1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯
DƯƠNG THỊ LỆ HUYỀN HUY ĐỘNG VỐN NƯỚC NGOÀI CHO PHÁT TRIỂN
KINH TẾ TƯ NHÂN TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế Tài chính Ngân hàng
Mã số: 60.31.12 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS DƯƠNG THỊ BÌNH MINH TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2006
2
MỤC LỤC
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục các bảng, đồ thò
Lời mở đầu
Chương 1 – LÝ LUẬN CHUNG VỀ KTTN VÀ HUY ĐỘNG VỐN NƯỚC
NGOÀI ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KHU VỰC KTTN
2.3 Đánh giá thực trạng huy động vốn nước ngoài cho phát triển khu vực
KTTN tại Việt Nam thời gian qua
2.3.1 Ưu điểm
2.3.2 Hạn chế
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế
Chương 3 – CÁC BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN HUY ĐỘNG VỐN NƯỚC
NGOÀI CHO PHÁT TRIỂN KTTN TẠI VIỆT NAM
3.1 Đònh hướng phát triển khu vực KTTN tại Việt Nam đến năm 2010
3.2 Các biện pháp hoàn thiện huy động vốn nước ngoài cho phát triển
KTTN tại Việt Nam
3.2.1 Các giải pháp vó mô
3.2.2 Các giải pháp vi mô
3.2.2.1 Các giải pháp thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
3.2.2.2 Các giải pháp thu hút và sử dụng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài
3.2.3 Các giải pháp hỗ trợ
Kết luận
Tài liệu tham khảo
4
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
KTTN : Kinh tế tư nhân
KTNN : Kinh tế nhà nước
ĐTNN : Đầu tư nước ngoài
DN : Doanh nghiệp
DNNQD : Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
DNNN : Doanh nghiệp nhà nước
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
XHCN : Xã hội chủ nghóa
FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FPT : Đầu tư gián tiếp nước ngoài qua thò trường tài chính
Bảng 14: Danh sách các Q đầu tư nước ngoài trong làn sóng đầu tư thứ nhất ..61
Bảng 15: Các Q đang hoạt động tại Việt Nam tính đến tháng 6/2006 ...............62
Biểu đồ
Biểu số 1: Số lượng các DN thuộc khu vực KTTN đăng ký giai đoạn 1991-
2005 ..................................................................................................29
Biểu đồ 2: So sánh số DN đăng ký hai giai đoạn: 1991 - 1999 và 2000 - 2005 ...29
Biểu số 3: Tăng trưởng GDP cả nước...................................................................32
Biểu số 4: Cơ cấu DN có đến 31/12/2005............................................................35
Biểu số 5: Cơ cấu DN khu vực KTTN có đến 31/12/2006...................................35
Biểu số 6: Tăng trưởng DN ..................................................................................35
Biểu số 7: Tăng trưởng nguồn vốn DN ................................................................37
Biểu đồ 8: Cơ cấu lao động có đến 31/12/2005 ...................................................39
6
LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Để tiến hành nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần huy động
tối đa các thành phần kinh tế tham gia, trong đó có thành phần KTTN là một tất
yếu khách quan và đây là một bộ phận cấu thành không thể thiếu được trong
nền kinh tế nước ta cũng như các nước trên thế giới. Phát triển KTTN góp phần
giải phóng mọi lực lượng sản xuất, huy động khai thác các tiềm lực dồi dào về
vốn, kinh nghiệm quản lý, ngành nghề truyền thống…….thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế, phát triển đất nước.
Những nỗ lực của khu vực KTTN trong thời gian qua ở nước ta đã và đang
góp phần xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp, thúc đẩy lượng lực sản xuất
phát triển, thực hiện công bằng xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình trưởng thành,
KTTN đứng trước nhiều khó khăn và thách thức, cần có những giải pháp đồng
bộ tháo gỡ những khó khăn vướng mắc, khai thác tối ưu tiềm năng của khu vực
này cho phát triển kinh tế quốc gia.
2006 để có số liệu sát với thực tiễn làm cơ sở cho phân tích và đánh giá thực
trạng và kiến nghò các biện pháp hoàn thiện huy động vốn nước ngoài cho phát
triển KTTN tại Việt Nam.
Tuy nhiên dù học viên đã rất cố gắng trong việc thu thập số liệu, song kết
quả cũng chỉ dừng lại ở mức độ mà luận văn đạt được.
4. Phương pháp nghiên cứu
8
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận văn là phương pháp phân tích và
tổng hợp. Nhờ phương pháp này có thể nghiên cứu được những thành tựu cũng
như thấy được những hạn chế trong quá trình phát triển của KTTN và khả năng
huy động vốn nước ngoài của khu vực này. Từ đó đề xuất những biện pháp hoàn
thiện và nâng cao khả năng huy động vốn nước ngoài cho sự phát triển khu vực
KTTN tại Việt Nam.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp khác như: phương pháp
thống kê, phương pháp diễn giải và qui nạp, phương pháp so sánh…….
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các bảng, chữ viết tắt, luận văn có
96 trang với kết cấu như sau:
Chương 1: Lý luận chung về KTTN và huy động vốn nước ngoài đối với sự phát
triển khu vực KTTN.
Chương 2: Thực trạng huy động vốn nước ngoài cho phát triển KTTN tại Việt
Nam.
Chương 3: Các biện pháp hoàn thiện huy động vốn nước ngoài cho phát triển
KTTN tại Việt Nam.
có sự quan hệ chặt chẽ với nhau, cụ thể: chúng đều hình thành, phát triển dựa
trên sở hữu tư nhân, vì thế chúng có cùng một kiểu quan hệ quản lý, quan hệ
phân phối, chỉ khác nhau về quy mô và trình độ phát triển. Chúng vận động và
phát triển theo một logic từ thấp đến cao, từ kinh tế hộ cá thể – tiểu chủ lên DN
tư nhân, Công ty TNHH, Công ty cổ phần theo quy luật tích tụ và tập trung sản
xuất và quy luật quan hệ sản xuất nhất đònh phải phù hợp với tính chất và trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Hai là, với quan niệm trên đây sẽ không đánh giá đúng tiềm lực to lớn về
vai trò, vò trí của khu vực KTTN trong nền kinh tế thò trường đònh hướng xã hội
chủ nghóa.
- Nếu tiếp cận theo cách phân đònh thành phần kinh tế thì KTTN gồm có: kinh tế
cá thể – tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân và một phần kinh tế có vốn đầu tư của
nước ngoài. Cách tiếp cận này trên thực tế chỉ có ý nghóa về mặt chính trò phục
vụ cho việc phân đònh các thành phần giai cấp trong xã hội mà thôi. Mà ngày
nay việc phân đònh này cũng chỉ có ý nghóa tương đối, bởi vì giữa thành phần
kinh tế và giai cấp nó không hoàn toàn tương đồng, cụ thể một giai cấp có thể
nằm ở hai hay ba thành phần kinh tế, chẳng hạn giai cấp nông nhân hiện nay
gắn liền với ba thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước (nông dân nhận khoán của
nông lâm trường), kinh tế tập thể (nông dân trong hợp tác xã), kinh tế cá thể –
tiểu chủ (nông dân cá thể).
- Nếu tiếp cận dưới góc độ tổ chức sản xuất kinh doanh thì khu vực KTTN bao
gồm: các hộ kinh tế cá thể, hộ tiểu chủ (trang trại trong nông nghiệp), các DN tư
nhân (cả trong và ngoài nước) và các hình thức kinh tế hỗn hợp của chúng như:
Công ty TNHH, Công ty cổ phần hoạt động trong tất cả các lónh vực nông
nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, dòch
11
vụ, thương mại………..Với quan niệm rộng lớn như trên các loại hình DN thuộc khu
vực KTTN có một số lợi thế như: có khả năng thích ứng với mọi ngành nghề từ
nông nghiệp đến công nghiệp, thương mại, dòch vụ; với mọi trình độ phát triển từ
thủ công đến cơ khí, tự động hóa, tin học hóa; với quy mô từ nhỏ, vừa đến lớn;
phải là cá nhân chòu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghóa vụ
của công ty, thành viên góp vốn chỉ chòu trách nhiệm về các khoản nợ của công
ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Công ty hợp danh có tư cách pháp
nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh danh và không được
phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.
- DN tư nhân là DN do một cá nhân làm chủ và tự chòu trách nhiệm bằng toàn bộ
tài sản của mình về mọi hoạt động của DN. DN tư nhân không được phát hành
bất kỳ loại chứng khoán nào. Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một DN tư
nhân.
- Các nhóm, cá thể kinh doanh không cần vốn pháp đònh, đó chính là sự khác
nhau cơ bản với chủ DN tư nhân và công ty.
1.1.3 Tính tất yếu phát triển khu vực KTTN trong nền kinh tế thò trường
Ngày nay, hầu hết các nước trên thế giới đều nhận thức được vai trò quan
trọng của khu vực KTTN trong nền kinh tế quốc gia. Nhận thức này không phải
ngay một lúc mà có được, nó là kết quả thực tiễn của một quá trình tương đối dài
về sự tồn tại và phát triển sống động của KTTN.
Có một thời kỳ dài người ta đánh giá không đúng vai trò của khu vực
KTTN. Do e ngại KTTN dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất
“Hàng ngày hàng giờ đẻ ra chủ nghóa tư bản” nên chúng ta đã tìm mọi cách để
13
triệt tiêu khu vực kinh tế này và chỉ tạo điều kiện để KTNN, kinh tế tập thể phát
triển. Hậu quả là nền kinh tế trì trệ, chậm phát triển, đời sống nhân dân vô cùng
khó khăn. Trong khi đó ở các nước phát triển theo mô hình kinh tế thò trường,
KTTN phát triển song song và bổ trợ với KTNN. Thậm chí KTTN phát triển
nhanh, mạnh mẽ, góp phần quan trọng làm cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh.
Người ta nhận thấy rõ ràng tác dụng không thể phủ nhận là khu vực KTTN có
thể thúc đẩy cạnh tranh, thực hiện phân bổ tài nguyên một cách hợp lý hơn so
với khu vực KTNN vì những lý do xuất phát từ lợi ích trực tiếp do tính chất sở
hữu của KTTN so với KTNN.
Ngay ở trong khu vực, các con Rồng Châu Á như Đài Loan, Hồng Kông,
KTTN là một trong những giải pháp quan trọng để thực hiện mục tiêu này là vì
cho phép khai thác có hiệu quả mọi nguồn lực của đất nước.
KTTN có vai trò to lớn trong việc huy động vốn đầu tư rộng rãi trong nhân
dân cho phát triển sản xuất, tạo động lực và môi trường cạnh tranh sống động,
linh hoạt, sáng tạo cho sự phát triển, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tạo
ra nhiều của cải hàng hóa cho xã hội, đóng góp vào ngân sách nhà nước, góp
phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa các ngành sản xuất. Theo
ước tính của các chuyên gia tài chính ngân hàng thì nguồn vốn dưới các dạng
trong dân còn rất lớn khoảng trên 20 tỷ USD, vì thế phát triển KTTN mới có thể
khai thác tốt được nguồn vốn trong dân.
Vậy, sự tồn tại KTTN ở nước ta là một đòi hỏi bức thiết của thực tiễn xây
dựng, phát triển đất nước nhằm khơi dậy và phát huy các tiềm năng về vốn, sức
lao động, cơ sở vật chất, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý, tính năng động, nhạy
15
bén linh hoạt, sáng tạo của KTTN. Góp phần giải phóng đáng kể lực lượng sản
xuất xã hội, tăng trưởng kinh tế, từng bước khắc phục sự nghèo đói, cải thiện đời
sống nhân dân.
Thứ hai, tạo sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất
Khu vực KTTN phát triển về hình thức sở hữu, về quản lý và phân phối
tạo nên sự phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở các ngành,
các lónh vực sản xuất, từ đó tạo khả năng huy động rộng rãi tiềm năng nguồn lực
trong toàn xã hội để đẩy mạnh sản xuất, tạo ra nhiều của cải làm giàu cho mình
và cho đất nước. Các loại hình tổ chức của KTTN được tự do phát triển, Nhà
nước tạo điều kiện và khuyến khích đầu tư sản xuất kinh doanh, được luật pháp
bảo hộ và là biểu hiện dân chủ hóa đời sống kinh tế trong xã hội ta. Từ đó khơi
dậy và phát huy tính năng động , nhạy bén, cần cù sáng tạo của quần chúng
nhân dân trong lao động và sản xuất, thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa phát triển,
góp phần to lớn vào sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa. Mặt
khác quá trình dân chủ hóa đời sống kinh tế được mở rộng nói trên sẽ tác động
và đòi hỏi sự cải tiến về tổ chức, quản lý của nhà nước theo hướng hiện đại, văn
ngành, lónh vực mặt hàng xã hội đang thiếu, đang cần đầu tư sản xuất, đồng thời
không ngừng cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản
phẩm để có ưu thế trong cạnh tranh và thu được lợi nhuận, từ đó thúc đẩy sự dòch
chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng hợp lý, ngày càng hiện đại.
Ngoài ra phát triển KTTN sẽ tạo ra một đội ngũ những nhà DN năng động,
nhạy bén dám nghó, dám làm, chấp nhận thách thức của thò trường. Góp phần
17
đồng bộ và hoàn thiện những tiền đề, điều kiện cho sự phát triển kinh tế thò
trường đònh hướng XHCN.
Thứ năm, giải quyết việc làm, chuyển dòch cơ cấu lao động và phát triển
nguồn nhân lực
Khu vực KTTN phát triển khắp các vùng của đất nước tạo khả năng to lớn
trong giải quyết việc làm và đời sống của người lao động. Trong cơ chế cạnh
tranh thò trường, để nâng cao chất lượng sản phẩm, hiệu quả kinh doanh, KTTN
phải tìm mọi cách tuyển chọn, bồi dưỡng, đạo tạo, nâng cao trình độ, năng lực,
tay nghề của người lao động, cũng như bố trí sử dụng hợp lý, khoa học….. từ đó
góp phần to lớn vào sự phát triển lực lượng lao động xã hội, đáp ứng yêu cầu
kinh tế thò trường hội nhập kinh tế quốc tế.
Các DN thuộc KTTN đông đảo với nhiều qui mô, nhiều ngành nghề không
những thu hút nhiều lao động, giải quyết nhiều việc làm mà còn là lò luyện đội
ngũ các nhà DN sau khi họ tốt nghiệp các trường cao đẳng, đại học và các
trường khác.
Thứ sáu, phát triển kinh tế đối ngoại
Sự tồn tại khách quan của kinh tế hàng hóa cùng với xu thế và đặc điểm
thời đại về mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế là môi trường và điều kiện cho
KTTN phát huy các ưu thế, hiệu quả của mình cho nền kinh tế. KTTN góp phần
mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, hiện đại hóa sản xuất: sự phát triển của
KTTN tạo ra khối lượng lớn về hàng xuất khẩu đồng thời mở rộng khả năng và
là đối tác thu hút các nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài vào Việt Nam, nhập về
máy móc thiết bò công nghệ tiên tiến…..qua đó tạo tiền đề khai thác, tận dụng
19
nhiên, thông thường sử dụng 2 tiêu thức phân loại các nguồn vốn nước ngoài vào
một quốc gia:
Tiêu thức 1: Căn cứ vào nội dung vận động của các nguồn vốn nước ngoài,
với mục đích xác đònh quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn thì vốn nước ngoài có
các hình thức sau:
- Các nguồn vốn từ quan hệ thanh toán quốc tế, bao gồm: các quan hệ trả tiền
đối ứng với các luồng hàng hóa, dòch vụ mà trong nước đã cung cấp cho nước
ngoài. Nguồn vốn này gắn liền với hoạt động ngoại thương (xuất – nhập khẩu
hàng hóa), du lòch quốc tế, hợp tác lao động quốc tế, các quan hệ quốc tế về
văn hóa – xã hội, quân sự, chính trò, ngoại giao…. Trong đó liên quan trực tiếp
đến vốn cung cấp cho hoạt động của các cơ sở sản xuất kinh doanh là các
nguồn vốn có được từ hoạt động xuất – nhập khẩu, vốn được gửi về từ các
người thân đi lao động ở nước ngoài (kiều hối).
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), là dòng vốn mà chủ đầu tư nước ngoài đưa
vốn đầu tư vào một quốc gia khác và trực tiếp quản lý, điều hành hoạt động sử
dụng vốn. Các chủ đầu tư trực tiếp có thể là mọi tổ chức và cá nhân của nước
ngoài dưới các hình thức đầu tư khác nhau tùy theo luật pháp nước chủ nhà.
Hiện nay, ở Việt Nam cho phép áp dụng các hình thức đầu tư trực tiếp nước
ngoài là hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng, DN liên doanh, DN 100% vốn
nước ngoài. Bên nhận đầu tư có thể là mọi tổ chức và cá nhân trong nước.
FDI là một hình thức đầu tư mang đến nhiều tác động có lợi cho cả hai
bên. Đối với các nước nhận đầu tư sẽ tạo cơ hội thu hút công nghệ tiên tiến, kinh
nghiệm quản lý kinh doanh nước ngoài, khai thác tốt lợi thế trong nước, có thể
nâng cao hiệu quả phần vốn đóng góp, tăng tích luỹ, mở rộng cạnh tranh….thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy vậy, mặt trái của việc tiếp nhận FDI là nước chủ
nhà khó chủ động bố trí cơ cấu đầu tư theo ngành và vùng lãnh thổ, tài nguyên
20
bò khai thác quá mức, có thể du nhập công nghệ thứ yếu và ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng.
nhận vốn không phải lo hoàn trả mà chỉ cần sử dụng đúng mục đích, tạo niềm tin
với các nhà tài trợ. Nguồn vốn viện trợ quốc tế không hoàn lại chiếm một tỷ
trọng nhỏ trong tổng các dòng vốn trao đổi giữa các quốc gia.
+ ODA, chủ yếu là các nguồn vốn đầu tư gián tiếp của các tổ chức quốc tế và
các Chính phủ vào các nước đang phát triển dưới hình thức tín dụng ưu đãi quốc
tế, số lượng vốn vay lớn, thời gian vay dài ( có khoản vay sau 30 – 40 năm mới
phải trả gốc), lãi suất thấp hơn lãi suất thò trừơng , thậm chí có thời gian ân hạn.
Chủ đầu tư thường không coi trọng lợi ích kinh tế, mà họ quan tâm nhiều hơn
đến mục tiêu chính trò – xã hội. Vì vậy để có được nguồn vốn này, các nước
đang phát triển phải xây dựng các chương trình, dự án đầu tư rõ ràng, thuyết
minh tiến độ và sau đó là đánh giá hiệu quả đầu tư. Chủ tiếp nhận nguồn vốn
ODA thường là Chính phủ, sử dụng vào những lónh vực mà tư nhân không muốn
hoặc tư nhân không có khả năng đầu tư (xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội)
tạo hàng hóa công cộng. Trách nhiệm trả nợ nguồn vốn này thuộc về Chính phủ,
trong đó Bộ tài chính đàm phán vay và trả các khoản nợ này.
+ Nguồn vốn từ đầu tư chứng khoán quốc tế, do các chủ đầu tư dưới hình thức
mua chứng khoán trên các thò trường tiền tệ, thò trường trái phiếu và thò trường
cổ phiếu quốc tế hoặc đầu tư thông qua Q đầu tư chứng khoán và thông qua
các đònh chế tài chính trung gian. Chủ đầu tư có thể là tất cả các chủ thể kinh tế
– xã hội của mọi quốc gia, hưởng lợi tức nhưng không tham gia điều hành đối
22
tượng mà họ bỏ vốn đầu tư. Chủ thể nhận đầu tư thông qua các loại chứng khoán
phát hành trên thò trường: Chính phủ nhận vốn đầu tư quốc tế qua phát hành trái
phiếu quốc tế; các DN nhận vốn đầu tư quốc tế qua phát hành trái phiếu công ty
hoặc cổ phiếu công ty. Đây là nguồn vốn đáp ứng nhanh chóng nhu cầu vốn cho
bên nhận đầu tư, thông qua sự phát triển của thò trường chứng khoán, nguồn vốn
đầu tư này góp phần tích cực cho tăng trưởng và phát triển. Tuy nhiên, hình thức
này luôn tiềm ẩn những yếu tố rủi ro cho bên nhận đầu tư nếu các nhà đầu tư
đồng loạt rút vốn trong thời gian ngắn thông qua việc bán cổ phiếu trên thò
trường chứng khoán.
chứng khoán; nguồn vốn có được thông qua các loại q như Q đầu tư mạo
hiểm nước ngoài, Ngân hàng phát triển (trước đây là Q hỗ trợ phát triển) và
các loại q khác của nước ngoài hoạt động tại Việt Nam.
Những nguồn vốn vào khu vực tư nhân rất đa dạng, tuy Chính phủ không
có trách nhiệm thanh toán cuối cùng đối với phần lớn nguồn vốn này, nhưng
hiệu quả sử dụng vốn ở khu vực tư nhân cũng sẽ tác động rất lớn đến tăng
trưởng kinh tế (nếu sử dụng với hiệu quả cao) hay suy giảm kinh tế (nếu sử dụng
kém hiệu quả). Vì vậy Chính phủ vẫn phải giám sát và sử dụng các công cụ điều
hành vó mô tác động tích cực đến việc thu hút và sử dụng các nguồn vốn đó ở
khu vực KTTN nhằm khai thác mặt tích cực và hạn chế tiêu cực của nó.
Ngoài hai dòng vốn kể trên, còn vốn nước ngoài vào một quốc gia nhưng
vẫn do chủ thể nước ngoài trực tiếp sử dụng, đó là vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài dứơi hình thức 100% vốn nước ngoài. Tuy các chủ thể kinh tế trong nước
không sử dụng nguồn vốn này, nhưng nó vẫn có lợi ích chung cho quốc gia nhận
24
vốn (tạo việc làm, tăng thu nhập…), đồng thời nó cũng bộc lộ những tiêu cực,
nên các Chính phủ một mặt khuyến khích thu hút vốn, mặt khác kiểm soát hạn
chế tiêu cực.
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến huy động vốn nước ngoài cho khu vực
KTTN
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến huy động vốn nước ngoài cho khu vực kinh
tế nói chung và khu vực KTTN nói riêng, tuy nhiên ở đây chỉ nêu một số nhân tố
điển hình:
Thứ nhất, vấn đề tiếp cận vốn. Theo quy luật, nguồn vốn được luân
chuyển từ nơi thừa sang nơi thiếu với chi phí sử dụng vốn ấn đònh. Và để thực
hiện được việc luân chuyển này thì phải có một bàn tay vô hình tác động đó
chính là Nhà nước. Tùy thuộc vào chính sách chế độ của Nhà nước cho phép khu
vực KTTN tiếp cận với nhà đầu tư nước ngoài mà lượng vốn huy động được có
đủ đáp ứng nhu cầu cho phát triển khu vực KTTN.
Thứ hai, vần đề tiếp cận về đất đai. Mặt bằng kinh doanh là yếu tố mà
- Ngoài ra, năng lực và trách nhiệm của chính quyền một số đòa phương còn
hạn chế. Đây là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng huy động vốn
đầu tư nước ngoài ở DN của từng tỉnh, từng thành phố. Chính quyền đòa
phương chính là người trực tiếp tiếp xúc và giải quyết nhiều vấn đề liên quan
đến nhà đầu tư. Và hành vi của đội ngũ công chức của từng chính quyền đòa
phương ảnh hưởng không nhỏ đến quyết đònh đầu tư của các nhà đầu tư nước
ngoài.