mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp - Pdf 23

MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường thất nghiệp và lạm phát là vấn đề quan tâm đặc biệt
không chỉ với những nhà hoạch định chính sách ở tầm vĩ mô mà còn là mối quan tâm rất
lớn của người dân bởi tầm quan trọng của nó, và điều này ảnh hưởng trực tiếp tới thu
nhập việc làm và đời sống của mọi tầng lớp trong xã hội. Có thể nói lạm phát và thất
nghiệp là thước đo thành tựu của một nền kinh tế của một quốc gia.
Lạm phát và thất nghiệp nếu ở chừng mực vừa phải và phát huy tác dụng tích cực là
nhân tố giúp cho ổn định và phát triển kinh tế, trái lại nó sẽ gây đình đốn trong sản xuất.
Ở Việt Nam vào những năm 1989 cho thấy tình trạng lạm phát rất nghiêm trọng và
nghiêm trọng hơn với mức tăng giá 3 chữ số, năm cao nhất đạt chỉ số giá 557% vượt qua
lạm phát phi mã với chỉ số trên tác hại và biểu hiện của nó không kém gì siêu lạm phát
cũng có thể nói là siêu lạm phát. Đời sống nhân dân khổ cực khó khăn, hàng hoá ngày
càng khan hiếm giá cả đắt đỏ, thị trường rối loạn.
Sau năm 1989 với quyết tâm của Đảng và Chính phủ với những đổi mới tích cực
trong hệ thống kinh tế như hệ thống ngân hàng và những thay đổi của chính sách tiền tệ.
Chúng ta đã có những bước đầu thành công không những kiềm chế lạm phát ở mức thấp
mà vẫn đảm bảo ổn định kinh tế cao giải quyết công ăn việc làm cho người lao động.
Tuy nhiên, đây chỉ mới là những thành công bước đầu chưa ổn định. Trong hoàn
cảnh nền kinh tế nước ta còn non yếu cho việc nghiên cứu về lạm phát và thất nghiệp
cũng như mối quan hệ giữa chúng trở thành điều hết sức quan trọng.
Từ việc nghiên cứu mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp trong ngắn hạn qua
đường cong Philips của A.William Phillips đến mối quan hệ giữa chúng trong dài hạn ở
Việt Nam sẽ diễn biến như thế nào để có thể nhận định một cách đúng đắn bản chất thật
của mối quan hệ này. Qua đó giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra những chính
sách kinh tế vĩ mô hợp lý và kịp thời để giải quyết khó khăn không chỉ trong ngắn hạn
mà có thể duy trì lâu dài nền kinh tế bền vững.
Vì những lí do trên mà nhóm 3-DHTN7TH đã chọn đề tài “Mối quan hệ giữa lạm
phát và thất nghiệp” để tìm hiểu. Nhóm đã có rất nhiều cố gắng để hoàn thành bài tiểu
luận này nhưng vẫn không thể tránh khỏi những thiếu sót mong sẽ được sự góp ý của
thầy Nguyễn Dụng Tuấn và các bạn để bài tiểu luận của nhóm 3 được hoàn chỉnh hơn.
Chúng em chân thành cảm ơn!

-Tỷ lệ lạm phát được tính như sau:
Trong đó : g
p
(nL) - tỷ lệ lạm phát (%)
I
p1
- chỉ số giá cả của thời kỳ nghiên cứu.
I
p0
- chỉ số giá cả thời kỳ trước đó được chọn làm gốc để so sánh
1.3. Phân loại lạm phát
1.3.1.Căn cứ quy mô lạm phát
-Lạm phát vừa phải (một chữ số): tỷ lệ lạm phát dưới 10% một năm. Giá tăng chậm,
đồng tiền tương đối ổn định.
gp
I
p1
I
p0
=
x100- 1)
(
-Lạm phát phi mã( ba chữ số): tỷ lệ 10% - 999%. Khi lạm phát phi mã ở mức cao thì tiền
mất giá nhanh, gây tác động không tốt đối với sản xuất và đời sống.
-Siêu lạm phát (trên ba chữ số): từ 1000% trở lên. Loại này gây tác hại nghiêm trọng đối
với nền kinh tế.
1.3.2.Căn cứ vào thời gian lạm phát.
- Lạm phát kinh niên thường kéo dài trên 3 năm với tỷ lệ lạm phát đến 50%
một năm.
- Lạm phát nghiêm trọng thường kéo dài trên 3 năm, với tỷ lệ lạm phát trên 50% một

nhân gây ra và duy trì, thúc đẩy lạm phát.
1.5.1. Lạm phát cầu kéo.
Diễn ra khi tổng cầu tăng, đường tổng cầu theo giá dịch chuyển sang bên phải.
Trong thực tế, khi xảy ra LP cầu kéo người ta thường nhận thấy lượng tiền trong lưu
thông và khối lượng tín dụng tăng đáng kể và vượt quá khả năng có giới hạn của mức
cung hàng hoá.Kết quả là nền kinh tế sảy ra lạm phát và có tăng trưởng.lạm phát và tăng
trưởng cùng chiều.
1.5.2.Lạm phát do cung (lạm phát do chi phí đẩy)
Nguyên nhân dẫn đến lạm phát này là do chi phí sản xuất trong nền kinh tế gia tăng và
năng lực quốc gia bị giảm sút.
Đồ thị minh họa :

Hình 1: Do chi phí sản xuất Hình 2: Do năng lực quốc gia
• Do chi phí sản xuất tăng lên : AS
s
dịch chuyển sang trái kết quả gây ra lạm phát
vừa bị suy giảm kinh tế .Lạm phát và thất nghiệp có quan hệ cùng chiều (hình 1)
• Năng lực quốc gia giảm, có thể do giảm sút nguồn nhân lực, nguồn vốn; do sự gia
tăng trong tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên; do chiến tranh hay thiên tai nghiêm trọng.
Tác động này làm AS và AS
L
dịch sang trái cùng với mức giảm của sản lượng tiềm
năng .( hình 2)
AS
L
AS
S
E1
P
Y


1.5.4.Lạm phát do tiền tệ.
-Lượng tiền phát hành quá nhiều trong lưu thông gâ y ra mất cân đối giữa cung
tiền và cầu tiền
Trong chương 5 nghiên cứu lý thuyết số lượng tiền tệ và đã biết đẳng thức
(M/P) = LP (i,Y) khi thị trường tiền tệ cân bằng.
Xét trong dài hạn lãi suất thực tế (i) và sản lượng thực tế (Y) đạt mức cân bằng,
nghĩa là (i) và (Y) là ổn định (Y đạt tiềm năng = Y
P
), cầu tiền thực tế là không đổi và do
vậy M/P cũng sẽ không thay đổi. Điều đó có nghĩa là nếu lượng cung tiền danh nghĩa
(M) tăng lên thì giá cả (P) cũng tăng với tỷ lệ tương ứng, nói cách khác tỷ lệ lạm phát sẽ
bằng tỷ lệ tăng tiền. Như vậy, lạm phát là một hiện tượng tiền tệ.
1.5.5. Lạm phát do nhập khẩu quá nhiều .
ASL
AS
S1
E
2
P
Y

Y
*
P1
0
AD
1
E1
P

II.THẤT NGHIỆP.
2.1. Khái niệm .
- Một người được coi là thất nghiệp khi :
+ Trong độ tuổi lao động
+Có khả năng ,có nhu cầu lao động
+Không tìm được việc làm, việc làm không ổn định.
-Lực lượng lao động là tổng của số người có việc làm và số người thất nghiệp.
2.2. Các chỉ tiêu thể hiện tình trạng thất nghiệp
2.2.1.Số người thất nghiệp
Được tính theo 2 cách:
- Thống kê theo các dấu hiệu thất nghiệp
Dân số
Lực lượng lao động Có việc
Thất nghiệp
Ngoài lực lượng lao

động ("ốm đau, nội trợ,
Ngoài độ tuổi
lao động
- Tính từ lực lượng lao động xã hội và người có việc làm:
Số người thất nghiệp = Tổng lực lượng lao động xã hội – số người trong danh sách
lao động của các đơn vị lao động
2.2.2. Tỷ lệ thất nghiệp
Để đo lường mức thất nghiệp trong nền kinh tế chúng ta sử dụng chỉ tiêu “ tỷ lệ thất
nghiệp”:
Tỷ lệ thất nghiệp(%) =
Số người thất nghiệp
nghiệp
Lực lượng lao động
x100

b. Thất nghiệp cơ cấu (gọi là thất nghiệp bất tương xứng).
Xảy ra khi có sự mất cân đối về mặt cơ cấu giữa cung và cầu về lao động. Đây là
loại thất nghiệp gắn với sự biến động cơ cấu kinh tế và khả năng điều chỉnh cung trên thị
trường lao động.Sự mất cân đối này có thể xảy ra do 2 nguyên nhân: thiếu kĩ năng và
khác biệt về nơi cư trú….
c. Thất nghiệp chu kỳ (còn gọi là thất nghiệp do thiếu cầu, thất nghiệp theo thuyết
Keynes).
Là loại thất nghiệp được tạo ra bởi tình trạng suy thoái nền kinh tế, sản lượng tụt
xuống thấp hơn số lượng thất nghiệp.
Do tổng cầu về hàng hoá và dịch vụ sụt giảm, buộc các doanh nghiệp phải sản xuất
ít hơn, thậm chí có khi phải đóng cửa. Vì vậy, doanh nghiệp sẽ phải sa thải công nhân,
tạo nên thất nghiệp hàng loạt. Đặc điểm cơ bản để phần biệt thất nghiệp chu kỳ với các
loại thất nghiệp khác là mức thất nghiệp gần như ở khắp mọi nơi.
d. Thất nghiệp theo lí thuyết cổ điển
Xảy ra khi các yếu tố ngoài thị trường gây ra, khi tiền công được ấn định cao hơn
mức tiền công cân bằng.
Do sự không linh hoạt của tiền lương chủ yếu do việc quy định mức lương tối thiểu
của người lao động.
2.3.4.Phụ thuộc vào mối quan hệ cung - cầu lao động.
a) Thất nghiệp tự nguyện
Chỉ những người "tự nguyện" không muốn làm việc, do việc làm và mức lương
tương ứng chưa hoà hợp với mong muốn của mình.
b.Thất nghiệp không tự nguyện
Là thất nghiệp do thiếu cầu xảy ra khi tổng cầu sụt giảm, sản xuất bị đình trệ, mất
việc,….
2.3.5.Thất nghiệp tự nhiên.
Là loại thất nghiệp khi thị trường lao động cân bằng.
2.4. Tác hại của thất nghiệp
* Đối với cá nhân người lao động:
 Giảm thu nhập.

đến khái niệm “đánh đổi”. Đánh đổi có nghĩa là được cái này mất cái kia, chọn cái này
phải bỏ cái kia. A.W. Phillips đã phát hiện ra rằng thất nghiệp giảm thì lương có khuynh
hướng tăng, lương tăng sẽ làm tăng giá. Như vậy, thất nghiệp giảm sẽ kéo theo tình
trạng lạm phát tăng. Phát hiện này đã dẫn đến một luận điểm cho rằng giữa lạm phát và
thất nghiệp có sự đánh đổi với nhau. Vậy thì sự đánh đổi này được thể hiện như thế nào?
Có phải luôn xảy ra tình trạng đánh đổi không?
3.1. Đường Phillips ban đầu.
Dựa vào kết quả thực nghiệm nhiều năm về tiền lương, giá cả, thất nghiệp ở Anh
ra đời đường Phillips ban đầu.
Đường này cho thấy mối quan hệ nghịch giữa thất nghiệp và lạm phát và nó cũng
phù hợp với thực tế kinh tế nhiều nước Tây Âu thời kỳ những năm 50. Tức là có sự
“đánh đổi” giữa lạm phát và thất nghiệp.
Đường Phillips được xây dựng hoàn chỉnh và có dạng như sau:
Gp = - ε (u - u
*
) (*)
Trong đó: gp - tỷ lệ lạm phát.
U - tỷ lệ thất nghiệp thực tế.
U
*
- tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên.
ε - độ dốc đường Phillips.
Đường này cho thấy những đặc điểm sau đây (hình a):
- Lạm phát bằng không khi thất nghiệp thực tế bằng tỷ lệ tự nhiên.
- Khi thất nghiệp thực tế thấp hơn thất nghiệp tự nhiên thì lạm phát xảy ra.
- Độ dốc ε càng lớn thì một sự tăng, giảm nhỏ của thất nghiệp sẽ gây ra sự tăng, giảm
đáng kể về lạm phát. Độ lớn của ε phản ánh sự phản ứng của tiền lương. Nếu tiền lương
có độ phản ứng mạnh thì ε lớn, nếu có tính ì cao thì ε nhỏ (đường Phillips sẽ xoay
ngang). Nếu đường Phillips gần như nằm ngang thì lạm phát phản ứng rất kém với thất
nghiệp.

1
P
1
A
D
Y
2
E
2
P
2
A
S
S
2
Hình c: Năng lực quốc gia
giảm
AS
L
AS
S1
E
1
P
Y
Y
1
P
1
A

pc
1
⇒ pc
2
. Tại e, gp ≠0 do gp = gp
e
.
Riêng các cơn sốt cung (như tăng giá dầu lên) sẽ đẩy chi phí sản xuất và giá cả lên,
sản lượng và việc làm giảm xuống. Như vậy, cả thất nghiệp và lạm phát tăng lên - không
có sự đánh đổi giữa thất nghiệp và lạm phát trong ngắn hạn - đó là thời kỳ đình trệ.
Đồ thị:
3.3. Đường Phillips dài hạn (LPC)
Trong ngắn hạn, tỷ lệ thất nghiệp thực tế có thể không bằng tỷ lệ thất nghiệp dự
kiến, nhưng trong dài hạn chúng sẽ bằng nhau bởi sự tác động của các chính sách tài
khoá và tiền tệ. Đó là cơ sở để xây dựng đường Phillips dài hạn:
0= - ε (u-u
*
)
Hay: u = u
*
Như vậy, tỷ lệ thất nghiệp thực tế luôn bằng tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên (xét trong
dài hạn) cho dù tỷ lệ lạm phát thay đổi như thế nào. Vậy trong dài hạn lạm phát và thất
nghiệp không có mối quan hệ với nhau.
u
gp
u
*
Hình b: Đường Phillips mở rộng
PC
1

phát cao bởi giá dầu tăng kỷ lục đã khiến giá xăng và dầu đốt nóng tăng cao. Theo thông
báo của Bộ lao động Mỹ, tháng 11 /2009, giá tiêu dùng ở Mỹ tăng 0,4% so với tháng 10.
Tính chung cho cả năm 2011, lạm phát tại Mỹ tăng 3%, tăng mạnh so với mức tăng
chỉ 1,5% trong năm 2010 và là năm có mức lạm phát cao nhất kể từ năm 2007. Chỉ số
lạm phát lõi cũng ghi nhận mức tăng cao nhất trong vòng 4 năm, đạt 2,2%. Tuy nhiên, so
với mức lạm phát đỉnh điểm 3,9% hồi tháng 9, lạm phát tại nền kinh tế lớn nhất thế giới
đang hạ nhiệt một cách rõ rệt.
1.2. Thất nghiệp
Châu Á
Theo tổ chức lao động quốc tế ILO, cuối năm 2009 có 12,8 triệu thanh niên ở khu vực
Đông Á thất nghiệp, ở Đông Nam Á và Thái Bình Dương là 8,3 triệu và 15,3 triệu người
ở Nam Á. Tỷ lệ này tại Đông Nam Á và Thái Bình Dương được dự đoán sẽ đạt đỉnh
14,8% trong năm nay, tại Nam Á và Đông Á là 10,3% và 8,4%.
Tại Trung Quốc, Bộ trưởng Bộ an sinh xã hội và nhân lực Doãn Uý Dân cho biết tình
hình việc làm ở nước này rất đáng lo ngại, thất nghiệp đã ở mức nghiêm trọng (trong 2
tháng cuối năm 2008, có hàng chục nghìn nhà máy, công xưởng ở Trung Quốc phải đóng
cửa và ít nhất 2,7 triệu lao động không có việc làm). Chỉ riêng trong tháng 1/2009, tỉnh
Quảng Đông vốn được đánh giá là trung tâm của ngành công nghiệp chế biến của Trung
Quốc, phải đóng cửa tới 1/5 số nhà máy trên địa bàn.
Tại Nhật Bản, tháng 12/2008, tỷ lệ thất nghiệp tăng thêm 0,5%. Những tập đoàn tên
tuổi như Sony, Toshiba, Toyota thi nhau công bố các kế hoạch cắt giảm nhân viên. Tập
đoàn viễn thông NEC cũng đã thông báo cắt giảm khoảng 20.000 việc làm trên toàn thế
giới trong năm 2009, sau khi thua lỗ đến gần 2,5 tỷ USD trong năm tài khoá 2008 –
2009. Hãng điện tử Hitachi cũng cho biết, do tác động trực tiếp của khủng hoảng, hàng
bán ra không có người mua nên phải cho 7.000 nhân viên nghỉ việc.
Châu Âu:
Trong toàn khu vực EU 27, có khoảng 23,8 triệu người không có việc làm, trong đó
tại tám nước hơn 30% thanh niên dưới 25 tuổi thất nghiệp. Ðứng đầu danh sách có tỷ lệ
thất nghiệp cao là Tây Ban Nha (23%) và Hy Lạp (20%). Chỉ ba nước gồm Áo, Luých-
xăm-bua và Hà Lan có tỷ lệ thất nghiệp dưới mức 5%. Tại khu vực đồng ơ-rô

Nhiều loại hàng hoá có ảnh hưởng mạnh trong rổ hàng hoá để tính CPI tăng thấp. Chỉ số
CPI lương thực tăng nhẹ trong 6 tháng đầu năm 2009 (0,59%) nhưng lại có xu hướng
giảm trong những tháng cuối năm 2009.
Như vậy, nếu như lương thực, thực phẩm luôn là đầu tàu kéo lạm phát đi lên trong
những năm 2007 và 2008 thì ở năm 2009 nhân tố này không còn đóng
vai trò chính nữa.
Biểu đồ 4: Diễn biến chỉ số CPI theo tháng giai đoạn 2008 - 2010
Duy trì tốc độ tăng lạm phát và giá cả của năm 2009 ở mức một con số là một điểm
sáng nữa trên bức tranh kinh tế Việt Nam trong bối cảnh kinh tế thế giới chưa thoát khỏi
suy thoái kinh tế. Thành tựu kiềm chế lạm phát trong năm 2009 có tác động tích cực đến
ổn định kinh tế - xã hội cũng như tạo thuận lợi cho việc triển khai các chính sách kích
thích kinh tế nhằm thúc đẩy tăng trưởng và đảm bảo an sinh xã hội. Mặc dù xu hướng
tăng của giá tiêu dùng chưa có biểu hiện rõ rệt, nhưng một số yếu tố chủ yếu có thể sẽ tác
động làm tăng nguy cơ tái lạm phát cao trở lại. Đó là tăng trưởng tín dụng đang ở mức
cao do thực hiện các chính sách tài chính, tiền tệ nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế; giá
của các mặt hàng nước ta nhập khẩu với khối lượng lớn trên thị trường thế giới bắt đầu
có xu hướng tăng cao do sự phục hồi của kinh tế toàn cầu, đặc biệt giá xăng dầu.
Năm 2010 lạm phát có những diễn biến phức tạp. Từ đầu năm đến cuối tháng 8 chỉ số
giá tiêu dùng diễn biến theo chiều hướng ổn định ở mức tương đối thấp, trừ hai tháng đầu
năm CPI ở mức cao do ảnh hưởng bởi những tháng tết. Tuy nhiên, lạm phát đã thực sự
trở thành mối lo ngại từ tháng 9 khi CPI tăng bắt đầu xu hướng tăng cao. Đến hết tháng
11, chỉ số giá tiêu dùng đã tăng tới 9,58% và mục tiêu kiềm chế lạm phát cả năm dưới
8% mà Quốc Hội đề ra sẽ không thực hiện được.
Lạm phát và giá cả của năm 2010 tăng cao xuất phát từ nhiều nguyên nhân:
Thứ nhất, sự phục hồi của nền kinh tế làm cho nhu cầu các loại hàng hóa dịch vụ đều
tăng cao, cộng với thiên tai, lũ lụt ở các tỉnh miền trung lại càng làm tăng nhu cầu về
lương thực, thực phẩm, vật liệu xây dựng…
Thứ hai, giá của một số mặt hàng nhập khẩu của nước ta trên thị trường thế giới tăng
lên do sự phục hồi của kinh tế toàn cầu làm tăng chi phí sản xuất của nhiều doanh nhiệp.
Thứ ba, việc điều chỉnh tỷ giá làm đồng tiền nội tệ mất giá làm cho chi phí nhập

2.2. Thất nghiệp tại Việt Nam.
Thất nghiệp đang là nỗi sợ hãi của mỗi quốc gia trên thế giới, đặc biệt là từ cuộc
khủng hoảng năm 2008. Thất nghiệp trở thành mối quan tâm nóng bỏng toàn cầu, vượt
xa mọi vấn đề lo lắng thông thường khác, kể cả cái đói nghèo, nhất là khi khủng hoảng
kinh tế, tài chính gõ cửa đến từng hộ gia đình.
Tình trạng thất nghiệp cao trong giới trẻ là một trong những nguyên nhân gây ra tệ
nạn xã hội nghiêm trọng hiện nay. Tỷ lệ thanh niên thất nghiệp và thiếu việc làm tăng
cao tỷ lệ thuận với con số các vụ án được xét xử do tòa án công bố: số thanh niên phạm
tội hình sự ngày càng tăng, số thống kê chưa đầy đủ cũng đã cho thấy trên 60% người
phạm tội hình sự ở trong độ tuổi thanh niên từ 15-30.
Việt Nam chúng ta có thể nói là nước có tỉ lệ thất nghiệp khá cao đặc biệt là trong độ
tuổi lao động. Theo tổng cục thống kê Việt Nam, xét riêng về tỷ lệ thất nghiệp của Việt
Nam so với khu vực thì chúng ta đứng ở mức trung bình với 2,27%, nhưng tỷ lệ thiếu
việc làm lại ở tỷ lệ cao là 3.34% (năm 2011). Theo số liệu này thì tình trạng thất nghiệp
và thiếu việc làm ở Việt Nam đã giảm so với những năm trước. Tuy nhiên, ngày càng
nhiều lao động thành thị rơi vào tình trạng phải làm những công việc không phù hợp
hoặc không làm việc đủ thời gian cần thiết để có thu nhập đủ sống.
Cơ cấu ngành nghề chưa phù hợp, cũng như mức lương chưa phù hợp với các công
việc cũng là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng thất nghiệp như hiện nay.
Biểu đồ 6:Cơ cấu lao động phân theo nhóm ngành
Biểu đồ trên cho thấy tỉ lệ lao động giữa các nhóm ngành qua các năm có sự thay đổi
tuy nhiên không đáng kể. Tỉ lệ lao động tham gia vào khối ngành nông lâm thủy hải sản
là cao nhất. Đang có sự chuyển dịch lao động từ các ngành nông nghiệp sang các ngành
công nghiệp và dịch vụ…
Nước ta là nước có tỉ lệ dân số tăng khá nhanh trong khu vực cũng như trên thế giới.
Theo số liệu mới nhất thì dân số Việt Nam năm 2011 lên đến con số 87.84 triệu người dự
báo trong vài năm tới dân số Việt Nam có thể lên tới con số 100 triệu người. Dân số ngày
càng tăng trong khi đó diện tích đất nông nghiệp ngày càng giảm đi, như vậy thì tỉ lệ thất
nghiệp sẽ ngày càng cao hơn. Năm 2008, dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính
và suy thoái kinh tế toàn cầu, theo Bộ lao động, tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam vào

cũng trong năm 2011 tỉ lệ thất nghiệp có xu hướng giảm so với năm 2010 nhưng vẫn còn
khá cao (2.27%). Tại Việt Nam, với lãi suất cho vay đang ở mức cao, nhiều doanh
nghiệp đang trì hoãn hoặc không muốn mở rộng đầu tư. Lượng dịch vụ và hàng hóa được
Năm
Tỷ lệ thất nghiệp (%) Tỷ lệ thiếu việc làm (%)
Chung
Thành
thị
Nông
thôn
Chung
Thành
thị
Nông
thôn
2008 2,38 4,65 1,53 5,10 2,34 6,10
2009 2,90 4,60 2,25 5,61 3,33 6,51
2010 2,88 4,29 2,30 3,57 1,82 4,26
2011 2.27 3.6 1.71 3,34 1.82 3.96
sản xuất vì thế mà càng co hẹp lại. Điều này chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến số việc làm
được duy trì hay tạo mới.
Trong những năm qua nhà nước tiếp tục thực hiện nhiều chính sách vĩ mô nhằm kiềm
chế lạm phát, tạo công ăn việc làm, nhằm tăng trưởng bền vững nền kinh tế. Tuy nhiên,
tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế vẫn còn, năng lực quản lý vĩ mô của nhà nước
còn nhiều bất cập, những chính sách vĩ mô thực hiện đi vào thực tế hiệu quả còn chưa
cao do đó để đạt được mục tiêu tăng trưởng bền vững trong thời gian tới cần có nhiều sự
cố gắng cả về phía vĩ mô của nhà nước cũng như sự đoàn kết của toàn dân trong đó có bộ
phận doanh nghiệp là rất quan trọng.
2.3.2. Sự đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp ở Việt Nam trong ngắn hạn.
Như những nhìn nhận chung về mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp ở Việt

1997) để tạo số vốn từ phát hành tiền lên 3235,71 tỷ NDT (tương đương 383,2 tỷ USD),
giúp tăng trưởng GDP 3,23 lần và 3 lần tăng lương, trở thành cường quốc kinh tế thứ tư
trên thế giới.
Thứ hai: Ở Việt Nam, với xuất phát điểm từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, trình
độ phát triển kinh tế thấp việc sử dụng lạm phát như một công cụ để tránh nguy cơ tụt
hậu sẽ rất có ý nghĩa. Việc tận dụng lạm phát và vận dụng một cách khoa học ở Việt
Nam – vừa đảm bảo tỷ lệ lạm phát ở mức có thể kiểm soát đồng thời đảm bảo mục tiêu
tăng trưởng và các mục tiêu tạo công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp là một việc hết
sức quan trọng. Lạm phát tạo ra nguồn vốn cực rẻ cho nền kinh tế, giúp nền kinh tế vượt
qua khủng hoảng, nền kinh tế vượt qua được khủng hoảng là điều kiện tiền đề cho sự
phát triển của các thành phần kinh tế và từ đó có tác dụng to lớn đối với việc tạo ra công
ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Và thực tế đã chứng minh bằng thành công vượt qua
các cuộc khủng hoảng kinh tế trên thế giới của Việt Nam.
Thứ ba:Trong điều kiện kinh tế toàn cầu hậu khủng hoảng phục hồi chậm, nhưng
kinh tế Việt Nam đã sớm ra khỏi tình trạng suy giảm, từng bước phục hồi và tăng trưởng
khá nhanh.
Năm 2007 2008
200
9 2010 2011
Tỉ lệ lạm phát
12.6
0 19.89 6.52 11.75 18.58
Tỉ lệ thất nghiệp khu vực thành thị 4.64 4.65 4.60 4.29 3.60
Tăng trưởng kinh tế 8.64 6.32 5.32 6.78 5.89
Bảng4: Thống kê tình hình lạm phát, thất nghiệp và tăng trưởng GDP Việt
Nam(2007-2011) (Đơn vị: %)
Biểu đồ 8: Mối quan hệ của lạm phát và thất nghiệp
đến tăng trưởng GDP Việt Nam
Biểu đồ: Tăng trưởng GDP của các khu vực kinh tế từ 2000-2010
Chỉ số CPI tăng mạnh trong năm 2010, 2011 là tổng hòa của các nhân tố như thiên

cao làm giảm sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam. Khi lạm phát cao mà tỷ
giá cứng nhắc sẽ làm cho hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam (kể cả tiêu thụ
trong nước và xuất khẩu) trở nên đắt đỏ hơn so với hàng nhập khẩu. Điều này làm cho
một lượng hàng hóa ít hơn sẽ được sản xuất ra trong nền kinh tế Việt Nam và sức cạnh
tranh của các doanh nghiệp Việt Nam bị giảm sút.
Bên cạnh đó, việc nền kinh tế quá mở: kim ngạch nhập khẩu có lúc chiếm tới
80% GDP, gây ra nhập siêu là một căn nguyên dẫn tới lạm phát.
Nói chung tình trạng phân bổ nguồn lực cộng với chính sách điều hành tỷ giá như
trên đã dẫn đến sự mất cân bằng kép trong nền kinh tế mà nó thể hiện bởi thâm hụt
thương mại, thâm hụt ngân sách luôn dai dẳng và trầm trọng hơn cùng với lạm phát luôn
ở mức rất cao.
3.1.2 Lạm phát do cầu kéo
Bao gồm nhiều yếu tố liên quan đến quan hệ cung- cầu , quan hệ đến tiền – hàng
với các giải pháp tăng cung (tăng thêm khối lượng hàng hóa, chủng loại hàng hóa),
đồng thời phân phối hàng hóa đến người sử dụng kịp thời, đúng lúc, đúng địa chỉ ,
giảm lượng tiền mà xã hội sử dụng vào mục đích tiêu dùng. Xét tổng quát là sản xuất
trong nước chưa đủ cho đầu tư và tiêu dùng cuối cùng, hay đầu tư và tiêu dùng vượt
qua sản xuất lên đến trên dưới 10% hàng năm, phải nhập siêu, phải vay nợ từ nước
ngoài để bù đắp. Khi tổng cầu vượt quá tổng cung thì Việt Nam không chỉ ở vị thế nhập
siêu, mà còn rất dễ rơi vào lạm phát cao, nếu có sự bất ổn ở bên ngoài (khủng hoảng,
lạm phát ) và có trục trặc ở bên trong (thiên tai, dịch bệnh, bất ổn vĩ mô ).
Tiêu dùng cuối cùng/GDP của Việt Nam cao và tăng lên, có một phần do quy
mô GDP bình quân đầu người thấp, có một phần do tiêu dùng có xu hướng tăng lên;
nhưng có một phần do đã xuất hiện tình trạng “ăn chơi sớm” và chuộng hàng ngoại của
một bộ phận dân cư.
Do đầu tư và tiêu dùng cuối cùng vượt xa so với GDP, nên nhập siêu tăng lên
qua các thời kỳ (thời kỳ 1996-2000 mới gần 9,4 tỷ USD, đã tăng lên trên 19,1 tỷ USD
thời kỳ 2001-2005 và tăng lên gần 62,8 tỷ USD thời kỳ 2006-2010).
Trong tình trạng thiếu hụt nguồn cung, phải nhập khẩu từ nước ngoài, trong đó
đáng lưu ý có các mặt hàng mà một nước đi lên từ nông nghiệp phải nhập khẩu lớn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status