Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng
LỜI NÓI ĐẦU
Vốn là điều kiện tiền đề cho mọi hoạt động sản xuất nói chung. Ở Việt
Nam hiện nay vốn đang trở thành vấn đề cấp thiết cho quá trình tăng trưởng và
phát triển của nền kinh tế đất nước. Tuy nhiên để huy động được khối lượng vốn
lớn từ nền kinh tế trong nước là một thách thức lớn đối với nền kinh tế Việt Nam
nói chung và đối với hệ thống Ngân hàng thương mại nói riêng.
Trong điều kiện thị trường chứng khoán phát triển chưa tương xứng với
nhu cầu rất lớn của nền kinh tế thì quá trình nhìn nhận và điều chuyển vốn trên
thị trường chủ yếu thực hiện hệ thống Ngân hàng thương mại- nơi tích tụ, tập
trung, khơi dậy và động viên các nguồn lực cho sự phát nền kinh tế đất nước và
trên thực tế ở nước ta có hơn 80% lượng vốn trong nền kinh tế là do Ngân hàng
cung cấp.
Ngân hàng với tư cách là một trung gian tài chính hoạt động trên thị
trường, hoạt động theo nguyên tắc đi vay để cho vay cần phải nỗ lực để thu hút
vốn phục vụ cho nền kinh tế. Các ngành kinh tế và nhân dân hiện nay đang đòi
hỏi ở ngành Ngân hàng là phải góp phần làm thay đổi luồng chảy cuả vốn hướng
các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi vào các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh
doanh, cải thiện đời sống.
Nguồn vốn trong kinh doanh của Ngân hàng có vai trò đặc biệt quan
trọng, nó là cơ sở cho công tác tín dụng. Muốn mở rộng việc cho vay, phát triển
sản xuất kinh doanh không thể trông chờ vào nguồn ngân sách như ở thời kì bao
cấp mà Ngân hàng phải tổ chức huy động từ nền kinh tế để làm nguồn vốn tín
dụng, nâng cao khả năng huy động vốn, hoàn thiện thêm những hình thức huy
động vốn cho Ngân hàng trong tương lai.
Vì vậy vấn đề đặt ra cho các Ngân hàng thương mại hiện nay là: làm thế
nào để tìm ra giải pháp tối ưu nhằm khai thác triệt để nguồn vốn nhàn rỗi nằm
Nguyễn Thị Toàn NHD-CĐ26
1
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng
trong dân cư và các thành phần kinh tế phục vụ cho tiến trình Công nghiệp hóa-
- Vốn huy động là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn
khoảng 70- 80%, là kênh cung cấp vốn chủ yếu cho các ngân hàng hoạt động.
- Bản chất của vốn huy động là tài sản của khách hàng, ngân hàng chỉ có
quyền sử dụng và phải hoàn trả lại cho khách hàng cả gốc và lãi khi đến hạn
thanh toán hoặc khi khách hàng có nhu cầu rút vốn để chi trả trước hạn. Với thời
hạn hoàn trả có thể là không cố định nên ngân hàng không thể sử dụng toàn bộ
số tiền gửi mà phải dự trữ với một tỷ lệ thích hợp để đảm bảo khả năng thanh
toán. Ngoài ra vốn huy động là loại vốn phải trích dự trữ bắt buộc nên chi phí sử
dụng nguồn vốn này thường cao hơn các nguồn vốn khác
- Nguồn vốn này đặc biệt nhạy cảm với những biến động của nền kinh tế
như lăi suất, tỷ giá, thu nhập, chu kỳ kinh tế.
- Sự thay đổi nguồn vốn huy động ngắn hạn sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới
cung cầu thanh khoản và khả năng thanh khoản của ngân hàng
1.1.2. Vai trò của vốn huy động.
Vốn huy động là nguồn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của
ngân hàng. Nó có vai trò rất quan trọng đối với các hoạt động kinh doanh của
NHTM. Nguồn vốn huy động dồi dào giúp ngân hàng đa dạng hóa các hoạt động
kinh doanh nhằm phân tán rủi ro và thu được lợi nhuận cao vì mục tiêu an toàn
và hiệu quả. Vậy vốn là cơ sở để ngân hàng tạo thế chủ động trong kinh doanh.
Thứ nhất, Vốn huy động là cơ sở để ngân hàng tiến hành hoạt động kinh
doanh. Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, muốn hoạt động kinh doanh được thì
Nguyễn Thị Toàn NHD-CĐ26
3
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng
phải có vốn, vì vốn phản ánh năng lực kinh doanh. Điều này thể hiện ở vốn tự
có, vốn huy động và vốn đi vay của ngân hàng. Nếu vốn tự có giữ vai trò quan
trọng trong việc thành lập thì sau khi đi vào hoạt động, vốn huy động quyết định
tới quy mô đầu tư, cho vay nên sẽ ảnh hưởng tới thu nhập của ngân hàng.
Vậy, nếu ngân hàng không có vốn thì không thể tiến hành hoạt động kinh
doanh. Bởi vì, với đặc trưng của hoạt động ngân hàng, vốn không chỉ là phương
hàng có khả năng tài chính dồi dào để cạnh tranh với các ngân hàng khác: hạ lãi
suất, linh hoạt về thời gian tín dụng, hình thức trả lãi… Các dịch vụ ngân hàng sẽ
ngày càng được cải tiến, phát triển và được thực hiện tốt hơn.
1.1.3. Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng thương mại.
1.1.3.1. Huy động vốn tiền gửi.
Vốn tiền gửi bao gồm:
+ Tiền gửi không kỳ hạn: là loại tiền gửi mà khách hàng có thể rút ra bất
cứ lúc nào. Khách hàng có thể yêu cầu ngân hàng trích tiền từ tài khoản tiền gửi
này để chi trả cho người thụ hưởng hoặc yêu cầu ngân hàng chuyển số tiền mình
được hưởng vào tài khoản. Đối với khoản tiền này mục đích của người sử dụng
là đảm bảo an toàn về tài sản và thực hiện các hoạt động thanh toán qua ngân
hàng nên còn được gọi là tài khoản tiền gửi thanh toán. Ở Việt Nam, loại tài
khoản này bao gồm tài khoản thanh toán cho doanh nghiệp và tài khoản thanh
toán dùng cho cá nhân. Hiện nay hầu hết các NHTM trả lãi cho khoản tiền gửi
này và NHTM sẽ thực hiện thu phí thanh toán khi khách hàng sử dụng dịch vụ
thanh toán. Đối với loại tài khoản này, khách hàng có thể rút vốn khỏi ngân hàng
bất kỳ khi nào có nhu cầu và ngân hàng có nghĩa vụ thỏa mãn yêu cầu đó vô điều
kiện. Do vậy đây là một nguồn vốn biến động thường xuyên.
Với tính chất như vậy giải pháp chủ yếu để tăng cường nguồn vốn này
không phải là yếu tố lãi suất mà là sự thuận tiện, an toàn cho nguồn vốn tiền
gửi cũng như chất lượng dịch vụ tiện ích của ngân hàng đặc biệt là dịch vụ
thanh toán không dùng tiền mặt.
Nguyễn Thị Toàn NHD-CĐ26
5
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng
+ Tiền gửi có kỳ hạn: là loại tiền gửi mà khách hàng được rút ra sau một
thời hạn nhất định theo quy định của ngân hàng trong từng thời kỳ. Mục đích
chủ yếu của người gửi tiền là lấy lãi, ngân hàng có thể chủ động kế hoạch hóa
cho việc sử nguồn vốn này. Mức lãi suất cụ thể phụ thuộc vào thời hạn gửi tiền
và sự thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng trên cơ sở xem xét mức độ an
trường. Nguồn vốn này tương đối ổn định, nhưng lãi suất của loại vốn này
thường cao hơn lãi suất tiền gửi có kỳ hạn thông thường do sự cấp thiết của việc
huy động vốn. Ngân hàng chủ động phát hành phiếu nợ để huy động vốn nhằm
những mục đích nhất định: cho vay khắc phục hậu quả bão lụt, cho vay để mua
nông sản….Các giấy tờ có giá được phát hành phải bao gồm các yếu tố bắt buộc:
tên tổ chức phát hành, tên gọi của giấy tờ có giá, mệnh giá, thời hạn, ngày phát
hành, ngày đến hạn thanh toán, lãi suất, phương thức trả lãi, thời gian và địa
điểm trả lãi, địa điểm thanh toán gốc và giấy tờ có giá, phải ghi rõ là giấy tờ có
giá vô danh hay hữu danh. Các loại giấy tờ có giá thường được ngân hàng sử
dụng:
- Giấy tờ có giá ngắn hạn:
+ Chứng chỉ tiền gửi (CDs): là công cụ vay nợ do ngân hàng phát hành
nhằm huy động vốn trên thị trường với bản chất tương tự như một khoản tiền gửi
có hạn kỳ. Theo đó người sở hữu CD được hưởng các khoản lãi suất định kỳ tính
toán trên cơ sở 360 ngày và được hoàn trả mệnh giá khi đến hạn. Thời hạn của
CDs thường là ngắn hạn 1-3 tháng hoặc 6 tháng và có thể là 5-7 năm nhưng chủ
yếu vẫn là ngắn hạn. Lãi suất được tổ chức phát hành ấn định dựa vào lãi suất
cạnh tranh trên thị trường, tình trạng tài chính của tổ chức phát hành và thời hạn
của CDs.
+ Kỳ phiếu ngân hàng: là kỳ phiếu huy động vốn có mục đích, có thời
hạn, có lãi suất tương ứng với từng kỳ hạn hoặc phương thức trả lãi. Kỳ phiếu
thường được phát hành thường xuyên và có kỳ hạn phong phú thường là từ 3
Nguyễn Thị Toàn NHD-CĐ26
7
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng
tháng, 6 tháng…Kỳ phiếu có đặc điểm là tính ổn định hơn nhưng lãi suất cũng
cao hơn so với tiền gửi thông thường nên ngân hàng cần phải có kế hoạch sử
dụng vốn cụ thể trước khi huy động. Việc phát hành các giấy tờ có giá được áp
dụng chủ yếu theo 2 phương thức:
Phát hành theo mệnh giá: Người mua trả tiền mua kỳ phiếu theo mệnh
ngờ về các khoản huy động hoặc giảm cho vay sẽ có thể sẵn lòng cho các ngân
hàng khác vay để tìm lãi suất cao hơn. Ngược lại, các ngân hàng đang thiếu hụt
dự trữ có nhu cầu vay mượn tức thời để đảm bảo khả năng thanh khoản. Như vậy
nguồn vốn vay mượn từ các ngân hàng khác là để đáp ứng nhu cầu dự trữ và chi
trả cấp bách và trong nhiều trường hợp nó có thể bổ sung hoặc thay thế cho
nguồn vay mượn từ NHNN. Khoản vay có thể không cần đảm bảo hoặc được
đảm bảo bằng các chứng khoán của kho bạc nhà nước.
1.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động huy động vốn.
Một trong những tiêu chí quan trọng để người dân lựa chọn ngân hàng
để gửi tiền chính là khả năng cung ứng nhiều tiện ích thuận tiện chứ không chỉ
đơn thuần là chức năng cất trữ tiền tệ và kiếm lời qua lãi suất. Do đó, khách hàng
sẽ luôn tìm đến những ngân hàng có uy tín, lãi suất hấp dẫn, phong cách phục vụ
tốt, sản phẩm dịch vụ phong phú, tiếp thị hiệu quả, phân phối và cung ứng dịch
vụ thuận tiện. Chính vì vậy, để hoạt động huy động vốn trong dân đạt hiệu quả
cao, các NHTM sẽ phải cạnh tranh rất gay gắt, qua đó nâng cao chất lượng phục
vụ, củng cố uy tín và khẳng định vị thế của mình.
1.2.1 Khái niệm về hiệu quả huy động vốn
Hiệu quả huy động vốn là phạm trù phản ánh trình độ và khả năng đảm bảo
thực hiện công tác huy động vốn có kết quả và hiệu quả cao với chi phí thấp
nhất. Có nghĩa là đối với mặt lượng, hiệu quả huy động vốn biểu hiện giữa kết
quả thu được và chi phí bỏ ra, còn đối với mặt chất, nó phản ánh giữa năng lực
và trình độ quản lý của ngân hàng.
Nguyễn Thị Toàn NHD-CĐ26
9
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng
Đánh giá công tác huy động vốn của NHTM, chúng ta có thể rút ra những
giải pháp tốt để đảm bảo công tác huy động vốn có hiệu quả và an toàn.
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn
1.2.2.1. Sự tăng trưởng của quy mô vốn.
Đây là chỉ tiêu đầu tiên khi đánh giá hiệu quả huy động vốn bởi quy mô vốn
nhất, ít nhất. Từ đó thấy được sự phù hợp, tìm ra nguyên nhân tại sao và kịp thời
đưa ra giải pháp. Ngoài ra chỉ tiêu này có thể thấy được mức độ ổn định hay
không của từng loại nguồn vốn.
- Cơ cấu vốn huy động theo kỳ hạn
Chỉ tiêu cơ cấu huy động theo kỳ hạn phản ánh tỷ trọng nguồn vốn huy
động theo kỳ hạn trong tổng vốn huy động là bao nhiêu phần trăm (%).
Công thức:
V
i
KH
VHĐ
V
i
KH
là nguồn vốn huy động theo thời hạn i
Ngân hàng có thể huy động và cho vay theo các kỳ hạn khác nhau, mỗi kỳ
hạn có những ưu nhược điểm riêng, chính vì vậy ngân hàng phải tính toán sao
cho huy động và sử dụng vốn với kỳ hạn hợp lý nhằm mục đích sinh lời và an
toàn.
Đối với khoản vốn huy động ngắn hạn, ngân hàng chỉ có được nguồn vốn
ổn định trong ngắn hạn nhưng chi phí cho khoản huy động này thấp. Để đảm bảo
an toàn, ngân hàng thường dùng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay ngắn hạn và sử
dụng một tỷ lệ nhất định của nguồn vốn này để cho vay trung và dài hạn. Như
vậy, ngân hàng sẻ giảm được rủi ro lãi suất và rủi ro thanh khoản.
Đối với nguồn vốn càng dài hạn thì chi phí càng cao trong khi nguồn vốn rẻ
thì tính ổn định lại thấp. Do đó vấn đề đặt ra cho các ngân hàng là tính toán cơ
cấu nguồn vốn huy động một cách hợp lý. Mục tiêu của ngân hàng lúc này
Nguyễn Thị Toàn NHD-CĐ26
11
D
nhau. Tuy nhiên, nhìn chung các ngân hàng thường cố gắng đa dạng hóa đối
tượng khách hàng của mình nhằm phân tán rủi ro bởi khách hàng gửi tiền cũng
thường là những khách hàng sẽ sử dụng những sản phẩm dịch vụ khác của ngân
hàng như vay vốn, bảo lãnh, thanh toán…
- Cơ cấu vốn huy động theo loại tiền (nội tệ, ngoại tệ)
Nguyễn Thị Toàn NHD-CĐ26
12
D
ĐT
=
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng
Đây cũng là một chỉ tiêu đánh giá về hiệu quả huy động vốn của ngân hàng.
Nó phản ánh tỷ trọng của nguồn vốn huy động bằng ngoại tệ hay nội tệ trong
tổng nguồn vốn huy động, chiếm bao nhiêu lần hay bao nhiêu phần trăm (%).
Công thức:
V
i
LT
VHĐ
V
i
LT
là nguồn vốn huy động theo loại tiền i
Những ngân hàng tập trung vào các hoạt động kinh tế đối ngoại thì tỷ lệ huy
động ngoại tệ thường cao hơn nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn. Tùy vào loại
hình hoạt động kinh doanh và mục tiêu của ngân hàng trong tương lai mà có cơ
cấu huy động vốn nội tệ, ngoại tệ cho hợp lý.
1.2.2.3 Chi phí huy động.
Muốn huy động vốn, ngân hàng phải trả lãi cho các khoản vốn huy động và
chi phí lãi khác phục vụ cho công tác huy động vốn.
cấu vốn hợp lý cho ngân hàng. Các ngân hàng không chỉ huy động vốn càng
nhiều càng tốt mà phải tìm nơi đầu tư hiệu quả bởi nếu không cho vay và đầu tư
hết sẽ gây tình trạng ứ đọng vốn, chi phí bỏ ra nhiều mà không đem lại lợi
nhuận. Ngược lại, khi nhu cầu sử dụng vốn tăng cao mà ngân hàng không có khả
năng thu hút vốn, ngân hàng sẽ mất đi cơ hội kinh doanh và khả năng tạo lợi
nhuận sẽ giảm sút, đồng thời uy tín đối với khách hàng cũng bị ảnh hưởng. Sự
không cân xứng giữa huy động vốn và sử dụng vốn có thể dẫn tới các rủi ro chủ
yếu như rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro hối đoái.
Rủi ro lãi suất là những tổn thất, thiệt hại mà ngân hàng phải gánh chịu khi
lãi suất trên thị trường biến động. Đây là rủi ro mang lại tính đặc trưng của bất
kỳ một trung gian tài chính nào khi có sự chênh lệch về thời gian giữa nguồn vốn
và sử dụng vốn. Sự không cân xứng về thời hạn giữa tài sản có và tài sản nợ xảy
ra thường xuyên trong quá trình hoạt động của trung gian tài chính cũng như sự
biến động thường xuyên của mức lãi suất trên thị trường làm cho các tổ chức này
rơi vào tình trạng rủi ro lãi suất. Rủi ro lãi suất được thể hiện ở hai dạng là rủi ro
Nguyễn Thị Toàn NHD-CĐ26
14
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng
do tái tài trợ tài sản Nợ và rủi ro do tái đầu tư tài sản Có. Rủi ro do tài trợ tài sản
Nợ là trường hợp khi thời gian của nguồn vốn huy động ngắn hơn thời gian sử
dụng vốn. Nếu lãi suất trên thị trường có xu hướng tăng lên cao hơn mức lãi suất
đang đầu tư thì rủi ro lãi suất nảy sinh do ngân hàng phải huy động vốn với lãi
suất cao để tài trợ cho khoản sử dụng vốn có kỳ hạn. Rủi ro do tái đầu tư tài sản
Có là trường hợp khi thời hạn nguồn vốn lớn hơn thời hạn sử dụng vốn, nếu lãi
suất trên thị trường có xu hướng giảm thì rủi ro lãi suất nảy sinh do nguồn vốn
được đầu tư lại với lãi suất thấp hơn lãi suất thị trường.
Rủi ro thanh khoản phát sinh khi những người gửi tiền đồng thời có nhu cầu
rút tiền tại các trung gian tài chính ngay lập tức. Nếu ngân hàng chủ yếu huy
động vốn không kỳ hạn và ngắn hạn trong khi lại sử dụng vốn có kỳ hạn dài sẽ
dẫn đến sự không cân xứng về kỳ hạn giữa nguồn vốn và sử dụng vốn, khi sự
môi trường kinh tế vĩ mô và chính sách vĩ mô (tiết kiệm, lãi suất, lạm phát và tỷ
giá, thu hút vốn); môi trường chính trị, xã hội; đặc điểm dân cư (niềm tin đối với
ngân hàng, thói quen tiết kiệm, thói quen giữ tiền, thói quen tiêu dùng); sự phát
triển ổn định và uy tín của NHTM (các tiện ích, tính đồng nhất, nghiệp vụ, sự
phong phú); các hình thức huy động vốn (hình thức huy động, kỳ hạn huy
động…); thông tin (lôi cuốn người gửi tiền, giáo dục…) và các nhân tố khác
(khuyến mại, maketing…).
1.3.3.1. Nhân tố chủ quan.
Nhân tố chủ quan bao gồm các nhân tố bên trong nằm trong sự kiểm soát
của ngân hàng, chiến lược với nhóm nhân tố này là xác định và phát huy điểm
mạnh, khắc phục điểm yếu. Nhóm nhân tố này bao gồm : uy tín, kênh phân phối
và công nghệ của ngân hàng, lãi suất huy động của ngân hàng, các sản phẩm
dịch vụ mà ngân hàng đưa ra và đội ngũ cán bộ của ngân hàng…
Uy tín của ngân hàng
Hình ảnh của ngân hàng cũng ảnh hưởng không nhỏ tới công tác huy động
vốn. Ngân hàng phải tạo ra cho mình hình ảnh đẹp, bề thế gây lòng tin cho khách
Nguyễn Thị Toàn NHD-CĐ26
16
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng
hàng, dân chúng tin tưởng vào ngân hàng và đem gửi tiền vào ngân hàng. Vì
người gửi tiền bên cạnh mục đích sinh lời còn có mục đích an toàn. Do đó uy tín
của ngân hàng càng lớn thì người gửi tiền càng cảm thấy an toàn hơn và có thể
hy sinh một chút lãi chênh lệch để hưởng sự an toàn này. Ngược lại, hình ảnh
của ngân hàng không tạo được lòng tin cho dân chúng thì họ sẽ dùng tiền của
mình đầu tư vào kĩnh vực khác.
Kênh phân phối của ngân hàng
Tổ chức hoạt động tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của quá trình kinh
doanh. Tổ chức tiêu thụ sản phẩm chính là hình thức cạnh tranh phi giá cả và gây
ra sự chú ý và thu hút khách hàng. Việc xây dựng các kênh phân phối trở thành
một vấn đề hết sức trọng yếu trong kinh doanh ở các NH. Kênh phân phối là
thể xác định lượng vốn tăng đến bao nhiêu, huy động loại vốn nào thì chi phí
huy động là thấp nhất, mang lại lợi nhuận và sự an toàn nhất cho ngân hàng.
Sự đa dạng các dịch vụ, sản phẩm huy động của ngân hàng:
Mỗi khách hàng có nhu cầu về dịch vụ là khác nhau nên ngân hàng cần có
những sản phẩm, dịch vụ huy động khác nhau để khách hàng lựa chọn. Một
ngân hàng có dịch vụ, sản phẩm phong phú, linh hoạt, thuận tiện thì khả năng
huy động vốn sẽ càng cao.
Đội ngũ cán bộ ngân hàng
Để tăng lưọng khách hàng đến giao dịch với ngân hàng thì một trong
những yêu cầu bắt buộc là trình độ chuyên môn nghiệp vụ của tất cả các cán bộ,
nhân viên trong các NHTM, không chỉ là trình độ chuyên môn nghiệp vụ tài
chính – ngân hàng, mà còn đòi hỏi trình độ kinh tế tổng hợp, bởi vì, có như vậy
thì các NHTM mới tư vấn cho khách hàng của mình các định hướng mở tài
khoản loại nào tại ngân hàng là phù hợp với khách hàng, tiết kiệm theo hình thức
nào, kỳ hạn như thế nào…đội ngũ cán bộ ngân hàng là người luôn tiếp xúc trực
tiếp với khách hàng và giới thiệu về sản phẩm của ngân hàng nên thái độ phục
vụ có ảnh hưởng rất lớn đến sự hài lòng của khách hàng. Một đội ngũ cán bộ có
Nguyễn Thị Toàn NHD-CĐ26
18
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng
chuyên môn, có tinh thần trách nhiệm, thân thiện với khách hàng và một nhà
quản lý giỏi, nhiệt tình sẽ là nền tảng cho sự thịnh vượng của một ngân hàng.
1.3.3.2. Nhân tố khách quan:
Nhân tố khách quan là những nhân tố bên ngoài tầm kiểm soát của ngân
hàng. Đối với nhóm nhân tố này ngân hàng cần thích ứng một cách tốt nhất, nó
bao gồm : môi trường kinh tế, chính trị, xã hội , các nhân tố pháp lý, sự chỉ đạo
của ngân hàng mẹ, tâm lý tập quán của khách hàng…
Môi trường kinh tế, chính trị, xã hội
Bất cứ ngân hàng nào cũng có môi trường kinh tế, chính trị, xã hội. Các
chỉ tiêu kinh tế như Tốc độ tăng trưởng, chỉ số lạm phát, thu nhập dân cư…ảnh
chuyển vốn giữa Hội sở chính và các chi nhánh – Các chi nhánh sẽ huy động và
gửi tất cả lên Hội sở chính đúng với kỳ hạn huy động của mình và khi muốn sử
dụng thì lại vay từ Hội sở chính với mức lãi suất ưu đãi. Cơ chế này giúp các chi
nhánh tránh được rủi ro kỳ hạn và làm giảm chi phí trả lãi của Hội sở chính. Mặc
dù vậy nhưng cơ chế này lại làm giảm tính chủ động trong việc huy động và sử
dụng vốn của các chi nhánh. Hơn nữa, hiệu quả sử dụng vốn không đạt tối ưu vì
khi tiền gửi được gửi tại Hội sở chính theo kỳ hạn danh nghĩa nhưng trong thực
tế các ngân hàng lại hoạt động huy động vốn theo kỳ hạn thực tế. Hội sở chính sẽ
không biết rõ được tính chất của nguồn vốn, kỳ hạn thực của nguồn vốn vì vậy
sẽ sử dụng vốn không hiệu quả, gây lãng phí rất lớn. Hơn nữa sẽ làm cho mối
quan hệ giữa khách hàng và chi nhánh ít bền chặt và sẽ tác động không nhỏ đến
tổng vốn huy động.
Tâm lý tập quán của khách hàng.
Tâm lý khách hàng là một trong các yếu tố quan trọng. Bất cứ khách hàng nào
khi đem vốn của mình đi đầu tư cũng muốn đồng vốn của mình sinh lời. Đó là sự
mong muốn của công chúng đầu tư. Tuy nhiên, trong thực tế một số ngân hàng thương
mại không quan tâm đúng mức yếu tố này. Đây cũng là một nguyên nhân gây mất lòng
tin của khách hàng đối với ngân hàng, do vậy ngân hàng mất đi một lượng khách hàng
lớn (đồng nghĩa với việc giảm quy mô của nguồn vốn huy động) làm ảnh hưởng tới uy
Nguyễn Thị Toàn NHD-CĐ26
20
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng
tín của ngân hàng trên thị trường. Chính vì vậy, các nhà quản lý ngân hàng phải nghiên
cứu tâm lý, nhu cầu của khách hàng từ đó đưa ra những giải pháp thích hợp nhằm khơi
dậy lòng tin của khách hàng đối với ngân hàng. Ngân hàng phải có địa điểm giao dịch
thuận tiện, đây là yếu tố cần thiết nhằm thu hẹp không gian, rút ngắn thời gian cho
khách hàng khi đến giao dịch. Tạo điều kiện cho khách hàng mở rộng khối lượng giao
dịch, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng huy động vốn. Nhân viên ngân hàng
phải thường xuyên giúp đỡ khách hàng, tạo cho khách hàng niềm tin vào ngân hàng.
Từ đó khách hàng thấy được sự quan tâm của ngân hàng đối với mình và sẵn sàng tìm
Nguyễn Thị Toàn NHD-CĐ26
22
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng
Ban giám đốc: gồm 1 giám đốc và 2 phó giám đốc.
Giám đốc là người chịu toàn bộ trách nhiệm trước pháp luật và trước giám
đốc NHNo&PTNT Tỉnh Thái Bình. Giúp việc cho giám đốc là hai phó giám đốc
trong chỉ đạo, điều hành, tham gia chỉ đạo nghiệp vụ do giám đốc phân công và
thay mặt giám đốc khi được ủy quyền.
Phòng kế hoạch kinh doanh
Là phòng rất quan trọng trong việc nghiên cứu xây dựng các kế hoạch, hỗ
trợ đắc lực cho ban lãnh đạo ngân hàng trong việc ra các quyết định kinh doanh
chiến lược của ngân hàng. Nhiệm vụ của phòng kế hoạch kinh doanh là:
- Nghiên cứu và đề xuất chiến lược khách hàng, chiến lược huy động vốn trên
địa bàn thành phố Thái Bình.
- Xây dựng chiến lược kinh doanh theo định hướng kinh doanh của ngân hàng
Tỉnh.
- Tổng hợp, theo dõi các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh và quyết toán kế hoạch
hoạt động, xây dựng các báo cáo trình ban giám đốc.
- Cân đối nguồn vốn, sử dụng nguồn vốn và điều hòa vốn kinh doanh.
- Làm đầu mối thực hiện thông tin phòng ngừa rủi ro và xử lý thông tin tín dụng.
Trong đó, phòng tín dụng có chức năng:
- Nghiên cứu xây dựng chiến lược khách hàng, phân loại khách hàng và đề xuất
các chính sách ưu đãi tín dụng đối với khách hàng.
- Thẩm định và cho vay theo cấp ủy quyền nhằm mở rộng hoạt động tín dụng,
đảm bảo an toàn và hiệu quả.
- Tiếp nhận chương trình, dự án thuộc nguồn vốn trong và ngoài nước, trực tiếp
làm dịch vụ ủy thác nguồn vốn Chính Phủ, bộ, ngành và các cá nhân, tổ chức
kinh tế trong nước.
- Tổng hợp báo cáo định kỳ và thường xuyên theo dõi, tư vấn cho giám đốc về
những lĩnh vực do phòng phụ trách.
2011
Tỉ lệ tăng
2011/2010(%)
Tổng nguồn vốn
huy động
131,665.50 141,485.22 7.45 180,928.44 27.88
Tiền gửi của
khách hàng
125,724.16 137,311.82 9.22 178,737.44 30.17
Phát hành giấy tờ
có giá
5,941.34 4,173.40 -29.76 2,191.00 -47.50
(Nguồn: BCĐ chi tiết của NHNo-KVI Tỉnh Thái Bình)
Để tạo được tính chủ động trong kinh doanh và đáp ứng tốt nhất nhu cầu vốn
của khách hàng thì các ngân hàng phải tạo cho mình nguồn vốn dồi dào dựa trên
tình hình thực tế của địa bàn và biện pháp huy động vốn phù hợp. Nhận biết
được vai trò của nguồn vốn huy động đối với hoạt động ngân hàng, trong những
năm qua, công tác huy động vốn tại chi nhánh ngày càng được chú trọng theo
hướng nâng cao cả về số lượng và chất lượng. Chi nhánh đã luôn chủ động tích
cực trong công việc, giải quyết nhanh chóng các nghiệp vụ với thái độ phục vụ
văn minh, thân thiện khiến khách hàng luôn cảm thấy thoải mái khi đến giao
dịch tại chi nhánh. Đó là một cách thông minh để có thể lôi kéo, giữ chân khách
hàng trong bối cảnh lãi suất huy động hiện nay giữa các ngân hàng hầu như
không có sự khác biệt. Công tác tiết kiệm được thực hiện đúng quy trình, đảm
bảo an toàn, đã được sự yên tâm tin tưởng của khách hàng. Đó là lý do tại sao
nguồn vốn huy động được không ngừng tăng qua các năm từ 2009 đến 2011.
Năm 2010 tăng 7.45% (9,819.72 triệu đồng) so với năm 2009 trong đó mặc dù
nguồn vốn từ phát hành giấy tờ có gía giảm 1,767.94 triệu đồng (giảm 29.76%)
so với năm 2009 nhưng nguồn vốn huy động từ tiền gửi của khách hàng tăng
Nguyễn Thị Toàn NHD-CĐ26