TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
µ
HOÀNG THỊ THANH HẢO
HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
TMCP QUÂN ĐỘI – CHI NHÁNH ĐIỆN BIÊN PHỦ
Chuyên ngành: KINH TẾ - TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
HÀ NỘI, NĂM 2013
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
1. Cơ sở lý luận của luận văn
Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động cơ bản và tạo ra lợi nhuận
chủ yếu cho các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay. Nhưng mặt khác, rủi ro
tín dụng (RRTD) luôn đem lại hậu quả khó lường cho nền kinh tế cũng như chính
bản thân ngân hàng thương mại (NHTM). Các thống kê cho thấy rủi ro trong hoạt
động cho vay chiếm tới 70% trong tổng rủi ro Ngân hàng thương mại. Mặc dù hiện
nay đã có sự chuyển dịch cơ cấu lợi nhuận của Ngân hàng thương mại, theo đó thu từ
tín dụng có xu hướng giảm xuống và thu dịch vụ có xu hướng tăng lên, nhưng ở Việt
Nam, thu nhập hoạt động cho vay vẫn chiếm từ 60% - 70% trong tổng thu nhập của
Ngân hàng thương mại. Cho vay là nguồn sinh lợi chủ yếu nhưng đồng thời cũng
chứa đựng nhiều rủi ro, quyết định đến sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng
thương mại.
Trong giai đoạn hiện nay, thị trường tài chính – tiền tệ trong nước diễn biến
phức tạp, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động cho vay của các Ngân hàng thương mại,
rủi ro trong hoạt động cho vay ngày càng trở nên khó kiểm soát hơn. Đặc biệt, trong
quá trình tự do hóa tài chính và hội nhập quốc tế, rủi ro trong hoạt động cho vay có
nguy cơ gia tăng do sự biến động khó lường của nền kinh tế thế giới. Rủi ro trong
hoạt động cho vay không chỉ tác động tới bản thân Ngân hàng thương mại mà còn tác
động tiêu cực đến nền kinh tế. Chính vì vậy, kiểm soát được rủi ro trong hoạt động
cho vay ngày càng trở nên quan trọng và cần thiết đối với mỗi tổ chức tín dụng.
Xuất phát từ nhận thức về ảnh hưởng của rủi ro tín dụng và thực tế hoạt động
hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội – Chi nhánh
đời tồn tại và phát triển của nền sản xuất và lưu thông hàng hóa. Tín dụng ra đời là
một yếu tố khách quan của sự phát triển kinh tế xã hội.
Rủi ro tín dụng là một trong những loại rủi ro phổ biến nhất trong số nhiều loại
rủi ro. Rủi ro tín dụng cũng là loại rủi ro thường hay xảy ra và gây hậu quả nặng nề
đối với hoạt động của ngân hàng, vì các khoản vay thường chiếm quá nửa giá trị tổng
ii
tài sản và tạo ra từ 1/2 đến 2/3 nguồn thu của ngân hàng.
Rủi ro tín dụng luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu đối với các TCTD, RRTD
xảy ra sẽ làm phát sinh các khoản nợ khó đòi, vốn bị ứ đọng, tăng khả năng mất vốn,
giảm khả năng thanh toán, làm mất uy tín và hình ảnh, năng lực cạnh tranh của Ngân
hàng. Không những thế, khi RRTD xảy ra sẽ có thể gây những phản ứng tiêu cực tới
nền kinh tế: mất lòng tin của dân chúng, làm ảnh hưởng tới hình ảnh và vị thế của
TCTD….
Hoạt động tín dụng là một quy trình, bắt đầu từ khâu thẩm định đánh giá
khoản vay, giải ngân, theo dõi khoản vay, quản lý các khoản nợ vay có vấn đề, xử lý
thu hồi nợ xấu, vì vậy, quy trình quản lý rủi ro tín dụng sẽ là một quy trình liên tục,
bám sát quy trình tín dụng của Ngân hàng, bao gồm cả việc đưa ra dấu hiệu cảnh báo
sớm về tình trạng của Khách hàng, đưa ra giải pháp, phương án thu hồi nợ nhằm
giảm thiểu đến mức thấp nhất thiệt hại cho Ngân hàng.
Các dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng bao gồm: Các dấu hiệu tài chính và dấu
hiệu phi tài chính. Hạn chế rủi ro tín dụng không chỉ là các biện pháp xử lý khi rủi ro
đã phát sinh mà còn là tìm kiếm, nhận diện rủi ro tiềm ẩn trước khi rủi ro phát sinh để
có thể có biện pháp ngăn ngừa kịp thời, hạn chế tối đa hậu quả xảy ra.
Một số chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng của Ngân hàng: Chỉ tiêu phản ánh nợ
quá hạn, Các chỉ tiêu trích lập dự phòng và bù đắp rủi ro tín dụng, hệ số thu nợ. Đây
là một số chỉ tiêu định lượng nhằm phản ánh tình hình rủi ro tín dụng của TCTD, tuy
nhiên, trên cơ sở hoạt động tín dụng của TCTD, các nhà quản trị Ngân hàng không
chỉ quan tâm tới các chỉ tiêu định lượng, mà còn phải quan tâm tới các chỉ tiêu định
tính, để có thể dự báo rủi ro, và đưa ra phương hướng xử lý các vấn đề rủi ro tiềm ẩn.
Trên cơ sở nhận định những tác động, ảnh hưởng của RRTD tới các TCTD
nhánh đều không cao và có xu hướng giảm dần qua các năm. Tại MB Điện Biên
Phủ, công tác thu hồi nợ xấu, nợ quá hạn đã đạt được một số kết quả nhất định, tình
hình dư nợ quá hạn, nợ xấu đã giảm tích cực. Tại thời điểm 31/12/2012, tỷ lệ nợ xấu
của Chi nhánh chỉ còn 1.33%, thấp hơn rất nhiều so với mục tiêu chung của Hội sở
đề ra là 2%, tuy nhiên, trên thực tế, các khoản nợ xấu hiện nay của Chi nhánh đều
iv
là các khoản nợ vay khó đòi do tình hình kinh tế trong các năm gần đây gặp khó
khăn, đồng thời, tài sản đảm bảo của các phương án vay đều sụt giảm nghiêm trọng.
Vì vậy, chi nhánh cần phải quyết liệt hơn trong công tác xử lý nợ xấu, cần phối kết
hợp với các đơn vị có chuyên môn như các công ty xử lý nợ để có thể xử lý nợ xấu
hiệu quả hơn.
Trích lập dự phòng rủi ro cao là cũng thế mạnh của MB Điện Biên Phủ. Hoạt
động kinh doanh hiệu quả, quan điểm kinh doanh của ban giám đốc chi nhánh đảm
bảo tính an toàn cao,luôn yêu cầu duy trì mức trích lập dự phòng cao để phòng ngừa
các rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra. Quỹ trích lập dự phòng của Chi nhánh năm 2012
đạt 67 tỷ, đây là nguồn vốn dự phòng của Chi nhánh nhằm xử lý các vấn đề rủi ro
có thể phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh.
Để thực hiện tốt việc “mở rộng tín dụng đi đôi với nâng cao chất lượng tín
dụng nhằm hạn chế rủi ro tín dụng” MB Điện Biên Phủ đã thực hiện mô hình tổ
chức phù hợp với xu hướng hiện đại, theo định hướng chung của MB. Khâu tín
dụng đã được tách giữa khâu thẩm định cho vay và khâu quyết định cho vay; Tách
thẩm định cho vay (cán bộ tín dụng tại phòng Khách hàng Doanh nghiệp, phòng
Khách hàng Cá nhân, các phòng giao dịch) và thẩm định rủi ro (cán bộ thẩm định
rủi ro); Tách khâu thẩm định, quyết định nhận tài sản bảo đảm (TSBĐ) và khâu
định giá TSBĐ; Chi nhánh đã thường xuyên quan tâm đến công tác hạn chế RRTD,
với các biện pháp triển khai cụ thể hơn trong hoạt động tín dụng như đánh giá khách
hàng, thẩm định xét duyệt vay vốn, phân loại khách hàng; công tác kiểm tra, kiểm
soát sau vay được chú trọng hơn, có các biện pháp hỗ trợ khách hàng; công tác thu
hồi nợ , tăng cường công tác đào tạo kỹ năng, nghiệp vụ cho các cán bộ tại các
phòng ban nhằm tăng cường chất lượng đội ngũ nhân viên, tăng năng lực thẩm định
Luận văn đã đưa ra các nguyên nhân của những tồn tại:
Nguyên nhân chủ quan:
+ Trình độ nghiệp vụ, kinh nghiệm của cán bộ làm công tác quản lý rủi ro tại
vi
Chi nhánh còn yếu; quan điểm của Ban lãnh đạo về vai trò của quản trị RRTD chưa
rõ ràng, các chỉ đạo về xử lý nợ quá hạn, quản trị rủi ro tín dụng nhiều khi chưa dứt
khoát và quyết liệt; công tác quản trị rủi ro tín dụng còn nhiều bất cập, việc luân
chuyển cán bộ thường xuyên, tuyển dụng cán bộ trẻ, chưa có kinh nghiệm trong công
tác thẩm định Khách hàng
+ Cơ sở khách hàng mỏng, chưa phát triển được nhiều khách hàng mới để thay
đổi cơ cấu vốn vay trong các ngành nghề, lĩnh vực.
+ Hệ thống thông tin chưa đa chiều, xử lý thông tin thiếu chính xác và còn
chậm
Nguyên nhân khách quan: Năng lực điều hành, tư cách đạo đức của khách
hàng vay vốn là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến rủi ro tín dụng tại
MB Điện Biên Phủ, ngoài ra, môi trường pháp lý chưa đầy đủ, đồng bộ, chính sách,
quy trình tín dụng của Ngân hàng ban hành còn nhiều bất cập, chồng chéo, quy định
trách nhiệm của các phòng ban chưa rõ ràng dẫn đến việc lơi lỏng trong công tác
kiểm tra, kiểm soát, tư vấn tác nghiệp , hệ thống thông tin quản lý còn nhiều bất
cập, chưa rõ ràng và minh bạch
Chương 3: Một số giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại NHTM CP Quân
Đội – Chi nhánh Điện Biên Phủ
Trên cơ sở phân tích những vấn đề còn tồn tại, nguyên nhân phát sinh, ở
chương 3, Luận văn sẽ tập trung phân tích các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín
dụng tại Chi nhánh Ngân hàng, đồng thời đưa ra các kiến nghị đến các cơ quan hữu
quan nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng.
Giải pháp thứ nhất: Nâng cao năng lực hạn chế rủi ro tín dụng cho cán bộ
Quản lý và cán bộ tác nghiệp của Chi nhánh.
Nhân tố con người luôn là nhân tố cốt lõi trong hoạt động của Ngân hàng. Vì
vậy, vấn đề chất lượng nhân sự luôn là vấn đề được đặt lên hàng đầu tại Chi nhánh.
Đối với Ngân hàng nhà nước Việt Nam: Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng
viii
Công tác quản lý và điều hành, tăng cường công tác thanh tra, kiểm soát, nâng cao
chất lượng của Trung tâm thông tin tín dụng…
Đối với Ngân hàng Quân Đội: Xây dựng và hoản thiện chiến lược, chính
sách quản trị rủi ro phù hợp, hoàn thiện quy trình cho vay, quy chế hóa mọi hoạt
động ngân hàng theo tiêu chuẩn Iso, đảm bảo được các nguyên tắc hạn chế rủi ro tín
dụng, hoàn thiện chính sách quản lý rủi ro, hệ thống chấm điểm tín dụng và xếp
hạng khách hàng…
3. Kết luận
Trước điều kiện nền kinh tế thế giới đang trong giai đoạn có nhiều biến động,
công tác kiểm soát được rủi ro trong hoạt động cho vay, đảm bảo tăng trưởng và
phát triển bền vững đang trở thành mục tiêu hàng đầu đối với Ngân hàng TMCP
Quân đội – CN Điện Biên Phủ nói riêng và toàn bộ hệ thống Ngân hàng thương mại
Việt Nam nói chung. Để đạt được mục tiêu đó, Ngân hàng cần đẩy mạnh công tác
quản lý rủi ro trong hoạt động cho vay, thực thi các giải pháp cần cần thiết nhằm
ngăn ngừa và hạn chế tối đa rủi ro trong hoạt động cho vay phát sinh.
Việc nghiên cứu các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng sẽ góp phần đảm
bảo an toàn và phát triển bền vững cho hoạt động ngân hàng thương mại nói chung và
ngân hàng cổ phần nói riêng. Đây là một vấn đề hấp dẫn nhưng vô cùng phức tạp vì nó
có phạm vi nghiên cứu rộng lớn và liên quan nhiều đến các cấp cả vĩ mô lẫn vi mô.
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã kết hợp giữa lý luận và khảo sát thực
tế hoạt động tín dụng tại MB Điện Biên Phủ với mục đích đưa ra một số giải pháp
chủ yếu với hy vọng giải quyết phần nào những vướng mắc nhằm hạn chế rủi ro tín
dụng Ngân hàng. Nội dung của luận văn tập trung hoàn thành một số nhiệm vụ sau:
Thứ nhất: Luận văn đã hệ thống hoá những vấn đề cơ bản về lý luận hoạt
động tín dụng, rủi ro tín dụng, đưa ra các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng và các
giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại Chi nhánh NHTM
Thứ hai: Luận văn đã nghiên cứu phân tích thực trạng hoạt động tín dụng,
rủi ro tín dụng tại MB Điện Biên Phủ từ năm 2010 đến năm 2012. Từ đó đi sâu