giải pháp về XĐGN và nâng cao mức sống dân cư ở tỉnh Trà
Vinh.
Sau thời gian nghiên cứu, nhóm đề tài đã hoàn tất công việc. Sản phẩm
của đề tài nghiên cứu bao gồm:
- Kỷ yếu khoa học.
- Tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài khoa học.
- Báo cáo tóm tắt.
- Đóa mềm chứa toàn bộ nội dung đề tài.
Tổng quan đề tài gồm 3 chương, phần mở đầu và kết luận, với tổng số
145 trang. Do thời gian nghiên cứu và trình độ hạn chế, các sản phẩm của đề
tài chắc chắn còn khiếm khuyết, rất mong được sự góp ý để chúng tôi tiếp thu
và hoàn thiện thêm. Xin chân thành cảm ơn!
chỉ là các khái niệm tương đối, biểu hiện mối tương quan về thu nhập và mức
sống giữa các tầng lớp dân cư trong từng thời gian và không gian cụ thể. Hơn
thế nữa, nghèo còn là sự bao hàm nhiều khía cạnh khác nhau. Các quan điểm
khác nhau về nghèo của con người được trình bày dưới đây sẽ cho thấy một
bức tranh rộng lớn hơn về tình trạng thiếu thốn, trong đó bao gồm nhiều yếu
tố khác nhau.
Vào cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990, nhà xã hội học
William Wilson đã đưa ra thuật ngữ underclass (tầng lớp hay giai cấp dưới) để
chỉ nhóm xã hội của những người nghèo. Theo đó, họ được gọi là những người
không có trình độ và kỹ năng, luôn chòu sự tách biệt xã hội, không có khả
năng tiếp cận hoặc không có được các mối liên hệ với các cá nhân khác, với
16
những thể chế có thể đem lại cho họ nguồn lợi về kinh tế và các vò thế về xã
hội
1
.
Tại hội nghò chống nghèo đói do ủy ban kinh tế - xã hội khu vực Châu
Á – Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 9
năm 1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất với nhau rằng: “Nghèo
đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu
cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát
triển kinh tế, xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy
được xã hội thừa nhận”.
Hội nghò thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại
Copenhagen Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một đònh nghóa cụ thể hơn về
nghèo đói như sau: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn
dưới 1 đô la (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua
những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”.
Theo một cách nhìn khác, O.de solages (1996) đã cho rằng, nghèo khổ
cùng cực là một điều kiện sống bò hạn chế bởi suy dinh dưỡng, mù chữ, bệnh
2
.
Theo tiến trình phát triển của lý luận, mặc dù trong nhiều năm qua các
nhà khoa học kinh tế và xã hội đã có nhiều nỗ lực trong việc đưa ra một đònh
nghóa chính xác về nghèo, nhưng do tính tương đối về mặt không gian và thời
gian, cũng như tính nhiều mặt của vấn đề nghèo mà những đònh nghóa mới chỉ
dừng lại ở mức tương đối.
Tóm lại, nghèo là tình trạng của một bộ phân dân cư có các điều kiện
vật chất và tinh thần để duy trì cuộc sống gia đình họ ở dưới mức sống tối
thiểu trong điều kiện chung của cộng đồng. Mức sống tối thiểu ở đây được
hiểu là các điều kiện ăn, ở, mạêc, sức khỏe và các nhu cầu khác như văn hóa, y
tế, giáo dục, đi lại, giao tiếp chỉ đạt mức duy trì cuộc sống rất bình thường.
Mức sống tối thiểu của mỗi nước sẽ khác nhau tùy thuộc vào khí hậu, những
đặc điểm tự nhiên, và một phần lớn là tùy thuộc vào mức độ văn minh đã đạt
được của từng thời đại và của mỗi quốc gia, như C.Mác đã kết luận: "Đối với
một nước và một thời đại nhất đònh, mức độ cần thiết về những tư liệu sinh
hoạt cũng nhất đònh"
3
. Về cơ bản, người nghèo là người phải sống dưới mức
được đònh nghóa như là chuẩn thấp nhất có thể chấp nhận được trong một
khoảng thời gian và không gian xác đònh. Cốt lỏi của khái niệm này là thiếu 1
WB(2004). Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2004: Nghèo. Tr.7.
2
Lương Hồng Quang, 2002. Văn hóa của nhóm nghèo ở Việt Nam – thực trạng và giải pháp. NXB Văn hóa
Thông tin, Hà Nội. Tr. 46.
3
C.Mac(1960). Tư bản, quyển 1, tập 1. NXB. Tr. 236.
1
Nguyễn Thò Cành, 2001. Diễn biến mức sống dân cư, phân hóa giàu nghèo và các giải pháp xóa đói giảm
nghèo trong quá trình chuyễn đổi nền kinh tế Việt Nam nhìn từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh. Nxb Lao
động - Xã hội, TP. Hồ Chí Minh. Tr. 15.
19
nghèo tương đối chỉ một mức độ của điều kiện sống mà ở đó những người của
tầng lớp dưới được xem là kém phát triển hơn trong tương quan so sánh với
những người thuộc tầng lớp khác.
Cụ thể, sự phân biệt giữa nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối ở chỗ:
nghèo tuyệt đối đề cập đến các tiêu chuẩn về các nhu cầu cần thiết tối thiểu
của một con người, trong khi đó nghèo tương đối nói đến vò trí ở dưới mức
sống phổ biến trong một cộng đồng.
1.1.3. Ngưỡng nghèo
Trong khi các khái niệm nghèo về con người cho thấy một bức tranh
rộng lớn về tình trạng thiếu thốn ở một quốc gia, nghèo về thu nhập hoặc
nghèo về chi tiêu lại là một công cụ mang tính thực tiễn nhiều hơn và dễ
lượng hoá hơn nhằm mô tả về tình trạng nghèo theo thời gian và không gian.
Nghèo về thu nhập hay chi tiêu được xác đònh thông qua một giới hạn gọi là
ngưỡng nghèo.
1.1.3.1. Ngưỡng nghèo tuyệt đối
Ngưỡng ngghèo tuyệt đối của thế giới do WB xác đònh là 1USD và 2
USD mỗi ngày mỗi người tính theo ngang giá sức mua (PPP) năm 1993.
Ngưỡng 1 USD thường được sử dụng cho các nước kém phát triển, chủ yếu là
châu Phi và Nam Á; ngưỡng 2 USD được dùng cho các nền kinh tế có mức thu
nhập trung bình như Đông Á và Mỹ Latinh
1
.
1.1.3.1.1. Ngưỡng nghèo theo chi tiêu
Theo WB(2000), một người nào đó có mức sống dưới mức tối thiểu tại
một thời điểm nào đó được coi là nghèo. Giới hạn tối thiểu này dựa trên một
là các sản phẩm, dòch vụ phi lương thực (bảng 1.1).
Chẳng hạn, WB đã xây dựng ngưỡng nghèo lương thực thực phẩm và
ngưỡng nghèo chung theo chi tiêu cho Việt Nam dựa trên một rổ các loại
lương thực, thực phẩm đảm bảo mức năng lượng đầu người là 2.100 calories
một ngày và các sản phẩm phi lương thực cần thiết tối thiểu. Rổ lương thực và
các sản phẩm phi lương thực này được xây dựng trên cơ sở VHLSS93 và 1
WB(2000). Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2000:Tấn công nghèo đói. Tr.157.