tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng tmcp nhà hà nội - Pdf 23

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Phan Hữu Nghị
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA NGÂN HÀNG – TÀI CHÍNH
……………………………
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
ĐỀ TÀI:
TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN
HÀNG TMCP NHÀ HÀ NỘI
Giảng viên hướng dẫn: TS. Phan Hữu Nghị
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Nhiên
Lớp: TCDN pháp
Khóa: 48
Mã sinh viên: CQ482094
Hà Nội – 5/2010
Nguyễn Thị Nhiên Lớp: TCDN tiếng Pháp
1
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Phan Hữu Nghị
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, hệ thống ngân hàng được ví như hệ thần kinh
của cả nền kinh tế. Hệ thống ngân hàng quốc gia hoạt động thông suốt, lành mạnh
và hiệu quả là tiền đề để các nguồn lực tài chính luân chuyển, phân bổ và sử dụng
hiệu quả, kích thích tăng trưởng kinh tế một cách bền vững. Tuy nhiên trong nền
kinh tế thị trường thì rủi ro kinh doanh là không thể tránh khỏi, mà đặc biệt là rủi
ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng có phản ứng dây chuyền, lây lan và
ngày càng có biểu hiện phức tạp. Sự sụp đổ của ngành ngân hàng có ảnh hưởng
tiêu cực tới toàn bộ đời sống – kinh tế - chính trị - xã hội của một nước và có thể
lan rộng sang quy mô quốc tế.
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới vừa qua là minh chứng rõ ràng nhất cho
sức ảnh hưởng của hoạt động ngành ngân hàng tới toàn bộ đời sống – kinh tế -
chính trị - xã hội trên quy mô toàn cầu. Sự sụp đổ của một loạt các ngân hàng lớn
có thâm niên hàng trăm năm tại Mỹ đã làm rung chuyển hệ thống kinh tế không

Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Nghiên cứu thực trạng quản lý rủi ro tín
dụng tại Ngân hàng TMCP nhà Hà Nội vài 3 năm trở lại đây, kết quả và nguyên
nhân.
Phương pháp nghiên cứu: chủ yếu là thu thập , phân tích và đánh giá các tài
liệu của NHTMCP nhà Hà Nội và các nguồn khác có liên quan.
Kết cấu chuyên đề gồm 3 phần:
Chương 1: Tổng quan về tín dụng trong hoạt động của NHTM
Chương 2: Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại NHTMCP nhà Hà Nội
Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại NHTMCP
nhà Hà Nội.
Nguyễn Thị Nhiên Lớp: TCDN tiếng Pháp
3
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Phan Hữu Nghị
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG
CỦA NHTM
1.1 Khái quát về ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh
tế. Ngân hàng bao gồm nhiều loại tùy thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói
chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó ngân hàng thương mại (NHTM)
thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần, số lượng các ngân
hàng.
Ngân hàng thương mại thể hiện nhiệm vụ cơ bản nhất của ngân hàng là huy
động vốn và cho vay vốn. Đó là cầu nối giữa các cá nhân với tổ chức kinh tế, hút
vốn từ nơi nhàn rỗi bơm vào nơi khan thiếu. Hoạt động của ngân hàng thương mại
nhằm mục đích kinh doanh một hàng hóa đặc biệt: "vốn- tiền", trả lãi suất huy
động vốn thấp hơn lãi suất cho vay vốn, phần chênh lệch lãi suất chính là lợi
nhuận của ngân hàng thương mại Hoạt động của ngân hàng thương mại phục vụ
cho mọi nhu cầu về vốn của mọi tầng lớp dân chúng, loại hình doanh nghiệp cũng
như các tổ chức khác trong xã hội.
Trong ngân hàng thương mại, tiền huy động được của người gửi gọi là tài

“Rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng và các tổ chức tín dụng”
là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động của ngân hàng, của tổ chức tín dụng do
khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình
theo cam kết ( Điều 2- QĐ 493 Về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để
xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng và các tổ chức tín dụng ). Khi
thực hiện một hoạt động cho vay cụ thể, ngân hàng không dự kiến là khoản cho
vay đó sẽ bị tổn thất. Tuy nhiên những khoản cho vay đó luôn hàm chứa rủi ro.
Một số ý kiến cho rằng trên quan điểm quản lý toàn bộ ngân hàng, tỷ lệ tổn thất dự
kiến đối với hoạt động tín dụng luôn được xác định trước trong chiến lược hoạt
động chung. Do vậy khi tổn thất xảy ra dưới mức tỷ lệ dự kiến, ngân hàng coi đó
là một thành công trong quản lý.
1.2.2 Phân lọai rủi ro tín dụng
Phân loại theo phương diện quản lý
- Rủi ro có thể kiểm soát được
Là rủi ro tín dụng mà ngân hàng có thể phần nào dự đoán được chủ thể gây
ra nó, ước tính được mức độ ảnh hưởng của nó, dự kiến được thời gian phát sinh
ra nó, từ đó có những biện pháp hợp lý để phòng ngừa, hạn chế những tổn thất mà
nó có thể gây ra xuống mức tối thiểu. Những rủi ro tín dụng loại này thường do
chủ quan con người gây ra, cụ thể hơn là do khách hàng gây ra hoặc do chính bản
thân ngân hàng tự gây ra cho mình.
- Rủi ro không thể kiểm soát được
Nguyễn Thị Nhiên Lớp: TCDN tiếng Pháp
5
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Phan Hữu Nghị
Là loại rủi ro tín dụng mà các ngân hàng không thể dự đoán được trước,
không thể biết chúng sẽ xảy ra khi nào, cũng không thể tính toán được một cách
cụ thể, chính xác những ảnh hưởng mà chúng gây ra nà chủ yếu do những bất lợi
thuộc về các yếu tố tự nhiên như hạn hán, mất mùa, lũ lụt, hỏa hoạn…
Các ngân hàng thương mại thường phải tập trung vào để ngăn chặn hạn chế những
rủi ro có thể kiểm soát được, còn rủi ro không thể kiểm soát được thì chỉ có cách

tín dụng nhằm hạn chế tới mức thấp nhất các tổn thất co thể xảy ra. Những dấu
hiệu chính phát sinh trong hoạt động tín dụng phản ánh rủi ro tín dụng:
1.2.4.1 Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn
“Nợ” bao gồm:
- Các khoản cho vay, ứng trước, thấu chi và cho thuê tài chính;
- Các khoản chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá
khác
- Các khoản bao thanh toán
- Các hình thức tín dụng khác
“Nợ quá hạn” là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và / hoặc lãi
đã quá hạn; hoặc ngân hàng phát hiện khách hàng sử dụng sai mục đích, hoặc tài
sản đảm bảo bị giảm giá trị, hoặc khách hàng phá sản….
Tỷ lệ nợ quá hạn:
Dư nợ quá hạn x 100%
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Tổng dư nợ cho vay
Theo quy định hiện hành của Ngân hàng Nhà Nước thì dư nợ cho phép đối
với các ngân hàng thương mại không được vượt quá 5%, điều đó có nghĩa trong
100 đồng vốn ngân hàng bỏ ra cho vay thì nợ quá hạn được phép tối đa là 5 đồng.
Quy định này nhằm mục đích hạn chế tình trạng các ngân hàng cho vay ồ ạt, thiếu
sự quản lý dẫn tới khả năng thanh khoản kém.
.“Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ” là khoản nợ mà tổ chức tín dụng chấp
thuận điều chỉnh kỳ hạn hoặc gia hạn nợ cho khách hàng do tổ chức tín dụng đánh
giá khách hàng suy giảm khả năng trả nợ gốc hoặc lãi đúng thời hạn ghi trên hợp
đồng tín dụng nhưng tổ chức tín dụng có đủ cơ sở để đánh giá khách hàng có khả
năng trả đầy đủ nợ gốc và lãi theo thời hạn trả nợ đã cơ cấu.
1.2.4.2 Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay:
“Nợ xấu” (NPL) của ngân hàng được quy định là các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4 và
5. Tức là nó bao gồm các nhóm nợ: nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả
năng mất vốn.

chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại Điểm b Khoản
này;
- Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng
trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng;
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại Khoản 3 Điều
này.
d) Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ):
- Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;
Nguyễn Thị Nhiên Lớp: TCDN tiếng Pháp
8
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Phan Hữu Nghị
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo
thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại Khoản 3 Điều
này.
đ) Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn):
- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên
theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn
trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị
quá hạn hoặc đã quá hạn;
- Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý;
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 5 theo quy định tại Khoản 3 Điều
này.
Cũng theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN và Quyết định 18/2006/QĐ-
NHNN thì dự phòng cụ thể được trích lập trên rủi ro tín dụng thuần của các khoản
cho vay theo tỷ lệ tương ứng:

vốn tín dụng cao chứng tỏ khả năng quản lý vốn tín dụng cũng như chất lượng tín
dụng của ngân hàng tốt.
Các chỉ tiêu này có liên quan chặt chẽ với nhau và phản ánh các mức độ rủi
ro tín dụng khác nhau. Đối với ngân hàng, việc khách hàng không trả đúng hạn có
liên quan tới thanh khoản và các rủi ro thanh khoản: Chi phí gia tăng để tìm nguồn
mới chi trả cho tiền gửi và tiền cho vay đúng hợp đồng. Nợ khó đòi là một lời
cảnh báo cho ngân hàng: Hy vọng thu lại tiền vay cần có biện pháp hữu hiệu để
giải quyết.
1.2.5 Yêu cầu điều kiện đối với khoản tín dụng của Ngân hàng
Tình hình tài chính và phương án, môi trường hoạt động của người đi vay.
Nếu tình hình tài chính của người đi vay tốt, phương án có hiệu quả cao và
môi trường hoạt động thuận lợi thì rủi ro tín dụng sẽ thấp. Những yếu tố này xuất
hiện xấu đi sẽ cấu thành các khoản nợ có vấn đề.
Đảm bảo tiền vay
Nhiều trường hợp ngân hàng đòi hỏi người vay phải có tài sản đảm bảo khi
uy tín người vay không cao hoặc hoạt động có nhiều rủi ro. Như vậy tài sản đảm
bảo càng cao trên tổng dư nợ cho thấy ngân hàng đang cấp tín dụng cho những
khách hàng có rủi ro cao. Tuy nhiên tài sản đảm bảo sẽ góp phần làm giảm tổn
thất cho ngân hàng khi khách hàng không trả được nợ. Vì vậy, khi xem xét yếu tố
tài sản đảm bảo phải chú ý tới từng trường hợp cụ thể.
Nguyễn Thị Nhiên Lớp: TCDN tiếng Pháp
10
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Phan Hữu Nghị
Tính đa dạng hóa trong tài sản của ngân hàng
Bên cạnh nợ quá hạn, nhà quản lý ngân hàng còn sử dụng các hình thức đo
rủi ro tín dụng khác, gắn liền với chiến lược đa dạng hóa tài sản, lập hồ sơ khách
hàng, trích lập quỹ dự phòng, đặt giá đối với khoản cho vay….
+ Mất ổn định vĩ mô
Chính sách thường xuyên thay đổi, lạm phát cao, tình hình chính trị mất ổn
định, vùng thiên tai , đều tạo nên mất ổn định vĩ mô, tác động xấu tới người đi

Khi tiến hành quá trình sản xuất kinh doanh, bao giờ doanh nghiệp cũng
tiến hành đánh giá tình hình thị trường cũng như đưa ra những dự báo phát triển
thị trường, dự báo tăng trưởng doanh số. Nếu nền kinh tế thế giới cũng như nền
kinh tế quốc nội vận hành theo quỹ đạo đã dự báo thì doanh nghiệp sẽ thực hiện
tốt các kế hoach đề ra.
Tuy nhiên, ta biết rằng: Nền kinh tế nước ta hiện giờ đang phụ thuộc nhiều
vào các ngành sản xuất nông nghiệp và các ngành công nghiệp phục vụ nông
nghiệp. Mà những ngành này lại phụ thuộc nhiều vào rủi ro thời tiết.
Khi nền kinh tế thế giới bị khủng hoảng, tất yếu sẽ ảnh hưởng lớn đối với
các doanh nghiệp xuất khẩu. Những mặt hàng mà Việt Nam có thế mạnh như dệt
may, xuất khẩu hàng nông sản (xuất khẩu café, hạt điều, xuất khẩu cá basa, ) có
nguy cơ không bán được khi nền kinh tế thế giới bị khủng hoảng. Hoặc một sự
thay đổi trong chính sách nhập khẩu (tăng thuế, giảm hạn ngạch, thay đổi tiêu
chuẩn nhập khẩu) tại các nước sở tại ảnh hưởng đến sản lượng xuất khẩu.
Rủi ro do các thủ tục pháp lý
Sự chậm trễ, rườm rà trong các thủ tục cấp giấy phép, các thủ tục hải
quan… nhiều lúc ảnh hưởng lớn đến cơ hội kinh doanh của các doanh nghiệp. Ta
biết rằng, cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp có tính thời điểm, nhưng nó sẽ
không thể thực hiện nhanh chóng nếu không được “cởi trói” bởi các thủ tục pháp
lý. Việc chậm trễ sẽ dẫn đến hệ quả của hàng loạt các hợp đồng kinh tế bị đình trệ,
các dự án đầu tư “buộc lòng” phải “treo” trên giấy. Điều này gây tổn thất lớn về
mặt kinh tế đối với các doanh nghiệp vay vốn.
Rủi ro do hàng hóa nhập lậu tràn vào trong nước
Hàng hóa nhập lậu vào Việt Nam qua các con đường vùng biên từ lâu đã là
nỗi “ám ảnh” của các doanh nghiệp nội địa. Hàng hóa nhập lậu có ưu điểm rẻ hơn
về giá, loại hình phong phú đánh mạnh vào nhu cầu của đại bộ phận người tiêu
dùng có thu nhập thấp. Các mặt hàng về đồ điện tử, kim khí, quần áo, mỹ phẩm là
một minh chứng cho hiện tượng trên.
Các rủi ro cơ bản trên đã ảnh hưởng tới tình hình sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp. Một khi các đồng vốn mà doanh nghiệp đi vay đổ vào sản xuất

nhiệm quan trọng nhất của cán bộ tín dụng nói riêng và của ngân hàng nói chung.
Việc theo dõi hoạt động của khách hàng vay nhằm tuân thủ các điều khoản
đề ra trong hợp đồng tín dụng giữa khách hàng và ngân hàng nhằm tìm ra những
cơ hội kinh doanh mới và mở rộng cơ hội kinh doanh. Tuy nhiên trong thời gian
qua các NHTM chưa thực hiện tốt công tác này. Điều này một phần do yếu tố tâm
lý ngại gây phiền hà cho khách hàng của cán bộ ngân hàng, một phần do hệ thống
Nguyễn Thị Nhiên Lớp: TCDN tiếng Pháp
13
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Phan Hữu Nghị
thông tin quản lý phục vụ kinh doanh tại các doanh nghiệp quá lạc hậu, không
cung cấp được kịp thời, đầy đủ các thông tin mà NHTM yêu cầu.
Sự hợp tác giữa các NHTM quá lỏng lẻo, vai trò của CIC chưa thực sự
hiệu quả:
Kinh doanh ngân hàng là một nghề đặc biệt huy động vốn để cho vay hay
nói cách khác đi vay để cho vay, do vậy vấn đề rủi ro trong hoạt động tín dụng là
không thể tránh khỏi, các ngân hàng cần phải hợp tác chặt chẽ với nhau nhằm hạn
chế rủi ro. Sự hợp tác nảy sinh do nhu cầu quản lý rủi ro đối với cùng một khách
hàng khi khách hàng này vay tiền tại nhiều ngân hàng. Trong quản trị tài chính,
khả năng trả nợ của một khách hàng là một con số cụ thể, có giới hạn tối đa của
nó. Nếu do sự thiếu trao đổi thông tin, dẫn đến việc nhiều ngân hàng cùng cho vay
một khách hàng đến mức vượt quá giới hạn tối đa này thì rủi ro chia đều cho tất cả
chứ không chừa một ngân hàng nào.
Trong tình hình cạnh tranh giữa các NHTM ngày càng gay gắt như hiện
nay, vai trò của CIC là rất quan trọng trong việc cung cấp thông tin kịp thời, chính
xác để các ngân hàng có các quyết định cho vay hợp lý. Đáng tiếc là hiện nay ngân
hàng dữ liệu của CIC chưa đầy đủ và thông tin còn quá đơn điệu, chưa được cập
nhật và xử lý kịp thời.
1.2.6.3 Nguyên nhân thuộc về phía khách hàng
Sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ vay:
Đa số các doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng đều có các phương án kinh

dự kiến, kết quả kinh doanh của ngân hàng không tốt.
Nếu một khoản cho vay của ngân hàng bị mất khả năng thu hồi thì ngân
hàng phải dùng tới các nguồn khác đê bù đắp cho khoản không thu hồi được này.
Nếu ngân hàng sử dụng nguồn vốn để bù đắp, và tới chừng mực nào đấy nguồn
vốn không còn đủ để bù đắp cho khoản tiền gửi của khách hàng thì ngân hàng sẽ
lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, có thể dẫn tới nguy cơ gặp phải rủi ro
thanh khoản. Kết quả làm thu hẹp quy mô kinh doanh, năng lực tài chính giảm
sút, uy tín, sức mạnh cạnh tranh trên thị trường giảm. Kết quả kinh doanh ngày
càng xấu và có thể dẫn tới thua lỗ hoặc nặng hơn nữa là phá sản nếu không có biện
pháp xử lý kịp thời.
1.2.7.2 Ảnh hưởng tới kinh tế xã hội
Ngân hàng là tổ chức trung gian tài chính trong nền kinh tế, chuyên huy
động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho các tổ chức các cá nhân doanh nghiệp
có nhu cầu vay lại. Như vậy thực chất quyền sở hữu của các khoản tiền này đã
được chuyển từ người gửi tiền vào ngân hàng. Bởi vậy khi rủi ro tín dụng xảy ra
thì không chỉ ngân hàng chịu thiệt hại mà quyền lợi của người gửi tiền cũng bị ảnh
hưởng rất lớn.
Nguyễn Thị Nhiên Lớp: TCDN tiếng Pháp
15
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Phan Hữu Nghị
Khi một ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng hay bị phá sản sẽ làm cho
những người gửi tiền không chỉ ở ngân hàng đó mà cả các ngân hàng khác hoang
mang lo sợ và kéo nhau ồ ạt tới các ngân hàng để rút tiền, làm cho hệ thống ngân
hàng gặp khó khăn thanh khoản trầm trọng.
Ngân hàng phá sản sẽ làm cho tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp khó khăn do ngân hàng là nguồn cung cấp vốn lớn cho các doanh nghiệp.
Cùng lúc đó nếu doanh nghiệp chưa thu được tiền hàng tức là không có nguồn thu
thì công nhân viên của doanh nghiệp sẽ không được trả lương, cuộc sống của công
nhân viên gặp khó khăn. Hơn nữa, sự hoảng loạn của các ngân hàng ảnh hưởng rất
lớn tới nền kinh tế. Nó làm cho nền kinh tế suy thoái, giá cả thay đổi liên tục, sức

Bản chất tự nhiên của hoạt động ngân hàng là rủi ro. Quản trị rủi ro là hoạt
động trung tâm của ngân hàng. Rủi ro chung đối với một ngân hàng có nghĩa là
mức độ không chắc chắn liên quan tới một vài sự kiện. Các ngân hàng được coi là
thành công khi mức độ rủi ro họ tham gia ở mức hợp lý, được kiểm soát trong
phạm vi và năng lực tài chính của họ. Rủi ro có thể được đo lường cho các loại sản
phẩm, dịch vụ khác nhau của ngân hàng. Rủi ro là những tình huống xảy ra ngoài
dự kiến gây nên những tổn thất kinh tế, làm chi phí tăng lên, thu nhập giảm và lợi
nhuận giảm đi so với dự kiến ban đầu.
Ngân hàng là một doanh nghiệp. Vì là một doanh nghiệp, bản thân nó trước
nhất phải tự trang bị cho mình những biện pháp, cách thức để sinh tồn trong môi
trường kinh tế để phát triển, làm sao vừa đảm bảo tăng trưởng vừa đảm bảo an
toàn. Đó chính là quản lý rủi ro ngân hàng, và trong hoạt động tín dụng thì đó
được gọi là quản lý rủi ro tín dụng.
Rủi ro tín dụng không chỉ là nỗi ám ảnh của bản thân ngân hàng, nó còn là
nỗi ảm ánh của cả hệ thống ngân hàng trên toàn thế giới. Những bất ngờ luôn xảy
ra, ngay cả với ngân hàng giỏi nhất, nhiều kinh nghiệm nhất cũng khó phỏng đoán.
Vì thế, rủi ro tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng luôn luôn là vấn đề thời sự cho
mỗi ngân hàng, mỗi nền kinh tế trong mỗi thời kỳ.
1.3.3 Phương pháp để quản lý rủi ro tín dụng
-Phân tán rủi ro trong cho vay bằng cách không dồn vốn cho vay quá nhiều
đối với một khách hàng hoặc không tập trung cho vay quá nhiều vào một ngành,
lĩnh vực kinh tế có rủi ro cao.
-Thực hiện tốt việc thẩm định khách hàng và khả năng trả nợ trước khi
quyết định tài trợ.
-Bảo hiểm tiền vay, nghĩa là ngân hàng chuyển toàn bộ rủi ro cho cơ quan
bảo hiểm chuyên nghiệp.
-Phải có chính sách tín dụng hợp lý và duy trì các khoản dự phòng để đối
phó với rủi ro.
Nguyễn Thị Nhiên Lớp: TCDN tiếng Pháp
17

1.3.5 Mô hình xếp hạng tín dụng trong quản lý rủi ro tín dụng
Hệ thống XHTD giúp NHTM quản trị rủi ro tín dụng bằng phương pháp
tiên tiến, giúp kiểm soát mức độ tín nhiệm khách hàng, thiết lập mức lãi suất cho
vay phù hơp với dự báo khả năng thất bại của từng nhóm khách hàng. NHTM có
Nguyễn Thị Nhiên Lớp: TCDN tiếng Pháp
18
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Phan Hữu Nghị
thể đánh giá hiệu quả danh mục cho vay thông qua giám sát sự thay đổi dư nợ và
phân loại nợ trong từng nhóm khách hàng đã được xếp hạng, qua đó điều chỉnh
nguồn lực vào nhóm khách hàng an toàn.
Mô hình xếp hạng tín dụng:
Mô hình đơn giản đơn giản nhất được sử dụng trong XHTD là mô hình một
biến số. Chỉ tiêu đánh giá phải được thống nhất trong mô hình. Tỷ suất tài chính
được sử dụng trong mô hình bao gồm các chỉ tiêu thanh khoản, các chỉ tiêu hoạt
động, chỉ tiêu cân nợ, chỉ tiêu lợi tức, chỉ tiêu vay nợ và chi phí trả lãi. Các chỉ tiêu
phi tài chính thường được sử dụng bao gồm thời gian hoạt động của Doanh
nghiệp, số năm kinh nghiệm và trình độ của nhà quản trị cao cấp, triển vọng
ngành. Nhược điểm của mô hình một biến số là kết quả dự báo khó chính xác nếu
thực hiện phân tích và cho điểm các chỉ tiêu đánh giá một cách riêng biệt, hơn nữa
mỗi người có thể hiểu các chỉ tiêu đánh giá theo cách khác nhau. Để khắc phục
nhược điểm này các nhà nghiên cứu đã xây dựng các mô hình kết hợp nhiều biến
số thành một giá trị để đánh giá thất bại của doanh nghiệp như mô hình phân tích
hồi quy, phân tích logic, phân tích xác suất có điều kiện, phân tích phân tích nhiều
biến số.
NHTM áp dụng các mô hình khác nhau tùy theo đối tượng xếp loại cá
nhân, doanh nghiệp hay tổ chức tín dụng. Các mô hình này có thể được điều chỉnh
sau vài năm sử dụng khi thấy có nhiều sai sót lớn giữa xếp hạng với thực tế.
Quy trình xếp hạng tín dụng:
Căn cứ vào chính sách tín dụng và các quy trình có liên quan của từng ngân
hàng nhằm xác lập quy trình XHTD. Một quy trình XHTD bao gồm các bước cơ

ngừa rủi ro và đưa ra các biện pháp cần thiết để khắc phục, giảm thiểu những rủi
ro tín dụng, tránh sự đổ vỡ cho ngân hàng.
Trong xu hướng toàn cầu hoá hiện nay, đòi hỏi các nước phải tự do hoá, mở
cửa thị trường trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng để hội nhập. Do vậy, trong các
hoạt động ngân hàng cần được thực hiện và quản lý thông qua các tiêu chuẩn, tiêu
chí có tính thông lệ quốc tế, đặc biệt trong quản lý nợ xấu, vì:
- Quản lý nợ xấu theo chuẩn mực quốc tế hiện đại sẽ làm tăng khả năng
cung cấp dịch vụ của các NHTM do tạo thêm nguồn vốn từ việc tăng nhanh vòng
quay vốn và thu hút thêm được nhiều khách hàng, bởi vì các hình thức của sản
phẩm, dịch vụ, tạo ra một hình ảnh tốt về biểu tượng và uy tín của ngân hàng, làm
cho khách hàng mong muốn gắn bó lâu dài với ngân hàng.
- Tín dụng là một trong những hoạt động kinh doanh chủ yếu của ngân
hàng, việc ứng dụng các mô hình quản lý tài sản hiện đại, đặc biệt là quản lý nợ
xấu sẽ hạn chế tổn thất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, tăng lợi nhuận
bổ sung vốn đầu tư.
Nguyễn Thị Nhiên Lớp: TCDN tiếng Pháp
20
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Phan Hữu Nghị
- Ngân hàng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, góp phần điều hoà vốn
trong nền kinh tế. Do đó, chất lượng hoạt động kinh doanh của ngân hàng củng cố
mối quan hệ xã hội của ngân hàng, điều đó cũng có ý nghĩa là tạo được môi trường
thuận lợi nhất cho hoạt động ngân hàng phát triển, gia tăng giá trị cho các ngân
hàng đồng thời mở rộng thị trường trong nước và quốc tế.
- Việc tuân thủ các nguyên tắc cơ bản Basel giúp các cơ quan quản lý xây
dựng hệ thống thanh tra giám sát hiệu quả, hỗ trợ việc phát triển thị trường tài
chính, phát triển hoạt động ngân hàng vững mạnh, nâng cao khả năng cạnh tranh,
gia tăng giá trị cho các NHTMvà mở rộng thị trường trong nước và quốc tế.
Ủy ban Basel đã ban hành đề xuất khung đo lường mới với 3 trụ cột chính:
(1) Yêu cầu vốn tối thiểu trên cơ sở kế thừa Basel I,
(2) Sự xem xét đánh giá của quá trình đánh giá nội bộ và sự đủ vốn của các

2.1 Khái quát chung về NHTMCP nhà Hà Nội
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Ngân hàng thương mại cổ phần nhà Hà Nội – tên viết tắt là Habubank- là
ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên ở Việt Nam, được thành lập từ năm 1989
theo Quyết định số 6719 QĐ/UB ngày 31/12/1988 của UBNN thành phố Hà Nội
với mục tiêu ban đầu là hoạt động tín dụng và dịch vụ trong lĩnh vực phát triển
nhà. Ngân hàng được ngân hàng nhà nước Việt Nam cấp giấy phép hoạt động số
0020/NH – GP ngày 6 tháng 6 năm 1992.
Ngân hàng được thành lập nhằm thực hiện các giao dịch ngân hàng bao
gồm: huy động và nhận tiền gửi ngắn hạn, trung hạn và dài hạn từ các tổ chức và
cá nhân; chi vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn đối với các tổ chức cá nhân trên
cơ sở tính chất và khả năng nguồn vốn của Ngân hàng; thực hiện các giao dịch
ngoại tệ, các dịch vụ tài trợ thương mại quốc tế, chiết khấu thương phiếu, trái
phiếu và các giấy tờ có giá khác, các dịch vụ ngân hàng khác được Ngân hàng Nhà
nước cho phép.
Vốn điều lệ:
Vốn điều lệ ban đầu của ngân hàng là 50.000 triệu đồng và được bổ sung
từng thời kỳ theo kế hoạch mở rộng hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Số vốn
điều lệ của ngân hàng tại thời điểm 31/12/2009 là 3000 tỷ đồng ( tại ngày
31/12/2008 là 2800 tỷ đồng)
Vốn tăng lên Được chấp thuận theo Ngày
200.000 tr đ QĐ 1882/NHNN – HAN7 16/10/2009
Mô hình tổ chức:
Habubank hiện có mô hình tổ chức báo cáo ít tầng nhằm giảm thiểu tính
quan liêu trong hệ thống cũng như nâng cao tính năng động của tổ chức. Ðặc điểm
nổi bật của mô hình Habubank là tập trung vào khách hàng, đội ngũ nhân viên
chuyên nghiệp và quản lý rủi ro hiệu quả.
Nguyễn Thị Nhiên Lớp: TCDN tiếng Pháp
23
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Phan Hữu Nghị

LÝ RỦI
RO TÍN
DỤNG
BAN
QUẢN
LÝ RỦI
RO THỊ
TRƯỜNG
BAN
QUẢN
LÝ RỦI
RO
HOẠT
ĐỘNG
PHÓ
TỔNG
GIÁM
ĐỐC
NGÂN
HÀNG
DOANH
NGHIỆP
PHÓ
TỔNG
GIÁM
ĐỐC
NGÂN
HÀNG

NHÂN

ING &
PR
PHÓ
TỔNG
GIÁM
ĐỐC
PHÁP
CHẾ VÀ
TUÂN
THỦ
PHÓ
TỔNG
GIÁM
ĐỐC
KINH
DOANH
NGUỒN
VỐN
HỖ TRỢ QUẢN TRỊ ĐIỀU HÀNH KIỂM TOÁN NỘI BỘ
BAN KIỂM SOÁT
24
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Phan Hữu Nghị
Mục tiêu chiến lược: Để tạo dựng NIỀM TIN, Habubank hoạt động theo năm
mục tiêu chiến lược rõ ràng:
1. Tối đa hóa giá trị đầu tư của các cổ đông, giữ vững tốc độ tăng trưởng lợi
nhuận và tình hình tài chính lành mạnh.
2. Không ngừng nâng cao động lực làm việc và năng lực cán bộ; Habubank
phải luôn dẫn đầu ngành Ngân hàng trong việc sáng tạo, phát triển chính sách đãi
ngộ và cơ hội thăng tiến nghề nghiệp cho cán bộ của mình.
3. Duy trì sự hài lòng, trung thành và gắn bó của khách hàng với Habubank;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status