Đánh giá đa dạng di truyền loài Thông đỏ bắc (Taxus chinensis (Pilg.) Rehd.) đang bị đe dọa trong hệ sinh thái rừng nhiệt đới Việt Nam - Pdf 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
o0o VŨ ĐÌNH DUY
ĐÁNH GIÁ ĐA DẠNG DI TRUYỀN LOÀI THÔNG ĐỎ BẮC
(TAXUS CHINENSIS (PILG.) REHD.) ĐANG BỊ ĐE DỌA
TRONG HỆ SINH THÁI RỪNG NHIỆT ĐỚI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Mã số: 60. 42. 0114 LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS. NGUYỄN MINH TÂM


quá trình học tập, thực hiện nghiên cứu và hoàn thiện luận văn.
Để hoàn thành bản luận văn này, tôi chân thành cảm ơn Phòng thí nghiệm
trọng điểm Công nghệ gen, Viện Công nghệ sinh học; phòng Hệ thống học phân
tử và Di truyền bảo tồn, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh; Ban lãnh đạo các
khu Bảo tồn và vườn Quốc gia và chính quyền địa phương đã tạo điều kiện cho
chúng tôi thực hiện đề tài.
Luận văn được thực hiện bởi Dự án BVMT.VAST: “Bảo tồn và sử dụng
bền vững một số loài thông quý hiếm có giá trị kinh tế cao đang bị đe dọa tuyệt
chủng và khu hệ nấm nội ký sinh có ích trong các loài nghiên cứu” và sự hỗ trợ
bởi học bổng Nagao – Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên Môi trường (CRES),
Việt Nam.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình đã luôn động viên, khích lệ
và là chỗ dựa vững chắc cho tôi hoàn thành khóa luận này.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
ADN
Axit deoxyribonucleit (Deoxyribonucleic acid)
AFLP
Đa hình độ dài các đoạn DNA nhân chọn lọc (Amplified
Fragment Length Polymorphism)
bp
Cặp bazơ (base pair)
CR
Loài cực kỳ nguy cấp
EDTA
Ethylene Diamine Tetraacetic Acid
Genbank
Ngân hàng gen quốc tế
ISSR

Phân tích Unweighted Pair Group Method
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

UV
Ánh sáng tử ngoại
VU
Loài sẽ nguy cấp
Quần thể
BDS
Bát Đại Sơn, Quản Bạ, Hà Giang
BL
Xuân Trường, Bảo Lạc, Cao Bằng
HK
Hang Kia, Mai Châu, Hòa Bình
HLS
Hoàng Liên, Sa Pa, Lào Cai
TPT
Thài Phìn Tùng, Đồng Văn, Hà Giang
YC
Mường Lựm, Yên Châu, Sơn La
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng
Nội dung
Trang
2.1
Địa điểm và số mẫu thu thập cho phân tích cpSSR
22

matK của 20 loài Thông
52
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình
Nội dung
Trang
1.1
Hình ảnh về loài cây Thông đỏ bắc (Taxus chinensis)
19
2.1
Bản đồ chỉ ra địa điểm nghiên cứu loài Thông đỏ bắc
24
3.1
Hình ảnh ADN tổng số đại diện của loài Thông đỏ bắc
39
3.2
Phổ điện di sản phẩm PCR của 6 cặp mồi cpSSR trên gel
polyacrylamide 5%
39
3.3
Cấu trúc không gian alen của các quần thể nghiên cứu
41
3.4
Phân tích NJ trên cơ sở khoảng cách di truyền giữa các quần
thể của loài Thông đỏ bắc
44
3.5
Phân tích UPGMA trên cơ sở khoảng cách di truyền từ 148

Danh mục các bảng
iv
Danh mục các hình
v
MỞ ĐẦU
1
MỤC TIÊU VÀ Ý NGHĨA KHOA HỌC
3
1. Mục tiêu nghiên cứu
3
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
4
1.1. Khái niệm về quần thể thực vật
4
1.2. Tính đa đa dạng di truyền của quần thể thực vật
4
1.3. Ảnh hưởng của phân cắt nơi sống đến đa dạng di truyền thực vật
5
1.4. Đa dạng di truyền trong quần thể nhỏ và cô lập
5
1.5. Một số kỹ thuật sinh học phân tử thường được dùng trong nghiên
cứu đa dạng di truyền ở thực vật
7
1.5.1. Kỹ thuật isozyme
7
1.5.2. Kỹ thuật RAPD
7
1.5.3. Kỹ thuật RFLP

2.2.4.1. Tách chiết ADN tổng số
24
2.2.4.2. Nhân bản ADN
25
2.2.4.3. Phân tích số liệu
26
Chƣơng 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
27
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3.1. Hiện trạng quần thể, loài Thông đỏ bắc
27
3.1.1. Phân bố của loài Thông đỏ bắc
27
3.1.2. Cấu trúc nơi sống
28
3.1.3. Cấu trúc quần thể
35
3.2. Đa dạng di truyền quần thể và loài
37
3.2.1. Kết quả tách chiết ADN tổng số và điện di sản phẩm PCR
37
3.2.2. Đa dạng di truyền trong và giữa các quần thể của loài Thông đỏ
bắc
39
3.2.3. Hệ số tương đồng di truyền và khoảng cách di truyền
42
3.2.4. Phân bố không gian di truyền
43
3.2.5. Phân tích AMOVA

số biện pháp bảo vệ loài này với các hình thức khác nhau, như bảo vệ nguyên vị
tại một số khu bảo tồn và chuyển vị (giâm hom) [7]. Tuy nhiên, các nhà quản lý
và các nhà khoa học còn thiếu các thông tin quan trọng về đa dạng di truyền ở cả
2 mức độ quần thể và loài, đặc biệt các yếu tố ảnh hưởng xấu đến sự tồn tại của
chúng liên quan đến tác động của con người. Điều này rất khó để nâng cao hiệu
quả của công tác bảo tồn và sử dụng bền vững loài Thông nghiên cứu. Để góp
phần đưa ra các giải pháp bảo tồn và phục hồi loài thì việc đánh giá mức độ đa
dạng di truyền quần thể loài Thông có ý nghĩa quan trọng. Mức độ đa dạng di
truyền không những chỉ ra khả năng tồn tại của loài ở hiện tại và tương lại, mà
còn chỉ ra tiềm năng tiến hoá của loài. Ngày nay, kỹ thuật công nghệ sinh học
được sử dụng rộng rãi, nhanh và có hiệu quả trong việc đánh giá mức độ đa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

dạng di truyền quần thể và loài, đặc biệt các loài Thông đang có nguy cơ bị đe
dọa [43], [4], [11], [51], [59].
Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành đề tài “Đánh giá đa dạ ng di
truyề n loi Thông đỏ bắc (Taxus chinensis (Pilg.) Rehd.) đang bị đe dọ a
trong hệ sinh thá i rƣ̀ ng nhiệ t đớ i Việ t Nam”
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

MỤC TIÊU VÀ Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1. Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung:
Đóng góp cho công tác bảo tồn và phục hồi hữu hiệu các loài quý hiếm
đang bị đe doạ ở Việt Nam. Giúp các nhà quản lý hiểu biết sâu hơn về mức độ
tiến hoá, quan hệ di truyền giữa các loài Thông. Các yếu tố tác động của con
người làm xói mòn cấu trúc di truyền quần thể và loài. Mục tiêu này cũng sẽ
giúp cộng đồng các nhà khoa học hiểu biết tốt hơn về quá trình tuyệt chủng cũng
như mức độ tiến hoá loài không chỉ cho các loài Thông và có thể áp dụng cho
các loài cây khác có lịch sử sống tương tự.

yếu tố như kích thước quần thể, sức sinh sản, khả năng sống sót, phương phức
sinh sản, trao đổi và đột biến di truyền. Kích thước quần thể là kết quả của sự
tương tác phức tạp liên quan đến các điều kiện môi trường sống và các đặc tính
quần thể của loài. Kích thước quần thể đóng vai trò quan trọng liên quan đến
phương thức sinh sản, di truyền và tiến hoá. Nguồn gốc tiến hoá thường liên
quan đến cá thể lai (thế hệ tiếp theo) trong quần thể và loài. Thụ phấn chéo có
thể sản sinh những cá thể lai đa dạng. Cấu trúc di truyền của những cá thể này
có nhiều cơ hội đóng góp vào tính đa dạng trong quần thể và duy trì khả năng
thích nghi cao trong hoàn cảnh môi trường sống.
Tác động của con người đến môi trường sống thường dẫn đến sự phá vỡ
cấu trúc quần thể và thiết lập những quần thể nhỏ, cô lập và cuối cùng làm suy
giảm khả năng thích nghi của quần thể với môi trường sống của chúng. Ở đây,
thế hệ được sản sinh bằng thụ phấn cận noãn sẽ dẫn đến sự khác nhau về di
truyền giữa các quần thể là lớn, mất tính đa dạng di truyền và tăng tần số gen
đồng hợp tử trong các quần thể nhỏ.
1.2. Tính đa dạng di truyền của các quần thể thực vật
Đa dạng sinh học thường đề cập đến mức độ khác nhau của các dạng sống
bao gồm các cá thể động vật, thực vật, vi sinh vật và được biểu hiện từ mức độ
phân tử đến hệ sinh thái. Đa dạng sinh học là kết quả của quá trình tiến hoá tự
nhiên trải qua hàng triệu năm, bao gồm cả 3 mức độ hệ sinh thái, loài và di truyền.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Lý thuyết tiến hoá trên cơ sở chọn lọc tự nhiên của Darwin đã dự đoán rằng đa
dạng di truyền là thành phần chính của đa dạng sinh học. Đa dạng di truyền cho
phép cá thể và loài xử lý những biến đổi bất lợi của môi trường sống và có khả
năng tự phục hồi trong môi trường sống của chúng. Như vậy, đa dạng di truyền
được đề cập đến như là mức độ đa hình của mỗi cá thể trong suốt thời gian sống
của nó, hoặc được phản ánh bởi số alen của quần thể tại một nơi và thời gian cụ thể
hoặc số alen của một loài trong phạm vi phân bố địa lý và lịch sử tồn tại của nó.
1.3. Ảnh hƣởng của phân cắt nơi sống đến đa dạng di truyền thực vật

đánh giá tính đa dạng di truyền ở cả ba mức độ cá thể, quần thể và loài. Hamrick
và Godt (1989) [33] đã tập hợp tư liệu của 449 loài thực vật thuộc 165 chi và so
sánh mức độ đa dạng di truyền giữa các nhóm loài khác nhau về đặc điểm sinh
thái như dạng sống, phân bố, vị trí phân loại, hệ thống sinh sản, cơ chế phát tán
hạt và mức độ thành công của loài qua các thời kỳ địa chất. Mức độ trung bình
của lô cút đa hình và đa dạng di truyền trên cơ sở của 473 loài thực vật là 50%
và 0.149, tương ứng [34]. Loài phân bố rộng duy trì hệ số đa dạng di truyền cao
gấp đôi so với loài đặc hữu. Sự khác nhau này liên quan đến mức độ thấp của tỉ
lệ phần trăm lô cút đa hình và số alen xuất hiện ở loài đặc hữu. Các loài có đặc
điểm sinh thái như chu kỳ sống dài (lâu năm), sinh sản hữu tính và phát tán hạt
nhờ động vật duy trì tính đa dạng di truyền cao hơn các loài với đặc điểm sinh
thái khác. Đối với quần thể, giá trị trung bình của hệ số đa dạng di truyền và lô
cút đa hình là 0,113 và 34%, tương ứng. Mức độ di truyền cao được duy trì đối
với quần thể của loài thụ phấn nhờ động vật (côn trùng). Tuy nhiên, có sự khác
nhau đáng kể về giá trị đa dạng di truyền giữa các quần thể đối với loài khác
nhau. Mức độ di truyền khác nhau khá lớn giữa các quần thể trong loài tự thụ
phấn. Nhiều công trình điều tra vào các năm tiếp theo về tính đa dạng di truyền
đã khẳng định kết quả đánh giá trên [49].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1.5. Một số kỹ thuật sinh học phân tử thƣờng đƣợc dùng trong nghiên cứu
đa dạng di truyền ở thực vật
1.5.1. Kỹ thuật isozyme
Kỹ thuật Isozyme là kỹ thuật nghiên cứu sự đa hình enzyme. Phương
pháp này được Hunter và Market đưa ra từ năm 1957, được Harris hoàn thiện
vào năm 1966 và bắt đầu được sử dụng phổ biến từ thập niên 70 đến nay. Di
truyền quần thể cần thiết phải nghiên cứu nguyên nhân và hậu quả của sự biến
đổi di truyền trong/giữa các quần thể. Kỹ thuật isozyme được sử dụng như dấu
phân tử cho mục tiêu này. Mặc dù hiện nay đã có nhiều kỹ thuật ADN phát triển
nhưng kỹ thuật isozyme vẫn được sử dụng vì cách thức thực hiện tương đối

RFLP (Restriction fragment length Polymorphism – đa hình chiều dài các
đoạn ADN cắt bởi các enzyme giới hạn). Kỹ thuật này dựa trên đặc điểm của
các enzyme giới hạn khác nhau, tạo nên các đoạn cắt ADN khác nhau phân biệt
được bằng điện di đồ, các đoạn cắt còn được gọi là các “dấu vân tay” đặc trưng
cho từng phân tử ADN. Bản đồ di truyền kết quả RFLP có tính chính xác cao,
thường được sử dụng trong nghiên cứu sự khác biệt trong cấu trúc bộ gene của
các cá thể, các loài sinh vật, nhằm so sánh sự khác biệt giữa các mẫu nghiên
cứu, xác định nguồn gốc hoặc mức độ tiến hóa giữa của các loài sinh vật [5],
[12].
Kỹ thuật này được dùng phổ biến từ đầu thập niên 80 đến nay. Kỹ thuật
RFLP được sử dụng để kiểm tra sự phân ly di truyền của một số tính trạng theo
qui luật Mendel, hoặc ứng dụng trong chọn giống động vật, chọn giống thực vật
hoặc so sánh sự khác nhau giữa các cá thể, các loài sinh vật Kỹ thuật RFLP
được thực hiện trên nguyên lý cắt enzyme giới hạn. DNA của mẫu nghiên cứu
sau khi được tách chiết và tinh sạch sẽ được cắt với cùng 1 số loại enzyme giới
hạn. Mỗi enzyme giới hạn sẽ nhận biết và cắt đặc hiệu DNA ở những vị trí xác
định, do đó các bộ gen có cấu trúc khác nhau sẽ cho ra số lượng và kích thước
các đoạn cắt ADN khác nhau, những bộ gen giống nhau thì sẽ cho ra số lượng,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

kích thước các đoạn cắt giống nhau, kích thước vá số lượng các đoạn cắt này sẽ
quan sát được trên điện di đồ.
1.5.4. Kỹ thuật AFLP
Kỹ thuật AFLP (Amplified Fragment Length Polymorphism), được hiểu
là sự đa dạng của các đoạn ADN được nhân lên có định hướng sau khi bị cắt bởi
2 RE, sử dụng những phân đoạn ADN làm khuôn cho phản ứng khuếch đại
(PCR). Kỹ thuật này được Vos và cộng sự phát triển vào năm 1995 và ngay lập
tức trở thành 1 công cụ hữu ích để nhận biết nhiều lô cút trong sự đa hình ADN
mà không cần biết trước thông tin về trình tự ADN của chúng. Phương pháp này
có thể đưa ra nhanh chóng một ước lượng độ đa dạng di truyền trong và giữa các

marker phân tử là rất khó. SSR có thể được phân bố ngẫu nhiên trong genom
nhưng cũng có khi tập trung lại ở tâm động hay eo thứ cấp của nhiễm sắc thể.
Điều này hạn chế việc sử dụng các mẫu dò nhiều lô cút trong phân tích liên kết
di truyền và nghiên cứu quần thể [12].
1.5.6. Kỹ thuật ISSR
Kỹ thuật ISSR (interal simple sequence repeat) là kỹ thuật phân tích dựa
trên việc nhân bản đoạn ADN nằm giữa 2 vùng lặp đơn giản. Với ISSR, mồi là
những đoạn lặp đơn giản. Nguyên lý của phương pháp này là khuếch đại những
đoạn trình tự nằm giữa 2 đầu lặp đơn giản. Bộ gen của sinh vật bậc cao có nhiều
đoạn ADN lặp lại, các đoạn lặp thường có kích thước ngắn (vài nucleotide), số
lần lặp lại là đặc trưng cho mỗi loài, mỗi giống. Ví dụ, ở lúa có khoảng gần 1000
lần lặp lại trật tự AC/TG, khoảng trên 300 lần lặp lại trật tự GATA/CTAT.
Nhiều loài cây một lá mầm như ngô, lúa… lặp lại đoạn CGG/GCC.
Phân tích ISSR sử dụng mồi bổ trợ với các vùng microsatellite nên còn
gọi là MP-PCR có thể kế thừa mở rộng từ các phân tích microsatellites khác để
tăng khả năng lặp lại và giảm tính đa hình so với RAPD. Các chỉ thị RAPD,
ISSR được dùng nhiều trong lập bản đồ, phân tích di truyền, chọn giống ở thực
vật [59].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1.6. Nghiên cứu ngoi nƣớc và trong nƣớc về đa dạng di truyền v tiến hóa
phân tử
1.6.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Để đánh giá ảnh hưởng của sự phân cắt nơi sống, điều tra tính đa dạng di
truyền và sinh thái ở cả 2 mức độ quần thể và loài quý hiếm trong tự nhiên có
vai trò quan trọng góp phần đưa ra chiến lược và các giải pháp bảo tồn một cách
hữu hiệu. Nhiều nghiên cứu đã đề cập đến mức độ suy giảm tính đa dạng di
truyền trong và giữa các quần thể thực vật liên quan đến quá trình phân cắt nơi
sống [39]. Các tác giả đã chỉ ra rằng suy giảm tính đa dạng di truyền xảy ra liên
quan đến số lượng cá thể thấp trong quần thể tại thời gian nơi sống bị phân cắt.

phát triển của loài thông Pinus torreyana [42], P. attenuata [57]. Mức độ đa
hình được nhấn mạnh bởi giá trị P đã được sử dụng bởi Andres và Moragues
(2003) [16], Lee và cộng sự, (2004) [44]. Kỹ thuật isozym đã nhấn mạnh quan
điểm Darwin về tiến hoá, cụ thể quá trình tiến hoá xảy ra trong môi trường phức
tạp, có thể thay đổi theo hằng số trong suốt thời gian sống, hoặc có thể thay đổi
giữa thời gian dài khá ổn định và chu kỳ thay đổi khá nhanh. Hamrick và cộng
sự (1979) [32] đã đánh giá mức độ đa dạng di truyền trên cơ sở lịch sử sống của
các nhóm loài trên cơ sở tổng kết các kết quả phân tích isozym của nhiều tác giả.
Chẳng hạn, nhóm duy trì mức độ đa dạng di truyền cao gồm có các loài cây hạt
trần, cây lâu năm, cây thụ phấn nhờ gió, cây thụ phấn chéo, cây phân bố rộng và
cây có số nhiễm sác thể cao. Trái lại, nhóm loài có tính đa dạng di truyền thấp
gồm có loài cây bản địa (đặc hữu), cây một năm, cây 2 lá mầm, tự thụ phấn và
cây có số nhiễm sắc thể thấp.
Đối với các loài thực vật quý hiếm đang bị đe doạ, dẫn liệu phân tích
isozym cho phép các nhà khoa học hiểu biết rõ hơn về quá trình sinh thái và tiến
hoá của các loài này và góp phần hoạch định chiến lược bảo tồn hữu hiệu. Bởi
vì, kết quả này cho phép tìm hiểu mức độ đa hình và đa dạng di truyền tại lô cút
liên quan đến biến đổi của môi trường sống của loài và yếu tố nào xác định sự
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

phân bố di truyền trong quần thể. Phân tích isozym có thể biết hậu quả của quá
trình sinh thái và tiến hoá liên quan đến thay đổi kích thước quần thể, mối quan
hệ giữa các ổ sinh thái và mức độ đa dạng di truyền ở mức độ quần thể và loài
hoặc sự thay đổi kích thước quần thể có thể được xác định bởi biến đổi của môi
trường hoặc sự cạnh tranh giữa các loài, và dãy phân bố địa lý thường là kết quả
không gian hạn chế của lịch sử phát tán hay giới hạn về sinh lý phát triển và sinh
sản. Những vấn đề này có thể được giải quyết thông qua các kết quả nghiên cứu
về isozym. Phần lớn các loài thực vật quý hiếm thường bị đe doạ liên quan đến
kích thước quần thể nhỏ. Barrettt và Kohn (1991) [19] đã tập trung vào hậu quả
di truyền trong quần thể nhỏ. Tác giả đã chỉ ra rằng mất tính đa dạng di truyền

quả về mức độ trao đổi di truyền và hậu quả của nó có thể đe doạ cấu trúc di
truyền trong quần thể. Nghiên cứu ảnh hưởng của phương thức thụ phấn cận
noãn, tính đa dạng di truyền và kích thước quần thể của loài Lupinus perennis
(Fabaceae) đang bị đe doạ bằng chỉ thị SSR [69]. Tác giả đã điều tra 10 quần thể
trên cơ sở phân tích 7 lô cút SSR và chỉ ra rằng mặc dù giá trị gen dị hợp tử là
tương đương nhau ở cả 2 quần thể nhỏ và lớn, nhưng quần thể nhỏ có số alen
thấp hơn và kết luận rằng thụ phấn gần là hậu quả của quan hệ cận noãn và xói
mòn di truyền. Một nghiên cứu khác được tiến hành bởi Dangi và cộng sự
(2004) [24] về đánh giá tính đa dạng di truyền của 2 loài Trigonella
foenungrecum và T. caerulea dùng chỉ thị ISSR và RAPD. Kết quả nghiên cứu
đã chỉ ra rằng T. caerulea duy trì mức độ đa dạng di truyền cao hơn so với T.
foenungraecum. Phân tích ma trận về hệ số tương đồng di truyền trên cơ sở dẫn
liệu về ISSR và RAPD cho cả 2 loài và chỉ ra mối quan hệ tuyến tính cao cho
mỗi loài. Ví dụ, hệ số tuyến tính r =0,78 tại p =0,001 cho loài T. foenungraecum
và r =0,98 với p =0,001 cho loài T. caerulea. Kết quả nghiên cứu này đã củng cố
giả thiết về trung tâm đa dạng và nguồn gốc của chi Trigonella ở miền Đông và
Trung Địa Trung Hải. Các kết quả nghiên cứu dùng kỹ DNA đã khẳng định
tương tự như một số công trình nghiên cứu trước dùng chỉ thị isozym. Nghiên
cứu đa dạng di truyền của một số loài thông cũng được đề cập bởi một số tác giả
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

như [37], [66], [43], [41]. Các kết quả nghiên cứu đã phản ánh mức độ suy giảm
tính đa dạng di truyền liên quan đến sự hạn chế về dãy phân bố địa lý, kích
thước quần thể nhỏ và bị cô lập ở mức độ quần thể và loài của một số loài thông
như loài Abies sibirica [41], A. flinckii, A. guatemalensis, A. hickeli, A. religiosa
[17], Picea breweriana [41]. Glyptostrobus pensilis [45]. Tuy nhiên tính đa dạng
cao đã được khám phá ở một số loài thông như Pinus [21], Cedrus atlantica
[62], Pinus strobus [55] và Pinus brutia [40].
Để nghiên cứu mối quan hệ họ hàng giữa các taxon trong thực vật, rất
nhiều tác giả sử dụng vùng gen nhân hoặc lục lạp. Kỹ thuật sinh học phân tử đã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status