Đề tài: Đa dạng sinh học ở nước ta - Thực trạng và giải pháp bảo tồn
MỞ ĐẦU
Việt Nam được quốc tế công nhận là một trong những quốc gia có tính đa
dạng sinh học cao nhất trên thế giới, với nhiều kiểu rừng, đầm lầy, sông suối,
rạn san hô tạo nên môi trường sống cho khoảng 10% tổng số loài chim và
thú hoang dã trên thế
giới.
Việt Nam được
Quỹ Bảo tồn động vật
hoang dã (WWF)
công nhận có 3 trong
hơn 200 vùng sinh
thái toàn cầu; Tổ chức
bảo tồn chim quốc tế
(Birdlife) công nhận là
một trong 5 vùng
chim đặc hữu; Tổ
chức Bảo tồn thiên
nhiên thế giới (IUCN)
công nhận có 6 trung
tâm đa dạng về thực
vật.
Việt Nam còn là một trong 8 "trung tâm giống gốc" của nhiều loại cây
trồng, vật nuôi như có hàng chục giống gia súc và gia cầm. Đặc biệt các
nguồn lúa và khoai, những loài được coi là có nguôn gốc từ Việt Nam, đang là
cơ sở cho việc cải tiến các giống lúa và cây lương thực trên thế giới.
Hệ sinh thái của Việt Nam rất phong phú, bao gồm 11.458 loài động
vật, 21.017 loài thực vật và khoảng 3.000 loài vi sinh vật, trong đó có rất
nhiều loài được sử dụng để cung cấp vật liệu di truyền. Cụ thể, hệ động thực
vật của Việt Nam không những giàu về thành phần loài mà còn có nhiều nét
độc đáo đặc trưng cho vùng Đông Nam Á với 11.373 loài thực vật bậc cao có
(MOSTE, 1992) là một vấn đề rất được quan
tâm. Tổng số lượng những loài bị đe doạ là cao đối với một nước và phản ánh
tình trạng nghiêm trọng về sự đe dọa đối với sinh cảnh hoang dại ở Việt Nam.
Những loài như là trâu rừng, hươu Eld, tê giác Sumatra và trĩ Edwards đã trở
nên tuyệt trủng ở Việt Nam thế kỷ này, và không có hành động bảo tồn khẩn
cấp, voi châu Á, tê giác Java và loài sao la mới
được phát hiện cũng có một tương lai tương tự
không xa. Vào thời điểm mà ai cũng có thể tin
rằng toàn bộ động vật trên thế giới đã được
khoa học mô tả hết, con Sao La (Pseudoryx
nghetinhensis), một loài sừng rỗng cổ, và hoẵng
lớn (Megamuntiacus vuquangensis), to gần gấp
2 lần con hoẵng thường, cho thấy rằng mặc cho
con người đã sử dụng quá mức sinh sản tự
nhiên của Việt Nam, công tác bảo vệ hữu hiệu
có thể giúp bảo quản những loài đặc hữu và có
giá trị. Cùng với việc xác định loài bò xám, một
Trang 2
Đề tài: Đa dạng sinh học ở nước ta - Thực trạng và giải pháp bảo tồn
loài bò hoang, đầu thế kỷ này, Việt Nam là một nước có giá trị bảo tồn đa
dạng sinh học cao được quốc tế biết đến. Tuy nhiên, số lớn những loài thú,
chim và bò sát bị đe doạ hoặc nguy cấp được liệt kê trong Sách đỏ Việt Nam
(MOSTE, 1992) là một vấn đề rất được quan tâm. Tổng số lượng những loài
bị đe doạ là cao đối với một nước và phản
ánh tình trạng nghiêm trọng về sự đe dọa
đối với sinh cảnh hoang dại ở Việt Nam.
Những loài như là trâu rừng, hươu Eld, tê
giác Sumatra và trĩ Edwards đã trở nên
tuyệt trủng ở Việt Nam thế kỷ này, và
không có hành động bảo tồn khẩn cấp, voi
Việt Nam có tổng diện tích là 330.541 km
2
và trải dài suốt dọc bờ biển
đông nam Châu á với chiều dài khoảng 100 km từ 8
0
30' vĩ độ Bắc xuống tận
cực Nam ở 23
0
vĩ độ Bắc Bắc bán cầu. Ba phần tư lãnh thổ là núi đồi với
những đỉnh cao trên 300m trên mặt nước biển trung bình.
Nước Việt Nam có hình chữ S với những đồng bằng châu thổ rộng lớn
ở miền Nam (sông Mê Kông) và miền Bắc (sông Hồng) nối với nhau bởi phần
miền Trung ven biển, nhiều núi và hẹp.
Nơi hẹp nhất chỉ có 50km rộng và Việt
Nam có đường biên giới dài (3700 km).
Hầu hết trên lãnh thổ sông đổ trực tiếp ra
biển chỉ riêng một số phần ở cao nguyên
miền Trung đổ sang phía Tây vào lưu vực
sông Mê Kông của Cămpuchia.
Khí hậu thay đổi theo độ cao . Nhiệt
độ trung bình ở miền Nam là 27
0
C trong
khi ở miền Bắc chỉ có 21
0
C. Cứ 100m độ
cao nhiệt độ giảm khoảng 0,5
0
C. Hầu hết cả nước nhận khoảng 2000 mm mưa
hàng năm, chỉ có một vài nơi miền Trung lượng mưa lên tới 3000. Lượng mưa
Có thể trước đây đã được thấy ở đồng bằng sông Hồng. Những khu rừng này
đã tự thay thế bằng rừng thứ sinh và những khu rừng trên đầm lầy than bùn đã
trở nên phong phú hơn do những chồi non mới mọc lên trên gốc cây của
những khu rừng già cỗi.
Rừng đầm lầy trên những vùng
đất nước ngọt: Những khu rừng ngập
nước theo chu kỳ ở những khu đất
thấp miền nam Việt Nam và một số
mảng rừng nhỏ ở miền Bắc.
Rừng mưa mùa: Bao gồm rừng
khộp cao nguyên miền Trung cũng
như một số rừng khô ven biển ở miền
đông nam bộ.
Rừng lá rộng thường xanh/nửa rụng lá đất thấp: Rừng nhiệt đới ở miền
Nam, á nhiệt đới ở miền Bắc. Một số khu vẫn còn trong điều kiện nguyên
thuỷ.
Rừng thường xanh trên núi/rừng lá rộng nửa thường xanh: Còn tìm thấy
những cánh rừng lẻ ở một vài tỉnh.
Rừng trên hệ núi đá vôi: Rừng
thuần loại kết hợp với đất pha đá vôi.
Hầu hết còn lại những khu đá tai mèo
không thích hợp cho canh tác nông
nghiệp ở nhiều nơi rừng đã bị xuống
cấp do cháy rừng, khai thác gỗ và khai
khoáng.
Rừng thường xanh trên núi cao
và rừng thông hỗn giao: Phần lớn phân
bố ở cao nguyên Đà Lạt, vùng núi miền
trung và phía Bắc dãy Hoàng Liên Sơn
với những khoảnh rừng thay đổi mang
Đà, sông Mã, sông Cả, v.v ). Sự phân bố các loài thú linh trưởng và một số
loài chim đặc hữu cho thấy tầm quan trọng của những con sông này làm ranh
giới cho các loài động vật.
Cuối cùng là dãy Hoàng Liên Sơn với những ngọn núi cao ở Tây Bắc
đất nước cũng là một đơn vị đặc thù nối với dãy núi Hengduan của Trung
Quốc, phía đông dải Hymalaya . Những dãy núi này cao hơn dãy nũi nối ở
lãnh thổ Việt Nam rất nhiều và cho ta thấy một hệ động thực vật hoàn toàn
khác biệt.
4: MÔI TRƯỜNG BIỂN VÀ VEN BIỂN:
Địa hình và thuỷ văn:
Trang 6
Đề tài: Đa dạng sinh học ở nước ta - Thực trạng và giải pháp bảo tồn
Với bờ biển dài trên 3260km trải dài suốt 13 vĩ độ từ bắc xuống nam,
môi trường biển của Việt Nam được đặc trưng bởi một dải rộng về sự đa dạng
hình dạng loài theo địa lý, khí hậu, thuỷ văn, kinh tế và địa chính trị.
Trên 3000 đảo trong khơi và ngoài khơi rải rác khắp lãnh thổ Việt Nam,
gồm cả những quần đảo, Trường Sa và Hoàng Sa. Tổng diện tích ngoài các
đặc khi kinh tế (EEZ) lên tới khoảng một triệu km
2
.
Thềm lục địa phản ánh đúng hình thể đất nước, rộng và nông ở Bắc và
Nam, nhưng hẹp và sâu ở miền Trung từ Đà Nẵng đi Mũi Dinh. Cả hai thềm
lục địa Bắc và Nam nông và có nhiều mảng cát lầy. Phía Bắc có độ sâu kém
phía nam khoảng 90m và phía Nam
có 50 đằng áp rộng 360 km dọc bờ
biển. Nhiều đảo đá vôi rải rác trong
các khu vực này, đặc biệt ở bắc vịnh
bắc bộ. Dọc bờ biển từ miền Bắc và
miền Trung là những thềm cát, trải
rộng đến tận tổ hợp những hệ đầm
từ phía Đông đổ vào, hầu hết vào tháng 6 đến tháng 10, mỗi trận từ 3 đến 5
ngày, tốc độ gió khoảng 40 đến 50m/giây.
II: ĐA DẠNG SINH HỌC VỀ HỆ SINH THÁI VÀ LOÀI Ở
VIỆT NAM:
1: ĐA DẠNG CÁC HỆ SINH THÁI CỦA VIỆT NAM:
a) Hệ sinh thái trên cạn:
Trong các kiểu hệ sinh thái trên cạn thì rừng có sự đa dạng về thành phần
loài cao nhất, đồng thời đây cũng là nơi cư trú của nhiều loài động, thực vật
hoang dã và vi sinh vật có giá trị
kinh tế và khoa học. Các kiểu hệ
sinh thái tự nhiên khác có thành
phần loài nghèo hơn. Kiểu hệ sinh
thái nông nghiệp và khu đô thị là
những kiểu hệ sinh thái nhân tạo,
thành phần loài sinh vật nghèo nàn.
Xét theo tính chất cơ bản là thảm
thực vật bao phủ đặc trưng cho rừng
mưa nhiệt đới ở Việt Nam, có thể
thấy các kiểu rừng tiêu biểu: rừng
kín vùng thấp, rừng thưa, trảng
truông, rừng kín vùng cao, quần hệ lạnh vùng cao. Trong đó, các kiểu và kiểu
phụ thảm thực vật sau đây có tính ĐDSH cao hơn và đáng chú ý hơn cả: kiểu
rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới; kiểu rừng thưa cây lá rộng hơi khô
nhiệt đới; kiểu rừng kín cây lá rộng, ẩm ướt nhiệt đới núi thấp; kiểu phụ rừng
tręn núi đá vôi.
b) Hệ sinh thái đất ngập nước:
Công ước Ramsar định nghĩa "Đất ngập nước là những vùng đầm lầy, than
bùn hoặc vùng nước bất kể là tự nhiên hay nhân tạo, thường xuyên hay tạm
thời, có nước chảy hay nước tù, là nước
ngọt, nước lợ hay nước biển kể cả
xác), cá rạn. Thảm cỏ biển thường là
nơi cư trú của nhiều loại rùa biển và
đặc biệt loài thú biển Dugon.
Vùng biển quanh các đảo ven bờ:
ven bờ biển Việt Nam có hệ thống các
đảo rất phong phú. Vùng nước ven bờ
của hầu hết các đảo lớn được đánh giá
có mức độ ĐDSH rất cao với các hệ
sinh thái đặc thù như rạn san hô, cỏ
biển
Việt Nam có 2 vùng ĐNN quan trọng là ĐNN vùng cửa sông đồng
bằng sông Hồng và ĐNN đồng bằng sông Cửu Long:
Trang 9
Đề tài: Đa dạng sinh học ở nước ta - Thực trạng và giải pháp bảo tồn
ĐNN ở vùng cửa sông đồng bằng sông Hồng có diện tích 229.762 ha.
Đây là nơi tập trung các hệ sinh thái với thành phần các loài thực vật, động vật
vùng rừng ngập mặn phong phú, đặc biệt là nơi cư trú của nhiều loài chim
nước.
ĐNN đồng bằng sông Cửu Long có diện tích đất ngập nước 4.939.684
ha. Đây là bãi đẻ quan trọng của nhiều loài thủy sản di cư từ phía thượng
nguồn sông Mê Công. Những khu rừng ngập nước và đồng bằng ngập lũ cũng
là những vùng có tiềm năng sản xuất cao. Có 3 hệ sinh thái tự nhiên chính ở
đồng bằng sông Cửu Long, đó là hệ sinh thái ngập mặn ven biển; hệ sinh thái
rừng tràm ở vùng ngập nước nội địa và hệ sinh thái cửa sông.
Mỗi kiểu hệ sinh thái ĐNN đều có khu hệ sinh vật đặc trưng của mình.
Tuy nhiên, đặc tính khu hệ sinh vật của các hệ sinh thái này còn phụ thuộc vào
từng vùng cảnh quan và vùng địa lý tự nhiên.
c) Hệ sinh thái biển:
Việt Nam có đường bờ biển dài
3.260 km và vùng đặc quyền kinh tế rộng trên
cao, thể hiện ở sức chịu tải cao; khả năng tự tái tạo lớn; khả năng trung hòa và
hạn chế các tác động có hại; khả năng tự khắc phục những tổn thương; khả
năng tiếp nhận, chuyển hóa, đồng hóa các tác động từ bên ngoài.
Các hệ sinh thái ở Việt Nam phần lớn là những hệ sinh thái nhạy
cảm. Tính mềm dẻo sinh thái của các hệ sinh thái ở Việt Nam làm cho các hệ
đó luôn ở trong trạng thái hoạt động mạnh, vě vậy, thường rất nhạy cảm với
các tác động từ bęn ngoài, kể cả các tác động của thiên nhiên, cũng như những
tác động của con người.
2: ĐA DẠNG LOÀI Ở VIỆT NAM:
Tập hợp các dẫn liệu nghiên cứu, điều tra cơ bản đã có từ trước đến
nay, thành phần loài thực vật, động vật ở Việt Nam được thống kê thì nhóm
sinh vật vi tảo ở vùng nước
ngọt được xác định là 1.438
loài chiếm 9,6% so với thế
giới (số loài có trên thế giới là
15.000); thực vật bậc cao có
khoảng 11.400 loài chiếm 5%
so với thế giới (số loài có trên
thế giới là 220.000); bò sát có
296 loài chiếm 4,7% so với
thế giới (số loài có trên thế
giới là 6.300)
Theo các tài liệu thống kê,
Việt Nam là một trong 25
nước có mức độ ĐDSH cao trên thế giới với dự tính có thể có tới 20.000-
30.000 loài thực vật. Việt Nam được xếp thứ 16 về mức độ ĐDSH (chiếm
6,5% số loài có trên thế giới).
a) Đa dạng loài trong hệ sinh thái trên cạn:
Khu hệ thực vật: Tổng kết các công bố về hệ thực vật Việt Nam, đă ghi
nhận có 15.986 loài thực vật ở Việt Nam. Trong đó, có 4.528 loài thực vật bậc
43 loài (29,2% tổng số loài),
3 giống lần đầu tiên được
mô tả, tất cả đều là những
loài đặc hữu của Việt Nam
hay vùng Đông Dương.
Điều đó cho thấy sự đa dạng
và mức độ đặc hữu của khu
hệ tôm, cua, trai, ốc nước
ngọt nội địa Việt Nam là rất
lớn.
Trang 12
Đề tài: Đa dạng sinh học ở nước ta - Thực trạng và giải pháp bảo tồn
Theo các dẫn liệu thống kê, thành phần loài cá các thủy vực nước ngọt
nội địa Việt Nam bao gồm trên 700 loài và phân loài, thuộc 228 giống, 57 họ
và 18 bộ. Riêng họ cá chép có 276 loài và phân loài thuộc 100 giống và 4 họ,
1 phân họ được coi là đặc hữu ở Việt Nam. Phần lớn các loài đặc hữu đều có
phân bố ở các thủy vực sông, suối, vùng núi.
Đa dạng loài trong các hệ sinh thái biển và ven bờ.
Đặc tính của khu hệ sinh vật biển Việt Nam thể hiện rő ở đặc tính nhiệt đới,
đặc tính hỗn hợp, đặc tính ít đặc hữu và đặc tính khác biệt bắc - nam. Trong
vùng biển nước ta đã phát hiện được
chừng 11.000 loài sinh vật cư trú
trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển
hình và thuộc 6 vùng đa dạng sinh
học biển khác nhau, trong đó có hai
vùng biển: Móng Cái - Đồ Sơn, Hải
Vân - Vũng Tàu có mức độ đa dạng
sinh học cao hơn các vùng còn lại.
Đặc biệt, tại vùng thềm lục địa có 9
vùng nước trồi có năng suất sinh học
lãnh thổ Việt Nam có 4,5 loài thực vật, gần 7 loài động vật, với mật độ
hàng chục nghìn cá thể. Đây là một trong những mật độ đậm đặc các loài sinh
vật so với thế giới.
Cấu trúc loài rất đa dạng. Do đặc điểm địa hěnh, do phân hóa các
kiểu khí hậu, cấu trúc các quần thể trong nội bộ loài thường rất phức tạp. Có
nhiều loài có hàng chục dạng sống khác nhau.
Khả năng thích nghi của loài cao. Thích nghi của các loài được
thực hiện thông qua các đặc điểm thích nghi của từng cá thể, thông qua
chuyển đổi cấu trúc loài. Loài sinh vật ở Việt Nam nói chung có đặc tính
chống chịu cao đối với các thay đổi của các yếu tố và điều kiện ngoại cảnh.
B: GIẢI PHÁP ĐA DẠNG SINH HỌC Ở VIỆT NAM:
VN là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học cao nhất
trên thế giới, vì vậy cần phải có những cách tiếp cận và đầu tư sáng tạo để
bảo vệ và sử dụng một cách bền vững những tài sản tự nhiên quý giá.
Báo cáo năm nay đánh giá
trung thực hiện trạng và xu hướng của
đa dạng sinh học, làm nổi bật những
vấn đề quan trọng, xác định những
kinh nghiệm và bài học giúp các nhà
hoạch định chính sách đưa ra các
hành động ưu tiên trong thời gian tới
nhằm cải thiện công tác quản lý các
hệ sinh thái, các loài và các nguồn gen
của Việt Nam. Các báo cáo trước tập
trung phân tích các điều kiện môi
trường nói chung (2002), tài nguyên
nước (2003) và chất thải rắn (2004). Báo cáo nêu rõ để giải quyết những thách
thức đang gặp phải trong bảo tồn đa dạng sinh học, Việt Nam cần thực hiện
đồng bộ những giải pháp như cải thiện hệ thống khu bảo tồn và hiệu quả quản
lý của hệ thống này; tăng cường quyền và năng lực của các cộng đồng để quản
lương cho các cán bộ thi hành luật.
Cũng phải có những đóng góp của Chính phủ khuyến khích quần chúng
tham gia trực tiếp và bảo tồn rừng và bảo vệ môi trường tại mọi cấp. Những
biện pháp này phải tạo điều kiện cho khả năng tự cải thiện cách thức, xây
dựng những khuyến khích về kinh tế đối với những người tiên phong trong
lĩnh vực môi trường, và cơ hội để quản lý và sử dụng bền vững tài sản đa dạng
sinh học quốc gia.
2: NHỮNG THAY ĐỔI ĐƯỢC KHUYẾN NGHỊ VỀ QUẢN LÝ SINH
CẢNH THIÊN NHIÊN:
Trang 15
Đề tài: Đa dạng sinh học ở nước ta - Thực trạng và giải pháp bảo tồn
Việc quản lý các khu rừng đặc dụng phải được tăng cường thông qua
những phương thức quản lý mới, đào tạo cán bộ, và sự tham gia ngày càng
tăng của cộng động địa phương vào quản
lý rừng đặc dụng. Việc sử dụng những kỹ
thuật thống nhất đối với việc quản lý
rừng đạc dụng, kể cả những vùng đệm và
sinh thái cảnh quan đã bị sửa đổi, cũng
được khuyến nghị.
BAP cũng chỉ ra rằng ngày nay,
những khu rừng đặc dụng ở Việt Nam đã
được xây dựng mở rộng để bảo quản
những hệ sinh thái rừng. Một hệ thống
rừng đặc dụng để bảo vệ toàn bộ tính đa dạng sinh học ở Việt Nam cũng phải
bao gồm đất ướt, các hệ thống vùng nước ven biển, và những sinh cảnh biển.
3: NHỮNG HÀNH ĐỘNG TOÀN ĐIỆN CHO CÔNG TÁC BẢO
TỒN TÍNH ĐA DẠNG SINH HỌC:
Phương pháp kỹ thuật mới nhất để bảo tồn tính đa dạng sinh học là việc sử
dụng công nghệ khoa học và những phương pháp ngoại vi để bảo quản những
thông tin về gen của tính đa dạng sinh học. Những phương pháp này bao gồm
1985 với các mục tiêu sau:
Đáp ứng những nhu cầu cơ bản về
văn hoá, tinh thần và vật chất của người
dân Việt Nam (cả thế hệ hiện tại và
tương lai) thông qua việc quản lý khôn
ngoan các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Xác định và xây dựng các chính sách, kế hoạch, tổ chức và hành động,
sao cho việc sử dụng ổn định các nguồn tài nguyên thiên nhiên hoàn toàn
thống nhất với mọi phương diện phát triển kinh tế và xã hội của đất nước.
Năm 1991, các nguyên tắc đề ra trong NCS đã được sàng lọc lại trong kế
hoạch quốc gia về môi trường và phát triển lâu bền, kết hợp với các chính
sách liên quan về kế hoạch tập trung và vấn đề chính các Bộ quan tâm. Chủ
tịch Uỷ ban khoa học và kỹ thuật nhà nước được giao trách nhiệm thực hiện
phối hợp kế hoạch này. Năm 1992, uỷ ban này đã được tổ chức lại thành Bộ
Khoa Học, Công nghệ và môi trường (MOSTE). Năm 1993 cục môi trường
quốc gia được thành lập là một trong những Cục Vụ của MOSTE .
Danh mục sau tóm tắt những chính sách môi trường chính trên nhiều lĩnh
vực:
Chính sách Lâm nghiệp đã được xem xét lại trong quá trình thảo chương
tình hành động lâm nghiệp nhiệt đới và đã được sửa đổi rất nhiều . Có một vài
chỉ thị mới là kết quả của Nghị định 327 quan trọng của hội đồng Bộ trưởng
đã nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác bảo vệ rừng, phục hồi đất trống để
sản xuất có hiệu quả và canh tác trên đất dốc. Sự thay đổi lớn trong chính sách
đã trở thành quyết định hướng dẫn người dân địa phương trong công tác quản
lý và bảo vệ rừng.
Có mục tiêu hoàn thành chương trình sau vào năm 2000:
Trang 17
Đề tài: Đa dạng sinh học ở nước ta - Thực trạng và giải pháp bảo tồn
6 triệu ha hệ thống rừng phòng hộ.
Xây dựng hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên (rừng đặc dụng) tổng diện
địa phương sẽ ký hợp đồng quản lý rừng.
Trang 18
Đề tài: Đa dạng sinh học ở nước ta - Thực trạng và giải pháp bảo tồn
Có những cố gắng cấm du canh. Một chương trình dài hạn về canh tác trên
đất dốc đang được tiến hành nhưng đang được những tổ chức quốc tế quan
tâm.
Đất canh tác nông nghiệp có thể chuyển giao cho sử dụng dài hạn và điều
này có thể là chuyển biến cho phép người nông dân tiến hành tự đầu tư và
quyết định mô hình nuôi trồng thích hợp. Bằng cách này, nông dân có thể tiến
hành nông lâm kết hợp và duy trì và loại hình truyền thống qua đó bảo vệ
được tính đa dạng sinh học của các hệ sinh thái nông nghiệp địa phương.
Sự lựa chọn ngược lại người dân
tộc thiểu số bị cấm tuyệt đối và mỗi
dân tộc có quyền sử dụng ngôn ngữ
riêng và chữ viết (nếu họ có) của
mình và tôn trọng truyền thống văn
hoá và phong tục tập quán của riêng
họ. Nhà nước nhằm mục đích phát
triển đời sống tinh thần và vật chất
của người dân tộc thiểu số.
Ô nhiễm:
Bộ khoa học, Công nghệ và Môi trường đang từng bước đưa ra một loạt
các tiêu chuẩn công nghiệp để kiểm soát ô nhiễm cũng như các quy chế đánh
giá tác động đến môi trường trong việc thực hiện các kế hoạch cơ bản.
Các tổ chức phi chính phủ:
Rất nhiều tổ chức phi chính phủ như Hiệp hội bảo vệ môi trường và thiên
nhiên Việt Nam, Hội nông dân, Hội làm vườn, Đoàn thanh niên, v.v đang
động viên mọi người tham gia vào trồng cây gây rừng xung quanh làng quê
của họ.
III: ĐỀ XUẤT VỀ NHỮNG CHÍNH SÁCH VÀ CHƯƠNG TRÌNH BẢO
ước bảo tồn khác mà Việt Nam
đã ký.
Định kỳ xem xét lại và sửa
đổi các văn bản pháp luật liên
quan đến bảo vệ môi trường như
Luật môi trường, Luật đánh giá đến tác động môi trường (EIA), kiểm soát
kinh doanh trong các loài hoang dại và kiểm soát ô nhiễm.
Thành lập một uỷ ban riêng giám sát bảo tồn ngoại vi ở
Việt Nam bao gồm hiệp hội các vườn bách thú và hiệp hội các vườn bách
thảo.
Đẩy mạnh các chương trình toàn diện và rộng lớn nghiên
cứu về các vấn đề thực tế bảo tồn đa dạng sinh học thông qua nhiều tổ chức
khoa học trong cả nước.
Xây dựng và điều phối một mạng lưới các trung tâm quản
lý dữ liệu điều tra về tình trạng đa dạng sinh học của đất nước.
Trang 20
Đề tài: Đa dạng sinh học ở nước ta - Thực trạng và giải pháp bảo tồn
Phát động một chiến dịch truyền thông quốc gia để nâng
cao nhận thức chung cho dân chúng và cán bộ về tầm quan trọng của bảo vệ
môi trường và ổn định dân số.
Xem xét lại mức ô nhiễm, tiêu chuẩn xây dựng nhà máy và
tiêu chuẩn về loại chất thải. Vấn đề quy chế kiểm soát phù hợp và quy mô
điều tra ô nhiễm trong cả nước.
Bộ Lâm nghiệp:
Đáp ứng nhu cầu gỗ, nhiên liệu và các lâm
sản khác trên cơ sở lâu bền.
Phục hồi đất trống trong phạm vi lâm nghiệp
để bảo vệ môi trường và sản lượng, lưu ý rằng trên diện tích đất này giá trị
bảo vệ nguồn nước trong cả nước lớn hơn giá trị sản xuất gỗ rất nhiều.
Tăng cường chương trình kiểm soát sinh đẻ quốc gia với mục
đích tăng nhanh tốc độ tiếp cận tỉ lệ phát triển dân số 0 vào thời gian sớm
nhất.
Tiến hành chương trình truyền thông cùng Bộ Khoa học, Công
nghệ và Môi trường để đạt được ổn định dân số và cân bằng với môi trường.
Việc sửa đổi hệ thống rừng đặc dụng, chương trình biển được đề xuất và
chương trình đất ướt được đề xuất có thể đòi hỏi phải xây dựng những cơ
quan quản lý mới hoặc sửa đổi những văn phòng hiện có. BAP có đề nghị dứt
khoát bằng vấn đề một cơ quan quản lý thích hợp phải được Nhà nước đề cập.
Cải thiện sự phối hợp giữa các ngành:
Mặc dù đã có một số uỷ ban liên ngành, các tổ chức Nhà nước ở Việt Nam
vẫn còn hoạt động trên cơ sở từng lĩnh vực. Trong một vài lĩnh vực điều này
có thể không sao nhưng đối với môi trường thì vấn đề liên ngành là quan
trọng và cần phải có sự thống nhất giữa các ngành và các nhóm quan tâm khác
nhau.
Những mối quan hệ liên ngành phải làm ở các cấp quốc gia, tỉnh và huyện.
Nhiều tổ chức khác nhau của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường đã cung
cấp một cơ sở thích hợp cho việc quyết định liên ngành ở cấp Nhà nước. ở cấp
địa phương, Nhà nước cần phải cải tổ lại những Uỷ ban môi trường thành các
Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường. Những Sở này sẽ là bộ khung giúp
cho việc phối hợp liên ngành ở cấp tỉnh.
MOSTE phải xây dựng một cơ quan quản lý để phối hợp các vấn đề về đa
dạng sinh học, cả ở quy mô quốc gia, tỉnh và huyện.
2: SỬA ĐỔI LUẬT VÀ QUY CHẾ, TĂNG CƯỜNG VIỆC THI
HÀNH LUẬT:
Việc thi hành luật ở Việt Nam
được xem như yếu, rất nhiều luật
và quy chế hiện tại thường bị lờ đi.
Trang 22
Đề tài: Đa dạng sinh học ở nước ta - Thực trạng và giải pháp bảo tồn
bảo tồn đa dạng sinh học hay không. Chương trình kiểm tra bao gồm bảy nhân
tố chính sau:
Giám sát môi trường sống:
Viện điều tra quy hoạch (FIPI) sẽ tiếp tục giám sát những thay đổi hàng
năm về độ che phủ rừng và mật độ rừng trên toàn đất nước bằng phương pháp
điều tra viễn thám. Chương trình điều tra viễn thảm này kiểm chứng lại hàng
loạt điều tra trên mặt đất của hơn 5000 khu vực điều tra phương vị trên toàn
Trang 23
Đề tài: Đa dạng sinh học ở nước ta - Thực trạng và giải pháp bảo tồn
quốc. Để công việc này thành công. Viện điều tra quy hoạch rừng cần phải
hợp tác và phối hợp với rất nhiều bộ và cơ quan điều tra các lĩnh vực có liên
quan.
Giám sát các điều kiện trên mặt đất:
Mỗi khu bảo tồn chính sẽ tiến hành một chương trình điều tra riêng theo
chỉ đạo quốc gia. Một chương trình điều tra rừng trên 5000 khu vực mẫu đang
được triển khai và phải được tiếp tục. Loại hình giám sát này vì thế là một bộ
phận của những dự án rừng đặc dụng cá thể được trình bày trong BAP.
Giám sát về các loài chỉ thị:
Việc điều tra các loài cụ thể phải được tiếp tục tiến hành về tình trạng và
phân bố của các loài chủ yếu và bức xúc. Những điều tra như thế sẽ được phối
hợp giữa Bộ Lâm nghiệp và Viện điều tra quy hoạch rừng nhưng sẽ được tiến
hành bởi các nhà khoa học. Một danh mục những yếu tố điều tra phải được
xây dựng.
Giám sát các
dữ liệu:
Một chương trình cần phải
được vạch ra cùng với rất nhiều
loại thông tin khác nhau và kết quả
phân tích dữ liệu cho một cái nhìn
sâu vào xu hướng và những chỉ
lượng đánh bắt cả toàn diện ở quy mô địa phương, thì sẽ có hiệu quả hơn nếu
các nhà khoa học cũng tích cực tham gia vào
việc điều tra về ngư nghiệp, tập trung vào
các loài bị khai thác quá mức hoặc bị suy
giảm và tại các khu vực dễ bị thương tổn nơi
làm ngư nghiệp rất dễ tác động bất lợi do
khai thác quá độ hoặc làm suy giảm môi
trường. Điều này phải được gắn với Cơ sở
dữ liệu đa dạng sinh học biển được đề xuất
xây dựng dự án C7.
Giám sát về các thông số vật chất:
Cục môi trường quốc gia trong Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường sẽ
điều phối một chương trình Giám sát quốc gia để Giám sát về các biểu hiện
vật chất của môi trường. Một chương trình như vậy phải gồm:
Giám sát khí hậu gồm những dự báo địa cầu, mức độ CO2, khí nhà kính,
mưa a xít.
Ô nhiễm không khí - bụi và khí:
Nước tải phù sa ra sông và vừng nước ven biển.
Ô nhiễm nước - kim loại, chất độc, dẫn điện.
Các mô hình dòng chảy, mạch nước ngầm.
Các phòng ban và tổ chức khác nhau phải tham gia vào việc làm mẫu và
thu thập dữ liệu nhưng những thông tin như thế phải được tập hợp lại để phân
Trang 25