Nghiên cứu chế tạo xúc tác hopcalite cho phản ứng oxi hóa co ở nhiệt độ thấp - Pdf 23

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

NGUYỄN ĐĂNG KHOA NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO XÚC TÁC
HOPCALITE CHO PHẢN ỨNG OXI HÓA
CO Ở NHIỆT ĐỘ THẤP

Chuyên ngành: HÓA VÔ CƠ
Mã số: 60 44 25

LUẬN VĂN THẠC SĨ:
HÓA VÔ CƠ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Nguyễn Thiết Dũng
1.1.4 Độc tính 5
1.2 Khái quát về cơ chế oxi hóa trên các chất xúc tác rắn 6
1.3 Oxi hóa cacbon monoxit CO 8
1.4 Các phương pháp chế tạo xúc tác trên cơ sở oxit và hỗn hợp oxit 12
1.5 Xúc tác hopcalite 12
1.5.1 Giới thiệu 12
1.5.2 Các phương pháp tổng hợp 13
1.5.3 Tính chất nhiệt của Hopcalite vô định hình 17
1.5.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt tính của hopcalite 18
1.5.5 Ứng dụng của Hopcalite 21
1.5.6 Cơ chế phản ứng xúc tác Oxi hóa CO 21
1.5.7 Một số phương pháp biến tính xúc tác Hopcalite 21
Chương 2. THỰC NGHIỆM 23
2.1 Mục tiêu và nội dung 23
2.2 Thiết bị và hóa chất 23
2.2.1 Thiết bị 23
2.2.2 Hóa chất 24
2.3 Qui trình tổng hợp xúc tác 24
2.4 Hoạt hóa xúc tác 27
2.5 Các phương pháp phân tích 27
2.5.1 Phương pháp khảo sát hoạt tính xúc tác 27
2.5.2 Phương pháp nhiễu xạ tia X 34
2.5.3 Phương pháp phổ hấp thu nguyên tử (AAS) 35
2.6 Khảo sát ảnh hưởng của khối lượng xúc tác thử hoạt tính 35
2.7 Biến tính xúc tác hopcalite 36
Chương 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 38
3.1 Ảnh hưởng các điều kiện điều chế đến hoạt tính xúc tác 38
3.1.1 Ảnh hưởng của pH kết tủa 38
3.1.2 Ảnh hưởng tỷ lệ mol Mn và Cu tác chất 44
3.1.3 Ảnh hưởng của thời gian già hóa 47

TMAOH trước hoạt hoá 40

Hình 3-2: Phổ XRD của mẫu Ho1-3 hoạt hoá ở 250
o
C (a) và 350
o
C (b) 42
Hình 3-3: Đồ thị biểu diễn sự biến thiên độ chuyển hoá CO theo thời gian của seri
#1 trong dòng tổng 70 mL/phút. 43

Hình 3-4: Phổ XRD của mẫu Ho2-2 và Ho2-3 sau hoạt hoá ở 250
o
C 45
Hình 3-5: Đồ thị biểu diễn sự biến thiên độ chuyển hoá CO theo thời gian của seri
#2 trong dòng tổng 250 mL/phút. 46

Hình 3-6: Đồ thị biểu diễn sự biến thiên độ chuyển hoá CO theo thời gian của seri
#3 trong dòng tổng 250 mL/phút 47

Hình 3-7: Phổ XRD của mẫu Ho3-1 và Ho3-5 sau hoạt hoá ở 250
o
C 48
Hình 3-8: Phổ XRD của mẫu hopcalite được điều chế khi dùng Na
2
CO
3
làm tác
nhân kết tủa trước hoạt hóa 49

Hình 3-9: Các phổ XRD của hopcalite được điều chế khi dùng Na
LỜI MỞ ĐẦU

Trong ngành khai mỏ hiện nay của nước ta, hàng năm vẫn phải nhập một
lượng lớn các mặt nạ phòng độc CO để trang bị cho các công nhân khai mỏ. Giá
thành mỗi đơn vị là tương đối cao. Do yêu cầu về kỹ thuật các mặt nạ loại này chỉ có
hiệu quả sử dụng trong vòng 12 tháng. Việc nghiên cứu để tìm ra một loại xúc tác có
khả năng oxi hóa CO ở nhiệt độ thấp, trước mắt có khả năng đưa vào sử dụng trong

được tăng tốc bởi nhiều loại xúc tác.
1.1.3 Nguồn tiếp xúc
CO được sản sinh trong các trường hợp sau:
1) Các chất hữu cơ bị đốt cháy không hoàn toàn tạo ra nhiều CO, như
than đá, giấy, xăng, dầu, khí đốt…
Khi chất hữu cơ được đốt cháy hoàn toàn thì tạo thành CO
2
theo phản ứng:
C + O
2
CO
2

Khi đốt cháy không hoàn toàn thì tạo ra CO theo phản ứng:
2C + O
2
2CO
Trong lò than, than được đốt cháy đỏ tạo ra CO
2
, CO
2
bốc lên gặp than đang cháy
đỏ lại tạo ra CO theo phản ứng:
CO
2
+ C 2CO

5
2) Trong công nghiệp gang thép, sắt được luyện trong các lò cao cùng
với than cốc, đá vôi và một số chất khác. Khi than cốc cháy tạo ra CO

hemoglobin cao gấp 200 lần so với oxy) tạo thành các carboxyhemoglobin (COHb),
làm hồng cầu giảm dung lượng chuyển tải oxy nuôi cơ thể. Khi có từ 10 tới 30%
COHb trong máu, con người sẽ gặp các triệu chứng như: đau đầu, buồn nôn, mỏi
mệt và choáng váng. Khi mức độ COHb đạ
t tới 50-60%, con người có thể bị ngất,
co giật và có thể dẫn đến hôn mê và chết.
Như vậy với nồng độ trên 10000 ppm CO (1%CO) có trong không khí
thở thì con người sẽ bị chết trong vòng vài phút. Trên thế giới mỗi năm có hàng
ngàn người bị chết ngạt do hít phải CO, trong đó chủ yếu là công nhân làm việc

6
trong các điều kiện khắc nghiệt thiếu không khí sạch và có nguy cơ cháy nổ cao như
công nhân hầm mỏ, lính cứu hoả kể các nhà du hành vũ trụ, các thợ lặn …
Bảng 1-1: Triệu chứng nhiễm độc của người khi tiếp xúc với CO ở các nồng độ
khác nhau [1]
Nồng độ
(ppm)
Thời gian tiếp xúc Triệu chứng và tác hại
200

400

800

1600

3200

6400
12800

một phần các tiểu phân hoạt động sơ cấp (nguyên tử hoặc gốc tự do) được hình
thành trên bề mặt phân chia pha rồi di chuyển vào pha khí và tiếp t
ục phản ứng ở
đó, và chỉ xảy ra ở những nhiệt độ cao. Đó là điều cần lưu ý khi nghiên cứu các
phản ứng oxi hóa.

7
Hầu hết các phản ứng xúc tác trong công nghiệp đều được tiến hành trong
những điều kiện mà sự chuyển dịch vào pha khí không xảy ra. Nghĩa là, sự chuyển
hóa chỉ xảy ra trên bề mặt chất xúc tác và tác động của chất xúc tác là, bằng sự hình
thành các hợp chất bề mặt với các tác chất, mở ra con đường mới thuận lợi hơn cho
phản ứng.
Trong những phản ứng mà tác nhân oxi hóa chính là oxi phân tử thì tr
ở ngại
lớn nhất về mặt năng lượng là sự đứt liên kết giữa các nguyên tử oxi để tham gia
vào phản ứng. Quá trình đó được xúc tiến bởi sự gắn kết của điện tử và ta có thể giả
thiết quá trình gắn kết đó xảy ra trên bề mặt chất xúc tác như sau:
−−−
→→→
2
22
OOOO

Tất cả các dạng trên đây đều có thể tham gia vào tương tác với chất bị oxi
hóa. Người ta thường quan tâm nhiều hơn đến hai dạng

2
O và O
-
có thể là do hai

tác được hình thành trên cơ sở giả thiết về sự phụ thuộc lẫn nhau của các quá trình
tương tác của các tác chất với chất xúc tác, ví dụ, do có sự dịch chuyển điện tử theo
hướng ngược nhau.
Việc phản ứng xảy ra theo cơ chế phân đoạn hay cơ chế liên hợp phụ thuộc
vào năng lượng tự do của các phức hoạt động trung gian, tuy nhiên hiện nay đại
lượng này chưa thể tính được bằng con đường lý thuyết.
Để biết được phản ứng xảy ra theo cơ chế nào người ta phải tiến hành các thí
nghiệm, ví dụ, để khẳng định cơ chế phân đoạn, nhiều nhà khoa học đã sử dụng
phương pháp đồng vị oxi. Các thí nghiệm như vậy đã khẳng định rằng, oxi trong thể
tích oxit không tham gia vào phản ứng xúc tác. Kết luận này phù hợp với nguyên lý
tổng quát của lý thuyết xúc tác dị thể là các quá trình liên quan đến sự chuyển pha
không phải là những giai đoạn của phản ứng xúc tác dị thể. Tuy nhiên, đối với sự
tham gia của oxi bề mặt, đặc biệt là những nguyên tử hoạt động, do độ nhạy của
phương pháp thực nghiệm không cao và ảnh hưởng của quá trình trao đổi đồng vị
giữa oxi của chất xúc tác và sản phẩm phản ứng gây ra, cho nên câu trả lời còn chưa
rõ ràng. Một số tác giả đ
ã đo riêng rẽ tốc độ tương tác của chất xúc tác với tác chất
và với oxi rồi so sánh những đại lượng đó với tốc độ phản ứng xúc tác và đã đi đến
kết luận về cơ chế phân đoạn của phản ứng oxi hóa CO trên mangan đioxit.
1.3 Oxi hóa cacbon monoxit CO
Ertl, người có rất nhiều công trình nghiên cứu các phản ứng oxi hóa – khử, coi
phản ứng oxi hóa CO trên các xúc tác kim loại là một trong những ph
ản ứng được

9
nghiên cứu kỹ nhất và được hiểu thấu đáo nhất, mặc dầu thực ra có không ít bất
đồng ý kiến giữa các tác giả về cơ chế phản ứng này. Cho đến nay, trên cơ sở
nghiên cứu thực nghiệm bằng những phương pháp lý-hóa hiện đại, nhiều tác giả đã
khẳng định rằng, phản ứng oxi hóa CO xảy ra mạnh nhất khi bề mặt được che phủ
đầy bởi oxi nguyên tử và khí CO được đưa vào trong bình phản ứng. Mặt khác, nếu

tác phải đồng thời tương tác với cả oxi và CO để hình thành các nguyên tử oxi và

10
phân tử CO hấp phụ hóa học trên bề mặt, nghĩa là phản ứng xảy ra theo cơ chế liên
hợp (cơ chế hấp phụ).
Phản ứng oxi hóa CO được nghiên cứu trên các kim loại Pt, Pd, Ir và Rh [2].
Hầu hết công trình nghiên cứu kết luận các xúc tác oxit kim loại chuyển tiếp ở nhiệt
độ cao phản ứng oxi hóa CO diễn ra theo cơ chế phân đoạn:
CO + [O] → CO
2
+ [ ]; 1/2O
2
+ [O] → [O].
trong đó, [ ] biểu thị khiếm khuyết oxi của oxit; [O] biểu thị cho O
2-
, hoặc cũng có
thể là những dạng khác.
Quá trình tái oxi hóa bề mặt chất xúc tác xảy ra tương đối nhanh, cho nên
giai đoạn tách nguyên tử oxi khỏi bề mặt là giai đoạn khống chế phản ứng oxi hóa
CO. Ở nhiệt độ thấp phản ứng chủ yếu xảy ra theo cơ chế liên hợp.
Một số tác giả nghiên cứu oxi hóa CO trên các oxit kim loại chu kỳ 4 của
bảng tuần hoàn các nguyên tố (oxit của Co, Cu, Zn, Fe, Mn, Cr, Ni) [2].
Trong thực tế xúc tác kim loại quý có hoạt tính oxi hoá cao, được sử dụng
rộng rãi trong kiểm soát các khí thải gây ô nhiễm như VOC, HC và CO. Tuy nhiên,
các xúc tác kim loại quý có giá thành cao, bị giới hạn về số lượng và nhạy cảm ở
nhiệt độ cao nên cần phải tìm kiếm các xúc tác khác thay thế. Oxit kim loại hứa hẹn
là xúc tác tốt, có khả năng thay thế kim loại quý trong phản ứng oxi hoá khí thải đa
cấu tử chứa CO và VOC. Chúng có hoạt độ khá cao, nhưng không bằng kim loại
quý khi
ở nhiệt độ thấp. Tuy vậy, ở nhiệt độ cao, hoạt độ của hai loại xúc tác này là

O
4
). Chính điều này đã tạo nên môi

11
trường cho các điện tử linh động, thuận lợi cho xúc tác oxi hoá – khử bề mặt. Theo
lí thuyết, khi nung trong không khí tại vùng nhiệt độ 500 – 600
o
C MnO
2
có thể
chuyển hóa thành Mn
2
O
3
và khi nhiệt độ cao hơn 890
o
C thì chuyển thành Mn
3
O
4
.
Mn
3
O
4
có hoạt độ xúc tác tương đối cao mặc dù bề mặt riêng tương đối thấp
(khoảng 60 m
2
/g). Mangan oxit ở dạng Mn

khác, chất mang tương tác với mangan oxit dạng Mn
2
O
3
giữ cho nó có độ phân
tán cao, do đó, chất xúc tác có hoạt độ cao.
Trên xúc tác 15% MnO
2
/γ-Al
2
O
3
, CO chuyển hóa hoàn toàn ở nhiệt độ
300
o
C ngay cả trong điều kiện tốc độ dòng khí cao (60.000 h
-1
). Trên xúc tác
5%MnO
2
/α-Al
2
O
3
CO được chuyển hóa hoàn toàn ngay ở nhiệt độ 250
o
C. Sở dĩ
giá trị hoạt độ cực đại của xúc tác mangan oxit mang trên α-Al
2
O

12
Nhiệm vụ quan trọng đối với việc khảo sát hệ xúc tác này là phải xác định
được thành phần tối ưu của xúc tác và phương pháp chế tạo thích hợp
Sự kết hợp giữa hai thành phần xúc tác đơn oxit kim loại có hoạt tính cao
10%CuO và 15%MnO
2
/γ-Al
2
O
3
hoặc 5%MnO
2
/α-Al
2
O
3
đã tạo ra những chất xúc
tác có hoạt độ rất cao cho phản oxi hóa CO. Trên xúc tác này, với nồng độ
0,5%mol, CO có thể chuyển hóa hoàn toàn thành CO
2
tương ứng ở nhiệt độ 250 và
230
o
C.
1.4 Các phương pháp chế tạo xúc tác trên cơ sở oxit và hỗn hợp oxit
Để điều chế xúc tác oxit kim loại có thể ứng dụng các phương pháp đồng kết
tủa, tẩm và hấp thu. Thông thường chất mang được tẩm bằng dung dịch hợp chất,
sau đó chuyển sang dạng pha hoạt động trong quá trình xử lý oxi hóa. Thông thường
người ta sử dụng các muối có anion dễ dàng bị loại ra trong quá trình xử lý nhiệt
như nitrat, cacbonat, axetat Nế

3
và 5% AgO là thích hợp nhất khi đưa ra thương mại.
Hệ xúc tác này được đặt tên là Hopcalite I.
Sau đó, các nhà khoa học của phòng thí nghiệm Baltimore đã tìm thấy chỉ
cần hỗn hợp vô định hình của 2 oxit 60% MnO
2
và 40% CuO cũng có khả năng oxi
hoá CO thành CO
2
ở nhiệt độ phòng, tương tự như hopcalite I, rõ ràng đây là loại
xúc tác rẻ tiền hơn so với xúc tác hopcalite I. Người ta đặt tên cho xúc tác 60%
MnO
2
và 40% CuO là hopcalite II. Ngày nay khi đề cập đến xúc tác hopcalite là
người ta chỉ còn nghĩ đến loại xúc tác 2 cấu tử MnO
2
-CuO. Từ đó đến nay đã có rất
nhiều các nghiên cứu về loại xúc tác này. Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào
phương pháp tổng hợp, đặc tính của xúc tác khối, đặc tính bề mặt, cơ chế hoạt động
của xúc tác trong phản ứng cũng như các nghiên cứu ứng dụng của xúc tác loại này.
Vào giữa những năm 1950, các nhà nghiên cứu đã xác định được, trong xúc
tác hopcalite, các tinh thể CuMn
2
O
4
và các tinh thể có dạng Cu
x
Mn
3-x
O


với dung dịch NaOH và NaClO.

14
Hỗn hợp ba oxit đó sau khi trộn lại được treo lơ lửng trong nước. Làm đầy
với Ag
2
O bằng cách cho dung dịch NaOH và AgNO
3
vào huyền phù trên. Các bước
sau đó là rửa, lọc, sấy khô và nghiền.

Hopcalite II và hỗn hợp CuO-MnO
x
[7]
Đầu tiên, Lamb, Bray và Frazer đề nghị trộn vật lý hai oxit mangan và đồng.
Oxit mangan được điều chế bằng một số phương pháp như sau: 1) Thêm KMnO4
vào huyền phù MnSO
4
trong H
2
SO
4
; 2) Xử lý KMnO
4
với hỗn hợp H
2
SO
4
đặc và

vào dung dịch CuSO
4
. Sản phẩm tạo
thành khi được rửa, lọc, ép và sấy.
Kanungo thay đổi phương pháp trên bằng cách cho Cu(OH)
2
hút thấm trên
bề mặt MnO
x
khi sử dụng Cu(NO
3
)
2
và NH
4
OH.
Đồng kết tủa mangan và đồng, đầu tiên là do Pitzer và Frazer năm 1941 phát
hiện, là một phương pháp tổng hợp khác và nó là phương pháp chung để tổng hợp
trong phòng thí nghiệm và sản xuất thương mại. Trong phương pháp nguyên bản
này, một dung dịch chứa cả đồng và mangan sulfat được xử lí với hoặc NH
4
OH hay
KMnO
4
. Sau đó, kết tủa đem rửa, lọc, sấy khô.
Nhiều cải tiến của phương pháp này như thay những loại muối của mangan
và đồng và thay các tác nhân kết tủa cơ bản được nghiên cứu.
Yang và các cộng sự tiến hành trộn những tác chất mangan và đồng với
những tác nhân kết tủa trong môi trường etanol thay vì trong môi trường nước.


O
4
và các tinh thể có dạng Cu
x
Mn
3-x
O
4
,
người ta còn có những phương pháp khác như: trộn vật lý hai oxit mangan và đồng,
rồi thiêu kết ở nhiệt độ cao và phân hủy nhiệt hỗn hợp dung dịch mangan và đồng
nitrat qua kỹ thuật “phun khô”.
Sự tinh chế ứng với nhiệt độ, thời gian và môi trường khí suốt quá trình thiêu
kết, cũng như quá trình để nguội sau khi nung, cho phép pha đặc biệt
CuMn
2
O
4

Cu
x
Mn
3-x
O
4
tinh thể tạo thành (hình 1-1).

Hình 1-1: Giản đồ pha hệ Cu-Mn [11, hình 5]
Cấu trúc tinh thể, sự phân bố cation giữa mặt bát diện và tứ diện và những
hóa trị của Cu, Mn trong spinel CuMn

Cu
1+
[Mn
3+
Mn
4+
]O
4

Cu
2+
[Mn
2
3+
]O
4

Dưới đây là hai phổ XRD minh họa cho spinel CuMn
2
O
4
có cấu trúc khác
nhau: Hình 1-2: Phổ XRD của spinel Cu-Mn có cấu trúc tứ diện [11, hình 1]

17
4. Sự phân hủy spinel CuMn
2
O
4
tương ứng với pic endo ở 900
o
C
trên đường DTA và sự mất khối lượng trên TGA.

18

Hình 1-4: Đường TG/DTA của hopcalite thương mại
(khí N
2
, 1atm, dT/dT=5K/mm, khối lượng mẫu =45mg) [11]
1.5.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt tính của hopcalite
Hoạt tính xúc tác của hopcalite phụ thuộc rất lớn vào tỉ lệ thành phần, sự có
mặt của các tạp chất, phương pháp điều chế, điều kiện tiền xử lý xúc tác cũng như
các điều kiện tiến hành phản ứng.
- Hoạt tính của xúc tác hopcalite thay đổi khi tỉ lệ Cu trong hopcalite thay
đổ
i. Sự phụ thuộc của hoạt tính xúc tác theo hàm lượng Cu có trong hỗn hợp CuO-
MnO
x
đã được Kanungo nghiên cứu [7]. Theo kết luận, các tác giả này cho rằng
hoạt tính cao nhất của xúc tác khi nồng độ Cu ở x = 0,1 (x= Cu/Cu+Mn). Có 2 lý do
làm gia tăng hoạt tính xúc tác: thứ nhất, sự phân tán của CuO vào trong mạng của
MnO
x
làm tăng diện tích bề mặt xúc tác, nói một cách khác là liên kết oxy và kim

0
C)
% CO bị oxi
hoá
- Đồng kết tủa, sử dụng KMnO
4
- Cu(OH)
2
tẩm lên trên MnO
x
được điều chế
từ KMnO
4
và chiết bằng HNO
3
- Cu(OH)
2
tẩm lên trên MnO
x
được điều chế
từ MnSO
4
và amoni persulfat
- Phân huỷ nhiệt muối Mn và Cu nitrates
- Phân huỷ nhiệt muối Mn và Cu carbonates
với tỉ lệ Cu/(Cu+Mn)=0.3
- Đồng kết tủa sử dụng tetrametyl
ammonium hydroxit
- Phân huỷ nhiệt muối Mn và Cu nitrates ở
120


100 20
- Việc xử lý nhiệt xúc tác trước phản ứng cũng ảnh hưởng đến hoạt tính xúc
tác. Sự gia tăng hoạt tính xúc tác tuỳ thuộc vào việc tiền xử lý xúc tác trong dòng
oxy trong khoảng nhiệt độ 250-350
0
C. Giai đoạn này xày ra sự mất nước cũng như
sự hình thành trạng thái oxi hoá ban đầu của xúc tác. Nếu xúc tác được xử lý nhiệt
trong chân không, trong dòng khí trơ hoặc trong điều kiện khử H
2
, thì hoạt tính của
xúc tác bị giảm đi hoặc mất hoàn toàn do lúc này có sự hình thành tinh thể hoặc
không có sự hình thành được các tâm xúc tác oxit.
- Sự mất hoạt tính của xúc tác hopcalite: sự có mặt của hơi nước trước cũng
như trong quá trình phản ứng làm cho xúc tác mất hoạt tính (độ chuyển hóa CO
giảm rất nhanh khi độ ẩm 10% như hình 1-5 ). Bản chất của xúc tác hopcalite rất ái
nước, sự hấp phụ nước lên bề mặt xúc tác là rất m
ạnh, điều này dẫn đến ‘blocking’
các tâm hoạt động do vậy quá trình oxi hoá bị cản trở. Sự mất hoạt tính do có mặt
hơi nước là thuận nghịch. Vì vậy, các xúc tác hopcalite cần được bảo quản trong
môi trường khô.
Độ ẩm tương đối (%)
Hình 1-5: Ảnh hưởng của độ ẩm lên hoạt tính của Hopcalite thương mại (78%
MnO

hấp thụ O
2
dễ dàng.
Tác chất phản ứng oxi hóa là CO và O
2
. CO là bazơ Lewis, O
2
là axit Lewis.
Đồng hydrat oxit sẽ mất OH
-
và mangan hydrat oxit sẽ mất H
+
để tạo thành H
2
O.
Điều này sinh ra Cu
3+
không bền và Mn
3+
vẫn giữ không đổi. Tuy nhiên electron
vượt quá trên MnOO
-
di chuyển vào Cu
3+
tạo Cu
2+
. Tính chất hấp phụ của các ion
và cặp oxi hóa khử minh họa như sau:
Hopcalite biến tính với Pd thể hiện hoạt tính cao nhất so với biến tính Pt và
Au.
Tính chất oxi hóa khử và sự phân bố cấu tử hoạt tính lên bề mặt xúc tác là
nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng lên hopcalite biến tính trong phản ứng oxi hóa.
Đối với hopcalite biến tính Au, nhiệt độ nung có ảnh hưởng lớn đến hoạt tính
xúc tác. Nhiệt độ nung thấp hơn dẫn đến sự phân bố đồng nhất của Au và hoạt tính
cao hơn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status