biện pháp giảm giá thành điện năng tại công ty cổ phần nhiệt điện phả lại - Pdf 23

Đồ án tốt nghiệp Trịnh Mạnh Hùng_KTNL_K48
LỜI MỞ ĐẦU
Ngành điện là một trong những ngành quan trọng của bất kỳ một quốc
gia nào. Nó đóng vai trị vô cùng quan trọng trong mọi hoạt động của nền kinh
tế, mà trong đó điện năng là loại năng lượng được sử dụng chiếm tỷ trọng
cao.
Việt Nam là một quốc gia với nền kinh tế đang phát triển nên việc phát
triển Ngành điện phục vụ cho chương trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá
lại càng quan trọng. Nhưng ở Việt Nam thì sự phát triển đang còn kém so với
các nước, mặt khác trình độ dân trí còn chưa phát triển cao do vậy mà ngành
điện vẫn đang còn độc quyền sản xuất và kinh doanh sản phẩm điện năng nên
dẫn đến tình trạng tổn thất điện năng là rất lớn cũng như công tác quản lý ở
Việt Nam chưa đạt đến trình độ ngang tầm với các nước khác trong khu vực
cũng như trên thế giới. Vì vậy mà giá thành điện của Việt Nam còn cao.
Sản phẩm điện năng là loại sản phẩm đặc biệt, không có sản phẩm dở
dang, lại được nhà nước quy định giá bán đầu ra, nên việc giảm bớt chi phí hạ
giá thành sản phẩm trong quá trình sản xuất kinh doanh là điều quan trọng cần
thiết được coi là nền tảng cơ bản để đứng vững trong cơ chế thị trường, đảm
bảo cho ngành điện đạt lợi nhuận cao
Trong đồ án này, đề tài của em là “Biện pháp giảm giá thành điện năng
tại Công ty Cổ phần Nhiệt điện Phả Lại”. Đó chính là một trong những mục
tiêu phát triển của ngành điện trong giai đoạn này.
Để đưa ra những biện pháp giảm giá thành thì trước hết ta cần phải
nắm được những vấn đề cơ bản về giá thành cũng như việc hạch toán giá
thành của bất kỳ một loại sản phẩm nào đó mà ở đây điện năng là một
trong những sản phẩm quan trọng của ngành công nghiệp. Vì vậy ta cần
phải so sánh cũng như việc tìm hiểu sự biến động của giá thành để có thể
Đại Học Bách Khoa Hà Nội - 1
Đồ án tốt nghiệp Trịnh Mạnh Hùng_KTNL_K48
đưa ra được những yếu tố chính làm cho giá thành tăng để từ đó có biện
pháp khắc phục cũng như hạn chế.

động sản xuất trong thời kỳ nhất định.
Để tiến hành các hoạt động sản xuất, doanh nghiệp cần phải có 3 yếu tố
cơ bản.
- Tư liệu lao động như nhà xưởng, máy móc, thiết bị và những TSCĐ
khác.
- Đối tượng lao động như nguyên vật liệu, nhiên liệu
- Lao động của con người.
Quá trình sử dụng các yếu tố cơ bản trong quá trình sản xuất cũng đồng
thời là quá trình doanh nghiệp phải chi ra những chi phí sản xuất tương
ứng. Tương ứng với việc sử dụng tài sản cố định là chi phí về khấu hao tài sản
cố định, tương ứng với việc sử dụng nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu là
những chi phí về nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, tương ứng với việc sử dụng
lao động là chi phí về tiền công, tiền trích bảo hiểm xã hội, tiền trích bảo hiểm
y tế Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá và cơ chế hạch toán kinh doanh,
Đại Học Bách Khoa Hà Nội - 3
Đồ án tốt nghiệp Trịnh Mạnh Hùng_KTNL_K48
mọi chi phí đều được thực biểu hiện bằng tiền, trong đó chi phí về tiền công,
tiền trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế là biểu bằng tiền của hao phí về lao
động sống, còn chi phí về khấu hao tài sản cố định, chi phí về nguyên liệu, vật
liệu, nhiên liệu là biểu hiện bằng tiền của hao phí về lao động vật hoá.
Một doanh nghiệp sản xuất ngoài những hoạt động có liên quan đến
hoạt động sản xuất ra sản phẩm hoặc lao vụ, còn có những hoạt động kinh
doanh và hoạt động khác không có tính chất sản xuất như hoạt động bán hàng,
hoạt động quản lý, các hoạt động mang tính chất sự nghiệp chỉ những chi
phí để tiến hành các hoạt động sản xuất mới coi là chi phí sản xuất.
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp phát sinh thường xuyên trong suốt
quá trình tồn tại và hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, nhưng để phục vụ
cho quản lý và hạch toán kinh doanh, chi phí sản xuất được tính toán theo
từng thời kỳ: hàng tháng, hàng quý, hàng năm phù hợp với kỳ báo cáo. Chỉ
những chi phí sản xuất mà doanh nghiệp phải bỏ ra trong kỳ mới được tính

nghiệp thực hiện như chi phí nhiên liệu – năng lượng, thuê ngoài sửa chữa,
kiểm toán…
oChi phí khác bằng tiền
Bao gồm các khoản thuế, lệ phí phải nộp, các chi phí hoạt động tài chính,
hoạt động bất thường…
Trong vấn đề quản lý tài chính doanh nghiệp, cách tiếp cận này thường
được sử dụng và chi tiết hóa khi tính đến đối tượng thụ hưởng (chi phí đối với
doanh nghiệp chính là lợi ích của chủ thể có liên quan).
b. Phân loại theo khoản mục chi phí
Cách phân lọai này căn cứ vào công dụng thực tế của chi phí tương ứng
với quán trình phát sinh. Cách phân loại được áp dụng trong hệ thống kế toán
Đại Học Bách Khoa Hà Nội - 5
Đồ án tốt nghiệp Trịnh Mạnh Hùng_KTNL_K48
tài chính. Theo đó có 5 khoản mục liên quan đến hoạt động sản xuất kinh
doanh được xem xét là :
o Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Là toàn bộ các chi phí phát sinh để mua sắm các đối tượng lao động cần
thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ xem xét.
o Chi phí nhân công trực tiếp
Là chi phí cho lao động tham gia trực tiếp vào quá trình tạo ra sản phẩm
o Chi phí sản xuất chung
Bao gồm chi phí nhiên liệu – năng lượng dùng trong sản xuất, lương và
các khoản kèm theo của cán bộ quản lý trực tiếp, khấu hao TSCĐ dùng trong
sản xuất…, phát sinh tại các bộ phận sản xuất.
o Chi phí bán hàng
Gồm lương của nhân viên bán hàng, chi phí marketing, khấu hao TSCĐ
dùng trong bán hàng (cửa hàng, phương tiện vận tải…) và các yếu tố mua
ngoài liên quan.
o Chi phí quản lý doanh nghiệp
Gồm lương của cán bộ quản lý doanh nghiệp, khấu hao TSCĐ dùng

phí gián tiếp được tính vào giá mỗi loại sản phẩm, dịch vụ một cách gián tiêp
bằng phương pháp phân bổ.
Trên góc độ của nhà quản lý, chi phí trực tiếp thường phát sinh và mất
đi của một hoạt động sản xuất_kinh doanh cụ thể. Trái lại,các chi phí gián
tiếp,không phát sinh và mất đi cùng với sự phát sinh và mất đi của một hoạt
động sản xuất_kinh doanh cụ thể (ví dụ: chi phí khấu hao tài sản cố định, chi
phí quản lý doanh nghiệp….)
o Phân loại chi phí theo lĩnh vực hoạt động kinh doanh
Đại Học Bách Khoa Hà Nội - 7
Đồ án tốt nghiệp Trịnh Mạnh Hùng_KTNL_K48
Căn cứ vào việc tham gia của chi phí vào hoạt động kinh doanh, toàn
bộ hao phí được chia làm 3 loại:
 Chi phí sản xuất kinh doanh: bao gồm những chi phí liên quan đến
hoạt động sản xuất, tiêu thụ và quản lý hành chính, quản trị kinh doanh
 Chi phí hoạt động tài chính: gồm những chi phí liên quan đến hoạt
động về vốn và đầu tư tài chính.
 Chi phí bất thường: gồm những chi phí ngoài dự kiến có thể do chủ
quan hay khách quan mang lại:
Cách phân loại này giúp cho việc phân định chi phí được chính xác,
phục vụ cho việc tính giá thành, xác định chi phí và kết quả của từng hoạt
động kinh doanh đúng đắn.
o Phân loại chi phí theo chức năng trong sản xuất kinh doanh:
Dựa vào chức năng hoạt động trong qúa trình kinh doanh và chi phí
liên quan đến việc thực hiện các chức năng mà chia chi phí sản xuất - kinh
doanh làm 3 loại:
 Chi phí thực hiện chức năng sản xuất: gồm những chi phí phát sinh
liên quan đến việc chế tạo sản phẩm hay thực hiện các lao vụ, dịch vụ trong
phạm vi phân xưởng.
 Chi phí thực hiện chức năng tiêu thụ: gồm tất cả những chi phí phát
sinh liên quan đến việc chế tạo sản phẩm hay thực hiện các lao vụ, dịch vụ

trình độ công nghệ,trình độ tổ chức sản xuất,trình độ quản lý v.v…
Đối tượng tính giá thành có thể là sản phẩm, dịch vụ hoàn thành, cũng
có thể là bán thành phẩm, là chi tiết, cụm chi tiết sản phẩm, nhóm sản phẩm,
đơn đặt hàng v.v…Nói tóm lại, đó là loại sản phẩm sản xuất cụ thể mà yêu
cầu quản lý cần xác định được giá thành và giá đơn vị sản phẩm để định giá
bán và tính toán ra kết quả kinh doanh hoặc đánh giá được kết quả hoạt động
của bôj phận sản xuất.
Kỳ tính giá thành là khoảng thời gian kế toán hệ thống số liệu về chi
phí sản xuất và khối lượng sản phẩm, dịch vụ hoàn thành và tiến hành tính
toán giá thành cho khối lượng sản phẩm, dịch vụ đó. Kỳ tính giá có thể định
kỳ: hàng tháng, hàng quý, nửa năm một lần hoặc hàng năm (đối với doanh
nghiệp sản xuất liên tục, mặt hàng ổn định) mà cũng có thể không định kỳ
(khi nào chu kỳ sản xuất kết thúc thì kế toán tiến hành tính giá thành như
trường hợp sản xuất theo đơn đặt hàng, sản xuất đơn chiếc, hàng loạt ít, sản
xuất không liên tục, mặt hàng thay đổi).
b. Ý nghĩa của giá thành sản phẩm
Đại Học Bách Khoa Hà Nội - 10
Đồ án tốt nghiệp Trịnh Mạnh Hùng_KTNL_K48
Trong hoạt động kinh tế, giá thành sản phẩm là một trong những chỉ
tiêu chất lượng chủ yếu, đánh giá trình độ hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
Trong phạm vi xã hội, giá thành hạ là cơ sở để giá bán sản phẩm rẻ
hơn. Đời sống văn hoá tinh thần của các thành viên trong xã hội được tăng
lên, tích luỹ tăng.
Trong phạm vi doanh nghiệp, giá thành sản phẩm càng hạ thì hiệu quả
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp càng cao, đem lại mọt nguồn
lợi nhuận đáng kể cho doanh nghiệp. Chính nguồn lợi nhuận đáng kể đó là cơ
sở cho các doanh nghiệp mới đưa vào hoạt động thu hồi vốn nhanh chóng.
Giá thành hạ lợi nhuận cao đối với các doanh nghiệp đã thu hồi xong vốn, lợi
nhuận còn là nguồn để các doanh nghiệp trích lập các quỹ doanh nghiệp,

nhập kho hoặc giao cho khách hàng.Giá thành sản xuất sản phẩm cũng là căn
cứ để tính toán giá trị hàng tồn kho, giá vốn hàng bán và lãi gộp ở doanh
nghiệp sản xuất.
Giá thành phân xưởng, giá thành công xưởng và giá thành toàn bộ
Giá thành phân xưởng là tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, nhân
công trực tiếp và chi phí sản xuất chung. Đó cũng chính là giá thành sản xuất.
Giá thành công xưởng là giá thành phân xưởng cộng với chi phí quản lý.
Giá thành toàn bộ bao gồm giá thành công xưởng và chi phí tiêu thụ sản
phẩm.
Giá thành kế hoạch và giá thành thực tế
Giá thành kế hoạch: là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở chi phí
sản xuất kế hoạch và sản lượng kế hoạch. Việc tính giá thành kế hoạch do bộ
phận kế hoạch doanh nghiệp thực hiện và được tiến hành trước khi bắt đầu
quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm. Giá thành kế hoạch của sản phẩm là
mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, là căn cứ để so sánh, phân tích, đánh giá
tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và kế hoạch hạ giá thành của sản phẩm
so sánh được.
Đại Học Bách Khoa Hà Nội - 12
Đồ án tốt nghiệp Trịnh Mạnh Hùng_KTNL_K48
Giá thành thực tế: là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở số liệu
chi phí sản xuất thực tế đã phát sinh và tập hợp được trong thời kỳ và sản
lượng sản phẩm thực tế đã sản xuất ra trong kỳ. Giá thành sản phẩm thực tế
chỉ có thể tính toán được sau khi kết thúc quá trình sản xuất, chế tạo sản
phẩm. Giá thành sản phẩm thực tế là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết
quả phấn đấu của doanh nghiệp trong việc tổ chức và sử dụng các giải pháp
về tổ chức, kinh tế, kỹ thuật để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm, là cơ sở
để xác định kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Giá thành định mức
Giá thành định mức là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở các định
mức chi phí hiện hành và chỉ tính cho một đơn vị sản phẩm. Việc tính giá

sản xuất, tiêu thụ sản phẩm tính cho toàn bộ sản lượng hàng hóa sản xuất
trong kỳ. Tổng giá thành cho biết toàn bộ chi phí bỏ ra trong kỳ và tỷ trọng
của từng loại chi phí có căn cứ để phân tích, tìm ra các biện pháp hạ giá thành
sản phẩm.
Tóm lại, giá thành sản phẩm là chỉ tiêu quan trọng quyết định hiệu quả
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
1.2.1. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai khái niệm riêng biệt có
những mặt khác nhau:
- Chi phí sản xuất luôn gắn liền với từng thời kỳ đã phát sinh ra chúng, còn
giá thành sản phẩm lại gắn với một khối lượng sản phẩm, dịch vụ đã hoàn thành.
- Chi phí phát sinh trong doanh nghiệp được phân thành các yếu tố chi
phí, có cùng một nội dung kinh tế. Chúng không nói rõ địa điểm và mục đích
bỏ ra chi phí. Còn những chi phí nào phát sinh, nói rõ địa điểm và mục đích
Đại Học Bách Khoa Hà Nội - 14
Đồ án tốt nghiệp Trịnh Mạnh Hùng_KTNL_K48
bỏ ra chi phí đó thì chúng được tập hợp lại thành các khoản mục để tính toán
giá thành sản phẩm, dịch vụ.
- Chi phí sản xuất trong kỳ bao gồm cả những chi phí đã trả trước của kỳ
nhưng chưa phân bổ cho kỳ này và những chi phí phải trả kỳ trước, nhưng kỳ
này mới phát sinh thực tế, nhưng không bao gồm chi phí trả trước của kỳ
trước phân bổ cho kỳ này và những chi phí phải trả cho kỳ này nhưng thực tế
chưa phát sinh. Ngược lại, giá thành sản phẩm lại chỉ liên quan đến chi phí
phải trả trong kỳ và chi phí trả trước được phân bổ trong kỳ.
- Chi phí sản xuất trong kỳ không chỉ liên quan đến những sản phẩm đã
hoàn thành mà còn liên quan đến cả sản phẩm còn đang dở dang cuối kỳ và
sản phẩm hỏng nhưng lại liên quan đến chi phí sản xuất của sản phẩm dở
dang kỳ trước chuyển sang.
Tuy nhiên chi phí sản phẩm và giá thành sản phẩm có mối quan hệ rất
mật thiết với nhau vì nội dung cơ bản của chúng đều là biểu diễn những chi

Z: Giá thành toàn bộ sản phẩm
C: Tổng chi phí sản xuất được tập hợp theo đối tượng tương ứng
Q: Số lượng sản phẩm sản xuất ra
z: Giá thành đơn vị sản phẩm
Đại Học Bách Khoa Hà Nội - 16
Đồ án tốt nghiệp Trịnh Mạnh Hùng_KTNL_K48
Trong trường hợp sản phẩm dở dang chênh lệch đáng kể giữa đầu kỳ và
cuối kỳ thì giá thành toàn bộ sản phẩm được tính theo công thức sau:
Z = C + D
đk
- D
ck
Giá thành đơn vị sản phẩm được tính theo công thức:

z =
Trong đó:
D
đk
: Chi phí sản phẩm dở dang đầu kỳ
D
ck
:Chi phí sản phẩm dở dang cuối kỳ
Trong trường hợp bên cạnh sản phẩm chính, đơn vị còn có sản phẩm
phụ, thì khi tính giá thành sản phẩm chính phải trừ bớt đi giá trị sản phẩm
phụ, lúc này giá thành toàn bộ sản phẩm được tính theo công thức:
Z = C + D
đk
- D
ck
- C

chính
+
CP chế
biến
bước 1
=>
Giá
thành
BTP
bước 1
+
CP chế
biến
bước 2
=>
Giá
thành
BTP
bước 2
+
CP chế
biến
bước n
=
Giá
thành
toàn bộ
SP
- Phương pháp tính giá thành phân bước không tính đến giá thành bán
thành phẩm. Phương pháp này thích hợp đối với doanh nghiệp có đối tượng

* Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng
Đây là phương pháp thích hợp cho sản phẩm có quy trình công nghệ
sản xuất phức tạp kiểu liên tục hoặc song song tổ chức sản xuất đơn chiếc
hàng loạt theo đơn đặt hàng, chu kỳ sản xuất dài và riêng rẽ. Đối tượng kế
toán tập hợp chi phí sản xuất là từng phân xưởng sản xuất và từng đơn đặt
hàng hoặc từng loạt hàng được sản xuất ở phân xưởng đó. Đối tượng tính giá
thành là thành phẩm của từng đơn đặt hàng hoặc từng loạt hàng. Kỳ tính giá
thành phù hợp với chu kỳ sản xuất. Khi nào sản xuất hoàn thành đơn đặt hang
thì kế toán mới tính giá thành cho các thành phẩm theo đơn đặt hàng.
* Phương pháp định mức
Phương pháp này được áp dụng trong các doanh nghiệp đã ổn định sản
xuất, đã xây dựng được hệ thống định mức các chi phí sản xuất cho các loại
sản phẩm hay chi tiết, bộ phận sản phẩm khác nhau. Trên cơ sở hệ thống định
mức tiêu hao lao động, vật tư hiện hành và dự toán về chi phí sản xuất chung,
kế toán sẽ xác định giá thành định mức của từng loại sản phẩm, đồng thời hạc
toán riêng các thay đổi, các chênh lệch so với định mức phát sanh trong quá
trình sản xuất sản phẩm và phân tích toàn bộ chi phí thực tế phát sinh trong kỳ
theo 3 loại : theo định mức, chênh lệch do thay đổi định mức và chênh lệch so
với định mức. Từ đó kế toán hiện hành xác định giá thành thực tế của sản
phẩm trên cơ sở các định mức hiện hành ngay từ đầu kỳ.
Giá thành
thực tế của
SP
=
Giá
thành
đm SP
+/-
Chênh
lệch so

Trong đó : C
1
, C
2
, …, C
n
là chi phí sản xuất của các chi tiết, bộ phận
sản xuất hoặc các giai đoạn công nghệ, bộ phận sản xuất.
Ngoài ra để tính giá thành sản phẩm người còn sử dụng một số phương
pháp khác như : phương pháp hệ số, phương pháp tỷ lệ, phương pháp tính giá
thành có loại trừ giá trị sản phẩm phụ…
II. Chi phí – Giá thành sản xuất điện năng
* Chi phí sự cố
Sự cố xảy ra khi các phương tiện bình thường không đáp ứng được nhu
cầu phụ tải. Nhóm lại gồm có:
o Các nhà máy nhiệt điện vận hành trong điều kiện bình thường
o Các nhà máy nhiệt điện đã ngừng hoạt động nhưng vẫn được sử
dụng như một bộ phận dự phòng.
Đại Học Bách Khoa Hà Nội - 20
Đồ án tốt nghiệp Trịnh Mạnh Hùng_KTNL_K48
o Các nhà máy nhiệt điện ngoài hệ thống.
Sự cố có thể biểu hiện dưới hai hình thức mà mức độ thiệt hại đối với
từng loại là khác nhau :
oSử dụng các biện pháp đặc biệt cho các nhà máy nhiệt điện làm việc
quá tải, kêu gọi sự hỗ trợ của các nhà máy điện ngoài hệ thống, nhập khẩu
điện, thực hiện điều khoản có thể cắt một vài hợp đồng giảm điện áp.
oNếu các biện pháp đặc biệt trên đó được áp dụng mà vẫn không đáp
ứng được nhu cầu thì ít nhiều phải cắt điện ở một số khu vực lớn.
Từ đó người ta đưa ra khái niệm “độ sâu” sự cố (ký hiệu là f) để đánh
giá mức độ sự cố của hệ thống trong một thời kỳ nhất định, f được xác định

C
kh
= G x α
kh
= ∑ G
i
x α
khi
G : tổng giá trị tài sản cố định
α
kh
: hệ số khấu hao
i : loại tài sản thứ i
o Chi phí tiền lương :
C
tl
= N x L
bq
= ∑N
j
x l
j
N : số lượng cán bộ công nhân viên (định biên lao động )
L
bq
: lương bình quân
N = P
tb
x n
P

= C
sx
Giá thành sản xuất đơn vị :
z
sx
=
z
sx
: giá thành sản xuất đơn vị
Z
sx
: tổng giá thành sản xuất
E
sx
: sản lượng điện năng sản xuất
E
td
: lượng điện năng tự dựng
E
f
: điện năng phát
III. Phương pháp phân tích sự biến động về giá thành sản phẩm
1. Phương pháp phân tích sự biến động giá thành đơn vị.
Để nhận xét về kết quả thực hiện và kế hoạch thực hiện từ đó thấy được
mức tăng hay giảm về giá thành đơn vị chúng ta cần phân tích một số chỉ tiêu
sau:
Tỷ lệ thực hiện giá thành kế hoạch t
HTKH
:


M
KH
= ∑Q
KH
.Z
KH
- ∑Q
KH
.Z
NT
Tỷ lệ kế hoạch hạ thấp giá thành.

- Kết quả hạ giá thành thực tế.
Mức kế hoạch hạ giá thành:
Đại Học Bách Khoa Hà Nội - 24
Đồ án tốt nghiệp Trịnh Mạnh Hùng_KTNL_K48
M
1
= ∑Q
1
.Z
1
- ∑Q
1
.Z
NT
Tỷ lệ kế hoạch hạ thấp giá thành.

Từ trên ta có kết quả mức hạ giá thành thực hiện so với thực tế như sau:
Mức hạ thấp giá thành:

Giả sử C là tổng chi phí giá thành sản phẩm, Q là tổng sản lượng
Với C
i
là giá thành của yếu tố (khoản mục) i
Đại Học Bách Khoa Hà Nội - 25

Trích đoạn Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành điện năng tại Công ty năm Phân tích tình hình thực hiện giá thành của năm 2007 đối với tình hình thực hiện năm Cổ tức (12% VĐL) tối thiểu tỷ đồng 391,500 391,500 391,500 391, Biện pháp 1: Giảm suất tiâu hao nhiân liệu và chi phí vận chuyển nguyân nhiân liệu.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status