DANH SÁCH NHÓM 9:
HỌ VÀ TÊN MSSV GHI CHÚ
Trịnh Thị Minh
11014493
Nhóm trưởng,thuyết trình
Nguyễn Thị Thanh
Phạm Thị Thanh
Lê Thị Diệp Thuyết trình
Nhận xét của giáo viên:
………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………
Ngày… tháng……năm 2013
Giáo viên
MỤC LỤC
LỜI MỞ
ĐẦU 6
NỘI
DUNG 7
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỬA
TIỀN 7
1 Tóm tắt lịch sử hoạt động rửa
tiếng 18
1.5.9. Những cái giá phải trả về mặt xã
hội 18
1.6. Nạn rửa tiền ở một số quốc gia trên thế giới.
19
1.7. Văn bản pháp luật về chống rửa
tiền 20
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG RỬA TIỀN Ở VIỆT NAM
–TRỞ NGẠI CHO PHÁT TRIỂN KINH
TẾ 22
2.1. Khái quát chung hoạt động rửa tiền tại Việt
Nam 22
2.2. Phương thức, thủ đoạn rửa tiền điển hình tại Việt
Nam 23
2.2.1. Hoạt động thông qua hệ thống ngân hàng Việt
Nam 24
2.2.2. Hoạt động thông qua thị trường bất động
sản 24
2.2.3. Hoạt động thông qua các hình thức tài trợ thương mại….
… 26
2.2.4. Một số thủ đoạn rửa tiền
khác 26
2.3. Các vụ án rửa tiền và nghi ngờ có dấu hiệu rửa tiền được phát hiện ở Việt
Nam 2
7
2.3.1.Vụ án tội phạm nước ngoài vào Việt Nam để lừa đảo tín
dụng
.27
2.3.2. Hành vi rửa tiền trong vụ tham ô xăng dầu tại Công ty Chế biến
kinh doanh các sản phẩm dầu mỏ (đơn vị chủ quản của Xí nghiệp xăng
bạch 34
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN
NGHỊ 35
3.1. Sự cần thiết của luật pháp về chống rửa tiền ở Việt Nam và định hướng
phát triển chống rửa
tiền 35
3.1.1. Sự cần thiết của luật pháp về chống rửa tiền ở Việt Nam 35
3.1.2. Định hướng phát
triển 36
3.2. Các kiến nghị với Việt
Nam 37
3.2.1. Với Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam 37
3.2.2. Với hệ thống Ngân hàng Thương mại Việt Nam 37
3.2.2.1. Chính sách nhận diện khách
hàng 37
3.2.2.2. Giao dịch đáng
ngờ 40
3.2.2.3. Tăng cường quản lý, giám sát, kiểm toán nội
bộ… 41
3.2.2.4. Nâng cao hệ thống cơ sở vật chất của hệ thống ngân hàng
.trong nước, phát triển các hệ thống thanh toán điện tử, từ đó đẩy
lùi nền kinh tế tiền mặt.
42
3.2.3. Với nhà nước và chính phủ Việt Nam 42
3.2.3.1. Với hệ thống pháp
luật 42
3.2.3.2. Hợp tác quốc tế và phòng chống rửa
tiền 43
3.2.3.3. Phát triển các biện pháp tới người
định. Rất mong cô và bạn góp ý để đề tài được hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm
ơn!
NỘI DUNG:
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.Tóm tắt lịch sử của hoạt động rửa tiền.
Các vụ liên quan tới rửa tiền xuất hiện từ năm 1920 tại Mỹ. Trong đó, trường
đua ngựa và chơi xổ số là hai hình thức sơ khai nhất của rửa tiền. Tội phạm bỏ tiền
ra mua xổ số trúng thưởng của người thắng cuộc trong khi chơi xổ số hoặc cược
đua ngựa với giá cao rồi lấy vé đó đi lĩnh tiền thưởng. Tuy nhiên, theo Billy-một
chuyên gia nghiên cứu rửa tiền tại Anh, phải đến năm 1973 cụm từ “money
laundering” (rửa tiền) lần đầu tiên mới thức được sử dụng trong một số văn bản
pháp luật.
Vào năm 1994, theo số liệu của Financial Times ra ngày 18/10/1994, số tiền
được rửa hàng năm trên thế giới được thống kê với con số xấp xỉ khoảng 500 tỷ
USD.
Dựa trên báo cáo năm 2000 của cơ quan chống các chất gây nghiện quốc tế
cho tới nay số các nước có tình trạng rửa tiền ở mức độ đáng lo ngại đã lên tới mức
hai con số. Cụ thể, chia mức độ rửa tiền ở các quốc gia thành ba cấp độ chủ yếu:
nhóm mức độ lo ngại cao; nhóm mức độ lo ngại trung bình; nhóm được theo dõi.
Sự phân chia này dựa trên các tiêu chí:
Có hay không những cơ quan tài chính của quốc gia tiến hành các giao dịch
có liên quan trực tiếp đến lượng tiền thu được từ những tội phạm nghiêm
trọng.
Phạm vi của hoạt động xét xử hay bất cập ảnh hưởng đến rửa tiền.
Bản chất và quy mô của tình trạng rửa tiền tại quốc gia (ví dụ: ở đó có hay
không có dính dáng đến ma túy hay những hoạt động buôn lậu).
Những cách thức mà mỗi quốc gia quan tâm đến tình hình cụ thể khi có chi
nhánh quốc tế.
Những tác động hiện tại mà mỗi quốc gia quan tâm.
Có hay không việc giới hạn các hành vi bảo vệ pháp luật được phép chỉ ra
quát nhất của hoạt động rửa tiền đó chính là “hoạt động kinh tế siêu vĩ mô”.
Nghiên cứu “hoạt động kinh tế siêu vĩ mô” chính là nghiên cứu (tiền ảo),
bao gồm: sản xuất tiền ảo và biến tiền ảo thành tư bản; từ đó vạch ra được hình thái
của học thuyết mới về phát triển. Để hiểu rõ “tiền ảo” là gì có thể sử dụng ví dụ
sau: Nếu một cá nhân, doanh nghiệp hay tổ chức kinh tế tuyên bố rằng mình có
một khoản tiền nào đó gửi ở chi nhánh nước ngoài của một ngân hàng nào đó mà
được những cá nhân, doanh nghiệp hay tổ chức chịu sự chi phối của chủ thể đều
chấp nhận, thì khoản tiền đó, dù là không có, là ảo, cũng trở thành tiền thật. Từ đó
có thể nhận thấy “rửa tiền” cũng chính là một bộ phận của hoạt động kinh tế siêu vĩ
mô, trong đó tội phạm thông qua quá trình tạo tiền ảo tại các trung tâm tài chính
nước ngoài để thực hiện hoạt động rửa tiền của mình. Trong tác phẩm “Thế giới
toàn cảnh- Ramses 2001” có đề cập tới vấn đề này thông qua ví dụ sau: “Ngân
hàng Hawala: được thành lập dựa trên sự phối hợp giữa một số nhóm dân tộc.
Người gửi tiền bảo đảm là có một khoản tiền tương đương trong tài khoản một
ngân hàng nước ngoài. Tiền thù lao sẽ trả tiền thù lao thông qua các giao dịch
thông thường.
Đây có thể coi là một trong số rất nhiều cách để tội phạm lợi dụng nhằm
rửa tiền “bẩn” trên cơ sở kinh tế học. Ở đây, không tập trung áp đặt các định nghĩa
kinh tế học vào cho quá trình rửa tiền bởi lẽ rửa tiền là một phần rất nhỏ của kinh
tế học siêu vĩ mô mà quan trọng nhất các công cụ kinh tế không đủ sức mạnh kiểm
soát nó. Bởi vậy, để có định nghĩa đúng hơn vấn đề cần đứng trên quan điểm pháp
luật về vấn đề rửa tiền.
1.2.3. Định nghĩa theo cơ sở pháp luật.
Theo Nghị định số 74/CP về phòng chống rửa tiền có hiệu lực ngày
1/8/2005 của chính phủ Việt Nam:
Ngày 7/6/2005, Chính phủ ban hành Nghị định số 74/2005/NĐ-CP về phòng
chống rửa tiền. Trong điều 3, khoản 1 của nghị định này, lần đầu tiên thuật ngữ rửa
tiền được sử dụng và giải thích như sau:
Rửa tiền là hành vi của cá nhân,tổ chức tìm cách hợp pháp hóa tiền, tài sản
do phạm tội mà có thông qua các hoạt động cụ thể sau đây:
qua các vụ kiếm chác khổng lồ. Ví dụ, bọn tội phạm nếu muốn rửa số
tiền lớn thì sẽ thành lập các công ty buôn bán ở những nước mà chúng
biết rằng không có những quy định bảo mật ngân hàng tinh vi, khắt
khe hoặc những quy định về chống rửa tiền lỏng lẻo. Số tiền "bẩn"
này sau đó sẽ luân chuyển dưới những vỏ bọc này cho tới khi chúng
hoàn toàn trở nên "sạch sẽ".
Những vụ giao dịch như thế này thường được nguỵ trang và trà trộn với
hàng tỉ tỷ đô la giao dịch hợp pháp mỗi ngày. Hình thức "đòi nợ" và "hoá đơn đúp"
thường là những mánh khoé hay dùng. Trong hình thức "đòi nợ", bọn tội phạm
thường gửi tiền ở nước ngoài để bí mật kiểm soát và sau đó ném tiền vào các công
ty "đòi nợ" trở lại. Thủ tục này được sử dụng vì rất khó có thể xác định được coi
thực sự quản lý tài sản ở một số nước. Trong hình thức "Hoá đơn đúp", việc
chuyển tiền ra hoặc vào một nước - một ngân hàng nước ngoài thường quy ước giữ
hai quyển sổ hoá đơn. Để chuyển số tiền "sạch" này sang Mỹ đánh phí rất cao đối
với hàng hoá, dịch vụ. Để chuyển đi số tiền này (để tránh đánh thuế) các công ty
Mỹ lại bị đánh phí.
Các hình thức rửa tiền khác như mua các mặt hàng có giá trị lớn - chứng
khoán, ô tô, máy bay, séc du lịch - thường được đăng kí dưới tên một người khác
để tránh gây chú ý. Các sòng bạc cũng là nơi đôi khi được sử dụng vì họ sẵn sàng
lấy tiền mặt. Khi được chuyển tiền thành đồng séc, số tiền này sẽ thành tiền được
bạc và có thể rút séc tại ngân hàng của sòng bạc.
Khâu cuối cùng là pha trộn, là kỳ thâu tiền của bọn tội phạm. Ở khâu
này, bọn tội phạm sẽ chuyển số tiền để đầu tư các hoạt động kinh tế
lớn - thường là các hình thức đầu tư điển hình như bất động sản, mua
bán các hàng hoá xa xỉ.
Ngoài ra, người ta còn quan tâm việc rửa tiền dưới góc độ là các giao dịch
nhằm che đậy nguồn tài sản chính để những tài sản này được sử dụng không cần
phải thoả thuận với giới tội phạm - những kẻ đang cố gắng sử dụng chúng.
Với quan điểm như vậy thì các giao dịch rửa tiền được chia làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Giai đoạn sắp đặt: quá trình sắp đặt các nguồn tiền bất hợp
hợp bọn tội phạm có thể sử dụng bất động sản trên, nhưng thường
đăng ký bất động sản này dưới tên người khác.
Qua người môi giới cổ phiếu: Là hình thức mà bọn rửa tiền thông qua
người môi giới cổ phiếu dùng tiền mặt để mua một số lượng cổ phiếu
lớn và sau đó chúng trở thành cổ đông của các công ty cổ phần - chủ
sở hữu hợp pháp.
Chuyển tiền bằng điện tín hoặc thư chuyển tiền: Phương thức này cho
phép chuyển tiền từ nơi này sang nơi khác hoặc sang quốc gia khác
mà không phải mang tiền đi.
Rửa tiền trong các sòng bạc: Thông qua hình thức cá cược, đánh bạc,
tiền thắng bạc có thể được coi như có nguồn gốc hợp pháp.
Làm sạch: Thông qua các cá nhân để đổi đồng tiền mệnh giá như lấy
tiền có mệnh giá lớn. Đây là một cách làm phổ thông, có thể đổi ở
nhiều ngân hàng mà không gây sự nghi ngờ.
Kinh doanh hợp pháp: Bọn tội phạm tiến hành kinh doanh hoặc đầu tư
kinh doanh nhằm mục đích trộn lẫn số tiền thu được từ hoạt động phi
pháp và hoạt động kinh doanh hợp pháp. Dưới hình thức này, bọn tội
phạm mua những nhà hàng, quán bar, hộp đêm, khách sạn, quầy thu
đổi tiền, các hãng máy móc, điểm rửa xe
Ngoài ra bọn rửa tiền có thể thoả thuận với người bán tài sản ghi trên hoá
đơn giá trị thấp hơn giá trị thực tế và hối lộ khoản chênh lệch cho người bán. Bằng
cách này bọn tội phạm rửa tiền có thể mua một tài sản có giá trị lớn với giá thấp.
Sau khi giữ tài sản trên một thời gian thì bọn rửa tiền bán ra với giá trị thực của tài
sản đó hoặc cao hơn.
Đặc biệt trong xu thế phát triển thị trường tài chính mới (các công cụ phát
sinh) được củng cố và nâng cao thì các hình thức rửa tiền mới sẽ phát sinh và ngày
càng khó nhận diện. Điều này xảy ra là vì:
- Một khối lượng lớn "tiền bẩn" được dấu kín nguồn gốc.
- Chứng khoán tính lỏng cao có thể mua bán nhanh trong một thời gian
ngắn (có thể một vài lần trong một ngày làm việc).
biệt là ở những thị trường đang nổi.
1.5.2. Làm suy yếu khu vực kinh tế tư nhân.
Một trong những tác động kinh tế vi mô nghiêm trọng nhất của nạn rửa tiền
là ở khu vực tư nhân. Những kẻ rửa tiền dùng những công ty nguỵ trang để trộn lẫn
khoản tiền từ những hoạt động bất chính với những khoản tiền hợp pháp để che
dấu khoản tiền bất hợp pháp. Ví dụ như ở Hoa Kỳ, tội phạm có tổ chức đã dùng
những cửa hàng bán pizza để che đậy những khoản tiền bất chính từ buôn bán
heroin. Những công ty ngụy trang này có thể tiếp cận với những nguồn tiền bất
chính và những nguồn tiền này bao cấp toàn bộ sản phẩm và dịch vụ của công ty ở
mức độ thấp hơn tỷ giá thị trường.
Trong một số trường hợp các công ty ngụy trang này có thể đưa ra những
sản phẩm với giá thấp hơn giá thành sản phẩm. Do vậy, những công ty ngụy trang
có lợi thế cạnh tranh hơn so với những công ty hợp pháp trong thu hút vốn từ các
thị trường tài chính. Điều này làm cho các doanh nghiệp hợp pháp rất khó khăn
nếu không muốn nói là không thể cạnh tranh lại được với những công ty ngụy
trang với nguồn vốn được bao cấp, một tình huống mà các tổ chức tội phạm có thể
gây hại cho đa số các doanh nghiệp tư nhân.
Rõ ràng là sự quản lý của các công ty tội phạm này không phù hợp với
những nguyên tắc của các doanh nghiệp trong thị trường tự do truyền thống, điều
này sẽ có ảnh hưởng tiêu cực tới kinh tế vĩ mô.
1.5.3. Làm suy yếu toàn bộ thị trường tài chính.
Tổ chức tài chính dựa vào các nguồn tiền bất chính gặp nhiều thử thách
trong việc quản lý một cách thích đáng tài sản, tiền nợ và sự hoạt động của nó. Ví
dụ như một số lượng tiền lớn được rửa có thể được chuyển đến một tổ chức tài
chính nhưng sau đó lại biến mất một cách đột ngột, không thông báo qua sự
chuyển giao hữu tuyến để đối phó với những nhân tố phi thị trường như những
hoạt động nhằm thực thi luật pháp. Điều này có thể gây ra những vấn đề cho khả
năng thanh toán tiền mặt và hoạt động của các ngân hàng.
Thực tế, các hoạt động phạm tội đã liên kết với một số ngân hàng thua lỗ
trên toàn cầu, bao gồm cả ngân hàng Internet đầu tiên- Ngân hàng của khối cộng
vào các hoạt động không cần thiết phải mang lại lợi ích về kinh tế ở những nước
lưu giữ các khoản tiền của chúng. Hơn thế, sự tăng trưởng kinh tế phải bị tổn hại,
vì tội phạm rửa tiền và tài chính chuyển vốn từ những dự án đầu tư lành mạnh sang
những dự án đầu tư chất lượng thấp miễn sao chúng che dấu được các khoản tiền
bất chính. Ví dụ: như tại một số nước, các ngành công nghiệp như xây dựng và
khách sạn được cung cấp tài chính không phải do những đòi hỏi thực tế mà do
những lợi ích trước mắt của những kẻ rửa tiền. Khi những ngành này không còn
phù hợp với những kẻ rửa tiền thì chúng bị loại bỏ, gây ra những sụp đổ và những
thiệt hại khổng lồ cho những nền kinh tế không thể chịu được những tổn thất như
vậy.
1.5.6. Gây tổn hại Ngân khố quốc gia.
Nạn rửa tiền làm giảm nguồn thu từ thuế của Chính phủ, bởi vậy nó trực tiếp
làm phương hại đến những người đóng thuế chân chính. Nó cũng làm cho việc thu
thuế của Chính phủ trở nên khó khăn hơn. Nhìn chung, việc tổn hại đến ngân khố
quốc gia có nghĩa là tỷ lệ thuế cao hơn so với thông thường nếu những khoản tiền
phạm tội không phải nộp thuế là hợp pháp.
1.5.7. Gây nên rủi ro cho những nỗ lực tư nhân hoá.
Hoạt động "rửa tiền” sẽ đe doạ đối với các quốc gia muốn thực hiện cải cách
nền kinh tế của mình bằng việc thực hiện tư nhân hoá nền kinh tế. Thông qua "rửa
tiền”, các tổ chức tội phạm có nhiều tiền để trả quá cao hơn những người mua bằng
tiền hợp pháp để mua lại Doanh nghiệp Nhà nước. Kết quả là trong việc khởi đầu
của tư nhân hoá cùng với việc mang lại những lợi ích kinh tế thì chính nó là
phương tiện "rửa tiền” của bọn tội phạm.
Trước đây, những kẻ rửa tiền thường mua những bến cảng, du thuyền, khách
sạn, sòng bài và ngân hàng để che đậy những khoản tiền bất chính và để đẩy mạnh
những hoạt động tội phạm của chúng.
1.5.8. Nguy cơ tổn hại danh tiếng.
Các quốc gia không thể chấp nhận được việc tiếng tăm và những công ty tài
chính của họ bị một tổ chức rửa tiền làm ô uế, đặc biệt là trong nền kinh tế toàn
cầu ngày nay. Niềm tin vào thị trường và vào vai trò của lợi nhuận bị xói mòn do
những nước có hoạt động rửa tiền diễn ra sôi động nhất. Tuy nhiên, cùng với sự
phát triển kinh tế của thế giới thì rửa tiền không còn là vấn đề riêng của nước Mỹ
hay riêng một quốc gia nào khác nữa mà đã trở thành thách thức của của toàn cầu.
chúng ta cùng hành trình đến một số quốc gia điển hình với những ví những vụ rửa
tiền lớn đã được phát hiện như Italia, Ấn Độ, Trung Quốc, Hồng Kông, Thái Lan.
Điển hình có thể kể đến các vụ rửa tiền của Mafia Italia với doanh thu lên tới
hơn 100 tỷ Eruo/năm. Mafia có ngân quỹ chiếm 7% GDP nước này, vì vậy việc
rửa tiền khổng lồ này là một điều tất yếu.
Tại thủ đô Niu Đêli của Ấn Độ đã bắt NaretKumaGien đã bị bắt hôm
6/12/2009 bởi chịu trách nhiệm một vụ rửa tiền có quy mô lớn có khả năng
chuyển tới 1,2 tỷ USD /năm với nhiều chân rết trên khắp thế giới. Khoản tiền này
là kết quả buôn bán ma túy ở Anbani, Italia cũng như hoạt động kinh doanh bất
hợp pháp của các bang nhóm mafia ở Mỹ, các tiểu vương quốc Arập thống nhất
(UAE), Pakixtan và Anh.
Thêm một vụ nữa kéo dài suốt năm năm đã được cảnh sát Trung Quốc vạch
trần vào năm 2009. Đường dây rửa tiền bao gồm 11 người do Ruan Zhizhing đứng
đầu đã chuyển bất hợp pháp 10 tỷ NDT (khoảng 1,46 tỷ USD ) ra nước ngoài kể
từ năm 2004. Số tiền được chuyển vào 77 tài khoản do Ruan Zhizhing mở và quản
lý cho thấy đối tượng này đã chuyển 7,2 NDT trong hơn 10000 lần chuyển khác
nhau, địa điểm khác nhau trong giai đoạn từ 11/2004 đến 3/2008. Ngay sau đó các
cơ quan an ninh trung Quốc đã cho lục soát “ngân hàng đen” ở Fangchengang đã
tiếp tay cho hoạt động rửa tiền này thu giữ 70% số tiền gửi, 590 thẻ ngân hàng và
phong tỏa 327 tài khoản ngân hàng có liên quan.
Trên đây chỉ là ba trong số rất nhiều hành vi rửa tiền khổng lồ đã được đưa
ra ngoài ánh sáng. Chắc chắn số lượng phi vụ chưa bị phát hiện còn lớn hơn rất
nhiều. Qua đó có thể thấy bọn tội phạm rửa tiền đang hoành hành ở khắp mọi nơi
với vô số thủ đoạn tinh vi xảo quyệt.
1.7. Văn bản pháp luật về chống rửa tiền.
Nhằm đảm bảo hiệu quả và nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, tổ
chức, cá nhân trong công tác phòng ngừa, xử lý hành vi rửa tiền. Luật phòng,
dịch đáng ngờ gửi NHNN Việt Nam và có thể từ chối giao dịch đó.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG RỬA TIỀN Ở VIỆT NAM
–TRỞ NGẠI CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ.
2.1. Khái quát chung hoạt động rửa tiền tại Việt Nam.
“Rửa tiền” là hình thức phạm tội mang tính chất quốc tế. Nó sẵn sàng thâm
nhập vào các quốc gia và gây tổn hại đến quốc gia, đặc biệt là những quốc gia mà
việc kiểm soát hoạt động này còn chưa chặt chẽ, trong đó có Việt Nam.
Ở nước ta “rửa tiền” cũng tồn tại dưới nhiều hình thức nhưng chủ yếu là qua
hoạt động kinh doanh và qua hệ thống ngân hàng. Phần lớn các đồng tiền phi pháp
qua hệ thống ngân hàng đều trở thành tiền sạch. Vì thế mà người ta gọi hệ thống
ngân hàng là cỗ máy rửa tiền (money – laundering machine) cho bọn tội phạm.
Rửa tiền là hình thức tội phạm có tổ chức và gây nhiều tác hại lớn cho nền kinh tế
vì nó tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động tội phạm, đặc biệt là buôn lậu, bành
trướng hoạt động. Các nước sẽ phải chịu những khoản tổn thất khổng lồ vì các tội
phạm đó. Như trên đã nói, rửa tiền còn làm suy yếu và ảnh hưởng đến thanh danh
của hệ thống tài chính ngân hàng.
Trong một vụ án tham nhũng xét xử năm 1999 ở Việt Nam, các cơ quan
pháp luật đã phát hiện hai nhân vật trọng tâm của vụ án có tài khoản ở nước ngoài.
Mới đây, Ngân hàng đầu tư và phát triển đã nhận được e-mail từ Nigeria yêu cầu
ngân hàng mở tài khoản để nhận 28 triệu USD, bù lại sẽ nhận được 15% của số
tiền này. Trong vụ án ngân hàng Cổ phần Nông thôn Thanh Hoá, khi bị phanh phui
thì các cơ quan chức năng đã phát hiện có tới 20 tờ séc – mỗi tờ trị giá một triệu
USD của các ngân hàng nước ngoài gửi vào tài khoản của ngân hàng này và giả
thiết được đưa ra là ngân hàng này đã cho bọn tội phạm quốc tế mượn tư cách pháp
nhân để rửa tiền.
Tổ chức cảnh sát quốc tế Interpol trong một cảnh báo mới đây với Chính
phủ Việt Nam, đã cho rằng, Việt Nam đang trở thành một trong những đích nhắm
của bọn tội phạm quốc tế trong việc hình thành những đường dây rửa tiền xuyên
quốc gia. Báo chí và các cơ quan chức năng đã từng lên tiếng cảnh báo các doanh
nghiệp Việt Nam về âm mưu rửa tiền của các tổ chức tội phạm quốc tế thông qua
Thứ hai: Rửa tiền thông qua việc mua vàng, bạc, kim cương…là những
tài sản gọn nhẹ, có giá trị cao, có thể mua đi bán lại ở mọi nơi, mọi thời
điểm
Đây là phương thức rửa tiền được bọn tội phạm sử dụng nhiều nhất do
cách thức đơn giản, dễ thực hiện, nhưng lại dễ bị cơ quan điều tra phát
hiện.
Thứ ba: Rửa tiền thông qua đầu tư vào gửi tiết kiệm, mua tín phiếu, trái
phiếu
Bọn tội phạm sẽ gửi tiết kiệm vào ngân hàng hoặc mua tín phiếu, trái
phiếu… làm cho đồng tiền nằm im trong một thời gian phù hợp với luật
định. Sau đó, người gửi có thể rút ra toàn bộ gốc và lãi hoặc rút một
phần, biến số tiền đó thành tiền hợp pháp.
2.2.2. Hoạt động thông qua thị trường bất động sản.
Cùng với thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản cũng là một mảnh
đất màu mỡ cho tội phạm rửa tiền phát triển. Hiện nay, có không ít người giàu sở
hữu nguồn tiền không sạch luôn chọn bất động sản là kênh rửa tiền. Theo Bộ Xây
dựng, nạn rửa tiền trên lĩnh vực bất động sản đang là vấn đề mới, phức tạp, đáng
quan tâm tại Việt Nam. Hiện tại, đã xuất hiện tình trạng nhiều sàn bất động sản
hoạt động thiếu minh bạch để trục lợi. Một số chuyên gia kinh tế cho rằng thực
trạng một số lượng lớn nhà và biệt thự bị bỏ hoang (42% theo như Báo cáo của Bộ
Xây dựng qua việc kiểm tra 18 dự án phát triển nhà ở khu đô thị mới trên địa bàn
Hà Nội) trong khi nhu cầu nhà ở trong dân cư đang hết sức bức xúc là minh chứng
cho việc thị trường bất động sản đang bị giới đầu cơ lũng đoạn. Cuối năm 2007, thị
trường bất động sản đột ngột tăng chóng mặt với hình ảnh tiêu biểu là những vụ
chen lấn nhau mua căn hộ cao cấp tại TP.HCM từ căn hộ The Manor, Phú Mỹ
Hưng, The Mansio, sau đó là The Vista đến Sky Garden với giá bán được đẩy từ
1600 USD lên đến 2800 USD chỉ trong vài ngày. Đặc biệt, từ đầu tháng 3/2011