Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và đề xuất biện pháp hạ giá thành sản phẩm ở công ty cổ phần pin Hà nội - Pdf 96

Khoa kinh tế và quản lý ĐHBK Hà Nội
LỜI NÓI ĐẦU
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn gắn liền với môi
trường và thị trường nhất định. Do vậy doanh nghiệp phải có kiến thức về
thị trường giá cả và đặc biệt là cách ứng xử các yếu tố chi phí đầu vào đầu
ra nhằm đạt được mức lợi nhuận tối đa trong kinh doanh. Giá cả của sản
phẩm hàng hoá là nhân tố khách quan, được hình thành trên thị trường là
kết quả của sự tác động tổng hợp các quy luật kinh doanh khách quan, quy
luật cung cầu, quy luật cạnh tranh và quy luật giá. Trong đó quy luật giá trị
là quy luật phản ánh bên trong của doanh nghiệp, có tính chất quyết định
đến phương hướng sản xuất và trao đổi hàng hoá trên thị trường.
Quy luật giá trị yêu cầu nhà sản xuất hàng hoá phải không ngừng cải
tiến sản xuất, tiết kiệm chi phí để chi phí của mình trên một đơn vị sản
phẩm hàng hoá thấp hơn giá trị lao động cần thiết bao gồm giá trị lao động
quá khứ. (NVL, thiết bị, máy móc) và lao động sống. Nó được xác định bởi
điền kiện sản xuất trung bình, trình độ khéo léo trung bình. Chỉ khi chi phí
sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp thấp hơn giá trị lao động cần thiết thì
doanh nghiệp mới có lợi nhuận. Chi phí sản phẩm sản xuất càng nhỏ so
với giá trị xã hội cần thiết thì doanh nghiệp càng có nhiều lãi. Ngược lại,
doanh nghiệp sẽ bị lỗ sản xuất càng nhiều thì càng bị lỗ.
Trên thực tế ở công nghiêp chi phí không được ký hiệu sẵn về cách
ững xử của nó cho nên chúng ta phải nghiên cứu, thông qua quá trình phân
tích các biến động chi phí sản xuất kinh doanh nhằm xác định cách ứng xử
và ước tính về chúng.
Phân tích biến động chi phí sản xuất kinh doanh giúp doanh nghiệp
nhận diện các hoạt động sinh ra chi phí và triển khai các chi phí dựa trên
hoạt động. Nó có ý nghĩa quan trọng trong việc kiểm soát chi phí để lập kế
hoạch và ra các quyết định sản xuất kinh doanh cho tương lai.
SV : Nguyễn Trọng Hài - B2- K16
1
Khoa kinh tế và quản lý ĐHBK Hà Nội

quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định
(tháng, quý, năm).
Như vậy, chỉ được tính là chi phí của kỳ hạch toán những hao phí về
tài sản và lao động có liên quan đến khối lượng sản phẩm sản xuất ra trong
kỳ chứ không phải mọi khoản chi ra trong kỳ hạch toán.
Chi tiêu là sự giảm đi đơn thuần các loại vật tư, tài sản, tiền vốn của
doanh nghiệp bất kể nó được dùng vào mục đích gì. Tổng số chi tiêu trong
kỳ của doanh nghiệp bao gồm chi tiêu cho quá trình cung cấp (chi mua sắm
vật tư, hàng hoá,...), chi tiêu cho quá trình sản xuất kinh doanh (chi cho sản
xuất, chế tạo sản phẩm, công tác quản lý...) và chi tiêu cho quá trình tiêu
thụ (chi vận chuyển, bốc dỡ, quảng cáo...).
Chi phí và chi tiêu là hai khái niệm khác nhau nhưng có quan hệ mật
thiết với nhau. Chi tiêu là cơ sở phát sinh của chi phí, không có chi tiêu thì
không có chi phí. Tổng số chi phí trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm toàn
bộ giá trị tài sản hao phí hoặc tiêu dùng hết cho quá trình sản xuất kinh
doanh tính vào kỳ này.
1.2. Phân loại chi phí sản xuất - kinh doanh
Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp bao gồm rất nhiều loại, nhiều
khoản khác nhau cả về nội dung kinh tế, tính chất, công dụng, vai trò, vị
SV : Nguyễn Trọng Hài - B2- K16
3
Khoa kinh tế và quản lý ĐHBK Hà Nội
trí... trong quá trình kinh doanh. Hạch toán chi phí sản xuất theo từng loại
sẽ nâng cao tính chi tiết của thông tin hạch toán, phục vụ đắc lực cho công
tác kế hoạch hoá và quản lý nói chung đồng thời có cơ sở tin cậy cho việc
phấn đấu giảm chi phí, nâng cao hiệu quả kinh tế của chi phí.
Để thuận lợi cho công tác quản lý và hạch toán thì cần thiết phải tiến
hành phân loại chi phí sản xuất. Xuất phát từ các mục đích và yêu cầu khác
nhau của quản lý, chi phí sản xuất cũng được phân loại theo những tiêu
thức khác nhau. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh là việc sắp xếp chi

5. Yếu tố chi phí khác bằng tiền: gồm toàn bộ các chi phí khác dùng
cho hoạt động sản xuất trong kỳ ngoài các yếu tố đã nêu ở trên.
Việc phân loại theo yếu tố có tác dụng là cho biết tỷ trọng của từng
yếu tố chi phí để phân tích đánh giá tình hình dự toán chi phí sản xuất.
Đồng thời là căn cứ để lập báo cáo chi phí sản xuất theo yếu tố, cung cấp
tài liệu tham khảo để lập dự toán chi phí sản xuất, lập kế hoạch cung ứng
vật tư, kế hoạch quỹ lương và kế hoạch về vốn lưu động cho kỳ sau
1.2.2. Phân loại theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm.
Căn cứ vào ý nghĩa của chi phí trong giá thành sản phẩm và để thuận
lợi cho việc tính giá thành toàn bộ, chi phí sản xuất được phân chia theo
khoản mục. Cách phân loại này dựa trên nguyên tắc xem xét công dụng của
chi phí và mức phân bổ chi phí cho từng đối tượng, địa điểm phát sinh chi
phí.
Về mặt hạch toán chi phí sản xuất kinh doanh hiện nay, giá thành sản
xuất (giá thành công xưởng) bao gồm ba khoản mục chi phí:
1. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: bao gồm toàn bộ chi phí về
nguyên, vật liệu chính, phụ, nhiên liệu... sử dụng trực tiếp vào việc sản
xuất, chế tạo sản phẩm hay thực hiện lao vụ, dịch vụ.
2. Chi phí nhân công trực tiếp: gồm tiền lương, phụ cấp lương và các
khoản trích cho các quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ theo tỷ lệ với tiền lương
phát sinh của công nhân trực tiếp sản xuất.
SV : Nguyễn Trọng Hài - B2- K16
5
Khoa kinh tế và quản lý ĐHBK Hà Nội
3. Chi phí sản xuất chung: là những chi phí dùng chung cho hoạt động
sản xuất ở phân xưởng hoặc tổ đội sản xuất.
Ngoài ra, khi tính chỉ tiêu giá thành toàn bộ (hay giá thành đầy đủ)
thì chỉ tiêu giá thành còn bao gồm khoản mục chi phí quản lý doanh nghiệp
chi phí bán hàng.
Cách phân loại này có ý nghĩa rất lớn trong việc cung cấp số liệu để

Khi quyết định sản xuất một loại sản phẩm nào đó doanh nghiệp
cần phải tính đến tất cả những khoản chi phí đã thực sự chi ra cho sản
xuất và tiêu thụ sản phẩm đó, nghĩa là doanh nghiệp phải xác định được
giá thành sản phẩm.
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao
phí về lao động sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lượng công
việc, sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành.
Tóm lại, giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản
ánh chất lượng toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh và quản lý kinh tế tài
chính của doanh nghiệp. Giá thành được tính toán chính xác cho từng loại
sản phẩm hoặc lao vụ cụ thể (đối tượng tính giá thành) và chỉ tính toán xác
định đối với số lượng sản phẩm hoặc lao vụ đã hoàn thành.
2.2. Các loại giá thành
Để đáp ứng các yêu cầu của quản lý, hạch toán và kế hoạch hoá giá
thành cũng như yêu cầu xây dựng giá cả hàng hoá, giá thành được xem xét
dưới nhiều góc độ, nhiều phạm vi tính toán khác nhau. Căn cứ vào những
tiêu thức khác nhau nên trong doanh nghiệp giá thành được chia thành các
loại sau:
- Xét theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thành, giá thành
sản phẩm chia thành giá thành kế hoạch, giá thành định mức và giá thành thực
tế.
a. Giá thành kế hoạch:
Là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở sản lượng kế hoạch. Giá
thành kế hoạch do bộ phận kế hoạch của doanh nghiệp tính, giá thành kế
SV : Nguyễn Trọng Hài - B2- K16
7
Khoa kinh tế và quản lý ĐHBK Hà Nội
hoạch được tính trước khi tiến hành hoạt động sản xuất và nó là mục tiêu
phấn đấu của doanh nghiệp, là căn cứ để so sánh, phân tích, đánh giá tình
hình thực hiện kế hoạch giá thành và hạ giá thành.

Là chỉ tiêu bao gồm giá thành sản xuất của sản phẩm cộng thêm chi
phí quản lý doanh nghiệp và chi phí bán hàng tính cho sản phẩm đó. Giá
SV : Nguyễn Trọng Hài - B2- K16
9
Khoa kinh tế và quản lý ĐHBK Hà Nội
thành toàn bộ của sản phẩm chỉ được tính để xác định kết quả những sản
phẩm đã tiêu thụ. Do vậy, giá thành tiêu thụ còn được gọi là giá thành đầy
đủ hay giá thành toàn bộ và được tính theo công thức:
Giá thành toàn bộ
của sản phẩm tiêu thụ
=
Giá thành sản
xuất sản phẩm
+
Chi phí quản lý
doanh nghiệp
+
Chi phí
bán hàng
2.3. Phân biệt chi phí và giá thành
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai mặt biểu hiện của quá
trình sản xuất, có mối quan hệ rất mật thiết với nhau vì nội dung cơ bản của
chúng đều là những hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh
nghiệp đã bỏ ra trong quá trình hoạt động sản xuất. Chi phí sản xuất trong một
kỳ là cơ sở để tính toán, xác định giá thành của những sản phẩm, công việc,
lao vụ đã hoàn thành. Việc sử dụng tiết kiệm hợp lý chi phí sản xuất có ảnh
hưởng trực tiếp đến giá thành sản phẩm. Tuy nhiên, giữa chi phí sản xuất và
giá thành sản phẩm có sự khác nhau nhất định, sự khác nhau đó thể hiện:
- Chi phí sản xuất gắn liền với thời kỳ phát sinh chi phí còn giá thành
sản phẩm thì gắn với khối lượng sản phẩm, lao vụ đã sản xuất hoàn thành.

kịp thời.
II. PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
1. Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất, tính giá thành và phân bổ chi phí.
1.1 Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành
Do có sự khác nhau cơ bản về giới hạn tập hợp chi phí trong hạch toán
chi phí sản xuất và sản phẩm hoàn thành cần phải tính giá thành một đơn vị.
Việc hạch toán quá trình sản xuất có thể phân làm hai giai đoạn là giai đoạn
xác định đối tượng tập hợp chi phí và giai đoạn xác định tính giá thành sản
phẩm.
Về thực chất giai đoạn xác định đối tượng tính giá thành sản phẩm là
việc xác định sản phẩm, bán thành phẩm, công việc, lao vụ nhất định đòi
hỏi phải tính giá thành một đơn vị. Đối tượng đó có thể là sản phẩm cuối
cùng của giai đoạn sản xuất hay đang trên dây truyền sản xuất tuỳ theo yêu
cầu của hạch toán kinh tế nội bộ và tiêu thụ sản phẩm.
Để phân biệt được đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và đối tượng
tính giá thành ngay cả khi chúng đồng nhất làm một, cần dựa vào đặc điểm
quy trình công nghệ sản xuất, vào loại hình sản xuất, vào yêu cầu và trình
độ quản lý tổ chức kinh doanh.
Trong mối quan hệ của đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và tính
giá thành thì:
SV : Nguyễn Trọng Hài - B2- K16
11
Khoa kinh tế và quản lý ĐHBK Hà Nội
- Về bản chất: Chúng đều là phạm vi giới hạn để tập hợp chi phí và
cùng phục vụ cho việc quản lý, phân tích, kiểm tra chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm.
- Mặt khác, việc xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là căn
cứ để kế toán tổ chức ghi sổ chi tiết, sổ tổng hợp, phân bổ chi phí sản xuất
hợp lý và là cơ sở cho việc tính giá thành sản phẩm. Còn việc xác định đối
tượng tính giá thành lại là căn cứ để tập hợp chi phí sản xuất đã bỏ ra để

dở dang đầu kỳ
+
Tổng chi phí
sản xuất phát
sinh trong kỳ
-
Giá trị SP
dở dang
cuối kỳ
Giá thành
đơn vị sản phẩm
=
Tổng giá thành sản phẩm
Số lượng sản phẩm hoànthành
2.2. Phương pháp tổng cộng chi phí
Phương pháp này được áp dụng ở các doanh nghiệp mà quá trình sản
xuất sản phẩm được thực hiện ở nhiều quá trình công đoạn, đối tượng tập
hợp chi phí sản xuất là các chi tiết sản phẩm hoặc giai đoạn công nghệ hay
bộ phận sản xuất.
n
Giá thành sản phẩm = Σz
i
i=1
Z
i
: Chi phí sản xuất của bộ phận i.
n: Số bộ phận.
2.3. Phương pháp hệ số.
Phương pháp hệ số được áp dụng trong những doanh nghiệp mà cùng
một quá trình sản xuất, cùng sử dụng một thứ nguyên liệu và một lượng lao

0:
Tng s sn phm gc ó quy i
Q
i
: S lng sn phm i (i=1,n)
H
i
: H s quy i sn phm i (i=1,n)
Tng giỏ thnh
sản xuất sp
=
Giá trị sản
phẩm dd
đầu kỳ
+
Tổng chi phí
sản xuất phát
sinh trong kỳ
-
Giá trị sp
dd Ckỳ
2.4. Phơng pháp tỷ lệ.
Phơng pháp này đợc áp dụng với các doanh nghiệp sản xuất
nhiều loại sản phẩm có quy cách, phẩm chất khác nhau nh may mặc,
dệt kim, đóng giầy, cơ khí chế tạo, vv.. .Để giảm bớt khối lợng hạch
toán, Kế toán thờng tập hop chi phí theo nhóm sản phẩm cùng loại.
Căn cứ vào tỷ lệ chi phí giữa chi phí sản xuất thực tế với chi phí sản
xuất kế hoạch, Kế toán sẽ tính ra giá thánh đơn vị và tổng giá thành
sản phẩm từng loại.
Giá thành thực tế

1. Đánh giá chung biến động giá thành của toàn bộ sản phẩm
1.1. Đánh giá tình hình biến động tổng giá thành
Tại công ty , để tiện cho việc lập kế hoạch hạch toán và phân tích
người ta thường đánh giá tình hình biến động của tổng giá thành .
Mục tiêu của phần này là đánh giá chung tình hình biến động giá
thành của toàn bộ sản phẩm , theo từng loại sản phẩm để cho ta nhận thức
SV : Nguyễn Trọng Hài - B2- K16
15
Khoa kinh tế và quản lý ĐHBK Hà Nội
một cách tổng quát tình hình tăng giảm lợi nhuận của công ty do tác động
ảnh hưởng đến giá thành của từng loại sản phẩm .
Phân tích đánh giá tình hình biến động của tổng giá thành còn là cơ sở
định hướng và xác định được cần đi sâu nghiên cứu giá thành của sản phẩm
nào .
Phương pháp tính là tính ra mức chênh lệch và tỷ lệ chênh lệch của
tổng giá thành sản phẩm thực tế so với tổng giá thành kế hoạch.

SV : Nguyễn Trọng Hài - B2- K16
16
Khoa kinh tế và quản lý ĐHBK Hà Nội
∑Q
1
Z
1

% Thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm = x 100%
∑Q
k
Z
k

Các bước tiến hành như sau :
B ước 1: xác định nhiệm vụ hạ giá thành kế hoạch .
- Gọi Q
K
, Q
1
: Là khối lượng kế hoạch và thực hiện từng sản phẩm.
Z
NT
, Z
K
, Z
1
: Là giá thành đơn vị năm trước, kế hoạch và thực hiện
từng sản phẩm.
SV : Nguyễn Trọng Hài - B2- K16
17
Khoa kinh tế và quản lý ĐHBK Hà Nội
Ký hiệu : M
K
và T
K
là mức hạ và tỷ lệ hạ của nhiệm vụ hạ giá thành
kế hoạch , Ta có :

∑ ∑
−=
T
NKKKK
ZQZQM

Ký hiệu M
1
và T
1
là mức hạ và tỷ lệ hạ của kết quả hạ giá thành thực
tế năm nay so với năm trước.
B ước 3 : Xác định kết quả hạ giá thành thực hiện so với kế hoạch
M = M
1
- M
k

T= T
1
-T
k

Trong đó :
M và T là mức hạ và tỉ lệ hạ của kết quả hạ giá thành thực tế so với kế
hoạch .
B ước 4 : Xác định ảnh hưởng của các nhân tố đến kết quả hạ giá thành
thực tế so với kế hoạch .
Có 3 nhân tố ảnh hưởng đén kết quả hạ giá thành thực tế so với kế
hoạch và : Khối lương , kết cấu và giá thành đơn vị sản phẩm . Ta sử dụng
phương pháp thay thế liên hoàn để xác định mức và tỷ lệ ảnh hưởng đến
đối tượng phân tích ( là kết quả tính được ở bước 3 ).
a. Nhân tố khối lượng sản phẩm
Trong điều kiện chỉ có khối lượng sản phẩm thay đổi , còn các nhân tố
khác không đổi . Nếu giả định nhan tố kết cấu không đổi , khi khối lượng
sản phẩm thay đổi thì khối lượng sản phẩm tăng , giảm cũng sẽ tác động



1
.
.
..
..
1
1
ntK
nt
kk
ntK
k
nt
ZQ
ZQ
MM
ZQ
M
ZQ

0
.
..
1
1
=−=−=



11
∑∑

là mức hạ tính theo khối lượng thực tế, kết
cấu, giá thành năm trước, giá thành kế hoạch.
knt
TZQ ..
1

: là mức hạ tính theo khối lượng thực tế, kết cấu và giá
thành năm trước.
knt
TZQ ..
1

: Là mức hạ tính theo khối lượng thực tế, kết cấu và giá
thành đơn vị năm trước.

%100.
.
1 nt
ZQ
Mc
Tc

=
SV : Nguyễn Trọng Hài - B2- K16
19
Khoa kinh tế và quản lý ĐHBK Hà Nội
c. Nhân tố giá thành đơn vị

hình thực hiện giá thành đơn vị của từng loại sản phẩm.
Giá thành đơn vị thực tế
Tỷ lệ thực hiện kế hoạch giá thành = x 100%
Giá thành đơn vị kế hoạch
Ngoài ra ta còn có thể so sánh thực tế năm nay với giá thành thực tế
năm trước bằng phương pháp tính toán như trên.
Sau khi tính toán tỷ lệ % theo công thức trên ta lập bảng phân tích để
có căn cứ nêu lên các nhận xét về kết quả thực hiện kế hoạch giá thành.
2. Phân tích biến động của các yếu tố chi phí trong giá thành sản phẩm.
2.1. Phân tích chung giá thành đơn vị sản phẩm
Mục đích của việc phân tích này nhằm đánh giá chung mức chênh
lệch và tỷ lệ chênh lệch của các khoản mục giữ các kỳ phân tích để làm rõ
mức tiết kiệm hay vượt chi của từng khoản mục. Đối với những khoản mục
có tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm thì việc tăng, giảm 1% của nó
cũng ảnh hưởng rất lớn tới giá thành sản phẩm. Sau khi biết được mức độ
tác động của từng khoản mục ta sẽ đi sâu phân tích để biết được nguyên
nhân gây lên việc tăng, giảm từ đó đưa ra hướng giải quyết thích hợp.
SV : Nguyễn Trọng Hài - B2- K16
20
Khoa kinh tế và quản lý ĐHBK Hà Nội
2.2 Phân tích chi phí nguyên vật liệu trong giá thành
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp chiếm tỷ trọng khá lớn trong giá
thành. Phân tích tình hình sử dụng nguyên vật liệu giúp cho doanh nghiệp
thấy rõ ưu nhược điểm của mình trong công tác quản lý và sử dụng nguyên
vật liệu để sản xuất sản phẩm . Sử dụng tiết kiệm và hiệu quả nguyên vật
liệu là một nội dung cơ bản của hạch toán kinh tế, là biện pháp chủ yếu để hạ
giá thành sản phẩm .
Phương pháp phân tích là so sánh tổng chi phí nguyên vật liệu thực tế
với tổng chi phí nguyên vật liệu tính theo giá định mức ( kế hoạch ) với
lượng định mức ( kế hoạch ) để thấy tình hình lưu động về mặt tổng số. Sau

Là khoản tiền mà doanh nghiệp phải chi trả cho các đơn vị doanh
nghiệp khác ngoài doanh nghiệp do nhận các dịch vụ do họ cung cấp. Từ
việc phân tích ta tìm ra được nguyên nhân làm cho chi phí này làm tăng chi
phí giá thành sản phẩm, từ đó đưa ra quyết định đầu tư để tự sản xuất
cung cấp cho chính công ty, hoặc tìm bạn hàng mới thay thế bạn hàng cũ
với chi phí nhỏ hơn góp phần làm giảm giá thành sản phẩm.
2.6 Phân tích chi phí khác trong giá thành sản phẩm
Là khoản chi của doanh nghiệp không liệt kê được vào 4 yếu tố trên
Cách phân loại này cho biết rằng với quy mô kinh doanh theo kỳ báo cáo
thì doanh nghiệp đã sử dụng bao nhiêu nguồn lực các loại để làm cơ sở cho
việc lập dự toán của các chi phí kỳ sau. Trên cơ sở phân tích tỷ trọng chi
phí này trong sản phẩm để đưa ra giải pháp làm giảm chi phí trong giá
thành sản phẩm.
3. Tìm ra nguyên nhân làm tăng giá thành và biện pháp làm giảm giá
thành và chi phí sản xuất.
IV. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC BIỆN PHÁP HẠ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
1. Thực chất của hạ giá thành sản phẩm
Hạ giá thành sản phẩm thực chất là tìm cách khắc phục những nguyên
nhân không những làm tăng chi phí, mà doanh nghiệp không quản lý được
hoặc quản lý chưa phù hợp những chi phí đó vì nhiều khi do định mức lạc
SV : Nguyễn Trọng Hài - B2- K16
22
Khoa kinh tế và quản lý ĐHBK Hà Nội
hậu, giá thành kế hoạch không hợp lý, bất cập. Trên thực tế, có thể giá
thành thực tế giảm do chi phí thấp hơn nhưng vẫn có thể giảm nữa.
2. Một số biện pháp hạ giá thành
2.1 Hướng thứ nhất :
Giảm chi phí
Chi phí của doanh nghiệp bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi
phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung, chi phí bán hàng và chi phí

Nhà máy Pin Văn Điển được xây dựng từ 1958 đến tháng 10/1959, đến
1/1/1960 mẻ Pin đầu tiên ra đời, khai sinh nhà máy Pin Văn Điển, đứa con
đầu lòng của ngành Pin Việt Nam. Nhà máy Pin được xây dựng trên diện tích
đất rộng 3 ha tại thị trấn Văn Điển, huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội.
Điện thoại: 04 8611565 - FAX: 04 8612549.
Ban đầu nhà máy được xây dựng do Trung quốc thiết kế và viện trợ
toàn bộ máy móc, trang thiết bị. Sản lượng thiết kế ban đầu là 5 triệu chiếc
pin/1năm. Sản phẩm các loại pin thuộc hệ M
n
O
2
/NH
4
CL/Zn, môi trường
điện ly là công nghệ chưng hồ loại công nghệ cổ điển lạc hậu, máy móc
thiết bị hầu hết thủ công, nguyên liệu, vật liệu ban đầu 100% do nước bạn
cung cấp, từ tháng 1 năm 1960, nhà máy chính thức đi vào sản xuất theo kế
hoạch, toàn bộ đầu vào, đầu ra do nhà nước cung cấp và tiêu thụ.
Để chủ động sản xuất, phấn đấu giảm giá thành sản phẩm, nhà máy đã
tích cực nghiên cứu thay thế nhiều nguyên liệu nhập ngoại. Năm 1962
được nhà nước cho phép, nhà máy Pin đã mở mỏ khai thác quặng măng
gan thiên nhiên tại Cao Bằng, thay thế loại nguyên liệu chủ yếu để sản xuất
pin. Đến năm 1979, khi chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra, nhà máy pin
lại mở thêm một mỏ khai thác măng gan nữa tại Hà Tuyên - năm 1983,
Tổng cục hoá chất quyết định sát nhập nhà máy pin Xuân Hoà với nhà máy
pin Văn Điển, mang tên nhà máy pin Hà Nội, đến năm 1989 thì đổi tên
SV : Nguyễn Trọng Hài - B2- K16
24
Khoa kinh tế và quản lý ĐHBK Hà Nội
thành xí nghiệp liên hợp pin Hà Nội, đến năm 1989 thì đổi tên thành xí

Trích đoạn GIẢM CHI PHÍ NHÂN CễNG TRỰC TIẾP
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status