Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
i BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
NGUYỄN KIẾN THỌ
THƠ CA DÂN TỘC HMÔNG - TỪ TRUYỀN THỐNG
ĐẾN HIỆN ĐẠI LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
THÁI NGUYÊN, 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
iii
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu nêu
trong luận án là trung thực. Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN Nguyễn Kiến Thọ
1.3. Đời sống văn hóa- "tâm hồn và tiếng hát Hmông" 22
1.3.1. Nhà ở- nét độc đáo trong kiến trúc của người Hmông 23
1.3.2. Trang phục- nét đặc trưng thẩm mĩ của người Hmông 25
1.3.3. Phong tục, tập quán- cơ sở của tính cố kết cộng đồng 29
1.3.4. Đời sống tâm linh - nơi trú ngụ của những niềm tin tôn giáo 38
1.3.5. Tiếng nói, chữ viết và truyền thống thơ ca 43
Chƣơng 2 QUÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG CỦA THƠ CA HMÔNG NHÌN TỪ
PHƢƠNG DIỆN NỘI DUNG PHẢN ÁNH 53
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
v
2.1. Giới thuyết về một số khái niệm cơ bản 53
2.1.1. Khái niệm "thơ ca" trong nội dung "thơ ca dân gian Hmông" 53
2.1.2. Khái niệm"truyền thống", "hiện đại" trong nội dung"từ truyền thống đến hiện đại" 54
2.2. Thơ ca Hmông và quá trình mở rộng đề tài, gắn liền với sự đổi thay, phát
triển của đời sống cộng đồng 57
2.2.1. Thiên nhiên khắc nghiệt và hùng vĩ- chiếc nôi nuôi dưỡng tâm hồn, tích cách
dân tộc Hmông 58
2.2.2. Tình yêu và cuộc sống-những giai điệu tâm hồn mạnh mẽ, quyết liệt 64
2.3. Thơ ca Hmông và những mạch nguồn cảm hứng 75
2.3.1. Cảm hứng cảm thương- bi kịch 76
2.3.2. Cảm hứng trữ tình- ngợi ca 79
2.3.3. Cảm hứng suy tư - chiêm nghiệm với lối tư duy, cách diễn đạt mang đậm bản
sắc Hmông 82
2.4. Sự vận động, phát triển của thơ ca Hmông gắn liền với quá trình nhận
thức về thế giới và con ngƣời 86
2.4.1. Quan niệm về tự nhiên, vũ trụ 86
2.4.2. Quan niệm về sự sống và cái chết 89
2.4.3. Sự đổi thay trong quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người trong thơ ca Hmông 93
Trong bức tranh toàn cảnh của văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam, dù chỉ
chiếm một vị trí khiêm tốn, vẫn phải thừa nhận rằng, dân tộc Hmông (Hmôngz) có
một kho tàng thơ ca phong phú và độc đáo, là sản phẩm tinh thần được nuôi dưỡng
và phát triển trong một nền văn hoá giàu truyền thống và bản sắc. Từ những truyện
thần thoại, truyện cổ tích, tục ngữ, câu đố, dân ca đến sáng tác của những nhà thơ
Hmông thời kỳ hiện đại là một quá trình lao động, sáng tạo của cả một dân tộc và
của từng cá nhân - để tạo ra một nguồn thơ Hmông đặc sắc, phản ánh chân thực và
sinh động đời sống lao động sản xuất, đời sống văn hoá - tinh thần, đời sống tâm
linh của dân tộc này. Có thể ví thơ ca Hmông như một dòng suối khởi nguồn từ
những đỉnh non cao, tích tụ và chưng cất sự trong trẻo ngọt lành của hương rừng, đá
núi; len lỏi qua bao thác ghềnh rồi hoà vào dòng sông thơ các dân tộc thiểu số trước
khi hợp lưu vào dòng chảy của thơ ca Việt Nam. Vì vậy, nghiên cứu thơ ca Việt
Nam nói chung, thơ ca các dân tộc thiểu số nói riêng không thể không nghiên cứu
thơ ca dân tộc Hmông - với tư cách là một bộ phận hợp thành nền thơ ca các dân tộc
thiểu số, góp phần tạo nên sự phong phú và đa dạng của thơ ca các dân tộc Việt
Nam.
Từ trước tới nay, việc nghiên cứu (một cách toàn diện, sâu sắc và hệ thống)
thơ ca các dân tộc thiểu số có những hạn chế nhất định. Có nhiều nguyên nhân để lý
giải điều này, trong đó có nguyên nhân quan trọng là chúng ta chỉ xem xét hợp lưu
mà không tìm đến khởi nguồn các dòng chảy thơ ca của từng dân tộc. Những năm
gần đây, ngày càng có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến văn học các dân tộc
thiểu số nói chung, thơ ca các dân tộc thiểu số nói riêng và đã đạt được một số kết
quả nhất định. Nhưng nhìn chung, những nghiên cứu này cũng chưa thật sự toàn
diện và hệ thống. Riêng về văn học dân tộc Hmông, cho tới nay mới có một số ít
công trình nghiên cứu, song lại chủ yếu tiếp cận dưới các góc độ văn hoá học, dân
tộc học ngoại trừ một số công trình sưu tầm và giới thiệu thơ ca dân gian dân tộc
Hmông của một số nhà khoa học, nhà nghiên cứu, sưu tầm văn học dân gian. Vì
vậy, việc nghiên cứu thơ ca dân tộc Hmông (từ thơ ca dân gian đến thơ ca hiện đại)
nhằm phác hoạ diện mạo thơ ca dân tộc Hmông, chỉ ra những đặc điểm nổi bật (về
của các dân tộc thiểu số anh em trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, để giới
thiệu rộng rãi đến người đọc và góp phần bảo lưu, gìn giữ, làm giàu có thêm nền
văn học Việt Nam. Bên cạnh đó, những đóng góp của các nhà văn, nhà thơ các dân
tộc thiểu số từ trước đến nay đã góp phần khẳng định sức sống bất diệt của những
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
giá trị văn hoá nói chung, văn học các dân tộc thiểu số nói riêng, đáng để cho chúng
ta thêm trân trọng và tự hào.
2.1.Từ vấn đề nghiên cứu thơ ca Hmông truyền thống
Nhìn chung, vấn đề nghiên cứu về văn học các dân tộc thiểu số cũng như thơ
ca Hmông mới chỉ thực sự được bắt đầu từ sau cách mạng tháng Tám. Theo nhận
định của các tác giả Tổng tập văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam: "Nếu không
kể các truyện lẻ tẻ được in trên các tạp chí, cuốn Truyện cổ tích miền núi (1957) do
Nhà xuất bản Văn hoá xuất bản là cuốn sách đầu tiên sưu tập vốn văn học của các
dân tộc miền núi phía bắc của thầy trò trường Sư phạm Miền núi Trung ương. Cuốn
Văn học các dân tộc thiểu số trong Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, xuất bản năm
1962, là cuốn sách trong đó các tác giả Hợp tuyển đã chính thức khẳng định thơ văn
nói riêng và văn hoá nói chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam, kể cả văn học dân
gian và bác học, không chỉ là của riêng người Việt, mà là của chung các dân tộc đã
sinh sống cùng xây dựng tổ quốc Việt Nam" [144;tr.11]
Riêng về văn học dân tộc Hmông, cuốn sách ra đời sớm nhất có lẽ là cuốn
Truyện cổ dân tộc Mèo do một số người sưu tầm, trong đó có sự tham gia của ông
Doãn Thanh. "Công trình này đã có tác dụng rất tốt đối với đồng bào Mèo và cũng
đã làm cho các dân tộc anh em hiểu người Mèo thêm một phần nào"[121, tr.7].
Việc sưu tầm, nghiên cứu chuyên biệt về văn học dân tộc Hmông cho tới nay
cũng đã đạt được một số kết quả nhất định. Có thể coi Doãn Thanh là một trong
những người đầu tiên có công trong việc sưu tầm và biên dịch dân ca Hmông. Năm
1967, Nhà xuất bản Văn học in tập Dân ca Mèo (Lào Cai) của Doãn Thanh. Ông
các cuốn Dân ca Mèo (Lào Cai) hay Dân ca Hmông thì công trình của Hùng Đình
Quí có phần khiêm tốn hơn. Ông không có ý định sắp xếp các bài dân ca sưu tập
được theo chủ đề mà chỉ công bố lần lượt theo thời gian tác giả sưu tầm được.
Ngoài ra, là người dân tộc Hmông nên ông cố gắng dịch các bài dân ca sao cho gần
nhất với nguyên bản chứ không có sự trau truốt nhất định về mặt ngôn ngữ thơ. Đó
là hạn chế nhưng cũng có thể coi là yếu tố tích cực để việc tiếp cận và nghiên cứu
dân ca Hmông được thuận lợi hơn. Năm 2004, Hội Văn học Nghệ thuật Lào Cai,
Nhà xuất bản Văn hoá Dân tộc cho in cuốn "Tang ca- Kruôzcê của người Mông
Lềnh ở Sa pa" do tác giả Giàng Seo Gà sưu tầm và biên soạn. Đây không chỉ là một
công trình sưu tầm một cách công phu và cẩn trọng mà còn là một công trình nghiên
cứu về tang ca của người Hmông rất đáng ghi nhận, bởi ngoài việc ghi lại đầy đủ 31
bài tang ca (Kruôz cê), tác giả còn đi sâu khảo sát và so sánh nội dung bài tang ca
được phổ biến trong các ngành Hmông khác nhau ở Sa Pa như Hmông Lềnh,
Hmông Trắng, Hmông Đen, đồng thời bước đầu có những nhận xét, lý giải về một
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
vài khác biệt về mặt văn bản trong các bài Tang ca được sử dụng ở từng ngành
Hmông. Ngoài ra, tác giả còn xem xét, nghiên cứu về các mặt nội dung và nghệ
thuật của bài Tang ca. Có thể coi Giàng Seo Gà là người Hmông đầu tiên và là một
trong số ít những người nghiên cứu về bài Tang ca- một trong những bài ca quan
trọng nhất của người Hmông- cho đến thời điểm này.
"Thơ văn không gì thấm sâu được vào tâm hồn con người bằng tiếng mẹ đẻ"
(Đặng Nghiêm Vạn). Do đó, thao tác cần thiết của người nghiên cứu là phải được
đối chiếu bản dịch- dù là thành công nhất, so với nguyên bản; hoặc giả phải được
xem xét bằng văn bản ngôn ngữ của chính dân tộc ấy, chứ không thể chỉ căn cứ qua
bản dịch. Về phương diện này, đối với thơ ca dân gian Hmông, có lẽ cũng "cần tới
một sự châm chước nhất định" [121; tr.13]. Theo khảo sát bước đầu của chúng tôi,
Cho đến nay, hướng nghiên cứu, tiếp cận dân tộc Hmông dưới góc độ văn hoá học,
biểu tượng tiêu biểu trong dân ca Hmông như: Cây lanh, cây khèn, cây nêu. Từ đó chỉ
ra và khẳng định ý nghĩa văn hoá cũng như giá trị thẩm mĩ của các biểu tượng lanh,
nêu, khèn với tư cách là những biểu tượng của văn hoá Hmông. Các tác giả trong
công trình nghiên cứu này đã khẳng định: "Hiện nay, nghiên cứu những giá trị này
dưới góc độ văn hoá (cụ thể là văn hoá biểu tượng) là một hướng đi hiện đại, hứa hẹn
nhiều khám phá mới mẻ" [23; tr.1]
Nhìn chung, cho đến thời điểm hiện tại có thể khẳng định rằng dân ca Hmông
đã được xem xét, nghiên cứu một cách khá toàn diện. Trong đó, phải kể đến một số
các công trình, bài viết nghiên cứu tiêu biểu như: "Tiếng hát làm dâu, tiếng hát yêu
thương, tiếng hát căm hờn, ngàn đời của người phụ nữ Mèo" của Tô Hoài (Tạp chí
Văn học, số 2 năm 1965), "Tâm hồn và tiếng hát Hmông" của Chế Lan Viên (Lời giới
thiệu cuốn Dân ca Hmông, Nxb Văn học, 1984). Một số đề tài luận văn thạc sĩ về thơ
ca dân gian Hmông đã được bảo vệ thành công tại trường đại học Sư phạm, Đại học
Quốc gia Hà Nội như: "Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện thơ Hmông về đề
tài tình yêu "của Nguyễn Thị Thu Yến, "Thơ ca dân gian Hmông" của Hùng Thị Hà
(2003), "Dân ca giao duyên và lễ hội Gầu tào của dân tộc Mông" của Nguyễn Văn
Tiệp (2003), Khảo sát nghi lễ cúng ma dân tộc Hmông" của Hoàng Thị Thuỷ (2004),
"Giải mã biểu tượng lanh trong dân ca Hmông" của Đặng Thị Oanh (2006)
Những công trình nghiên cứu nói trên là những gợi ý và định hướng quan
trọng cho tác giả luận án trong việc tiếp cận, nghiên cứu văn học dân tộc Hmông,
nhất là thơ ca Hmông từ truyền thống đến hiện đại.
2.2. Đến vấn đề nghiên cứu thơ ca Hmông thời kì hiện đại
Nếu như việc sưu tầm và nghiên cứu thơ ca dân gian Hmông đã có được một
số thành tựu đáng kể thì việc nghiên cứu về thơ ca hiện đại dân tộc Hmông vẫn còn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
hết sức khiêm tốn, nhỏ lẻ và tản mạn. Mặc dù cho đến nay đã có một số công trình,
bài viết nhưng cũng phần lớn chỉ dừng lại ở việc tập hợp, tuyển chọn và giới thiệu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
của dân tộc đó. Từ đó mới có thể hiểu và lý giải một cách chính xác và sâu sắc về
đặc trưng và giá trị thơ ca của từng dân tộc. Việc nghiên cứu thơ ca dân tộc Hmông
từ trước đến nay còn ít nhiều bộc lộ những hạn chế, bất cập, nên việc kế thừa thành
quả khoa học của những người đi trước không phải bao giờ cũng dẫn đến kết quả
mong đợi. Chẳng hạn, những công trình nghiên cứu về dân ca Hmông trước đây hầu
như chỉ dựa trên đối tượng nghiên cứu là các bản dịch ra tiếng Phổ thông mà không
kèm theo bản tiếng Hmông (như cuốn Dân ca Mông của Doãn Thanh); ngay cả những
văn bản thơ của các tác giả Hmông thời kỳ hiện đại cũng một phần là các bản dịch
của Minh Khương. Chúng tôi không nghi ngờ về nội dung của các bản dịch. Tuy
nhiên, bản dịch dù có thành công đến đâu cũng không thể trung thành tuyệt đối với
nguyên tác cả về nội dung và cấu trúc nghệ thuật. Và như vậy, cũng không thể là cứ
liệu hoàn toàn tin cậy cho nghiên cứu khoa học. Mặt khác, những cuộc thiên di của
người Hmông trong lịch sử với thời gian quá dài có thể xuất hiện và chỉ còn tồn tại
những dị bản văn học dân gian, cản trở đến việc xác định những nguồn mạch ban
đầu. Ngoài ra, việc người Hmông có tập quán sống di cư và ở rải rác, đan xen với
các dân tộc khác trên nhiều địa bàn khác nhau, hiện tượng giao thoa văn hoá là
không tránh khỏi, cũng đồng nghĩa với việc vơi dần bản sắc dân tộc. Vấn đề đặt ra:
Đâu là bản sắc riêng của văn hoá Hmông nói chung và thơ ca Hmông nói riêng?
Giải quyết được vấn đề trên là yêu cầu và cũng chính là mục đích lớn nhất của luận
án. Với một vấn đề quá đỗi khó khăn và phức tạp như vậy, chúng tôi không có tham
vọng giải quyết một cách triệt để (và cũng không thể giải quyết một cách triệt để),
mà chỉ đưa ra những nhận xét, đánh giá ban đầu, ở mức độ chỉ ra những đặc điểm
nổi bật, xác định những đặc trưng thơ ca Hmông và nhất là quá trình vận động, phát
triển của thơ ca Hmông từ truyền thống đến hiện đại.
Qua việc khảo sát lịch sử vấn đề nghiên cứu thơ ca dân tộc Hmông từ truyền
thống đến hiện đại, chúng tôi bước đầu đưa ra một số nhận xét như sau:
Thứ nhất, về tình hình nghiên cứu thơ ca dân tộc Hmông: Cho đến nay, chúng
đến hiện đại, chúng tôi lựa chọn cách tiếp cận nghiên cứu thơ ca Hmông trong quá
trình vận động và phát triển từ thơ ca dân gian đến thơ ca hiện đại, trên hai phương
diện chủ yếu là nội dung phản ánh và cấu trúc nghệ thuật.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu thơ ca dân tộc Hmông trong phạm vi các văn
bản sau:
* Thơ ca dân gian:
- Dân ca Mèo (Lào Cai), Doãn Thanh, Nxb Văn học, Hà Nội, 1967
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
- Dân ca Hmông, Doãn Thanh, Hoàng Thao, Nxb Văn học, Hà Nội, 1984.
-Dân ca Mông Hà Giang, tập 1,2,3, Hùng Đình Quí, Sở Văn hoá Thông tin Hà
Giang (2000,2001,2003)
* Thơ ca hiện đại:
- Mặt trời hoa mây, Nhiều tác giả, Ty Văn hóa Hoàng Liên Sơn, 1977.
- Người Mông nhớ Bác Hồ, Hùng Đình Quí, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 1993.
- Chỉ vì quá yêu, Hùng Đình Quí, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 1998.
- Bên suối Nậm Mơ, Mã A Lềnh, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 1995.
- Mã A Lềnh thơ, Mã A Lềnh, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2002.
- Các tác phẩm thơ của các tác giả người Hmông được công bố trên báo chí
hoặc trong các tuyển tập thơ từ trước tới nay.
Vì không có điều kiện để tiếp cận các tác phẩm thơ ca của người Hmông được
in ấn và đăng tải trên các báo chí, website của nước ngoài nên chúng tôi không sử
dụng những tài liệu này.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện luận án: Thơ ca dân tộc Hmông- từ truyền thống đến hiện đại,
chúng tôi đặt ra những nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Khảo sát thơ ca Hmông từ truyền thống đến hiện đại nhằm chỉ ra những đặc
thơ ca Hmông với thơ ca của các dân tộc khác.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành (văn hoá, dân tộc học ): Sử dụng
những phương pháp liên ngành như văn hoá học, dân tộc học , luận án sẽ tiếp cận
thơ ca Hmông dưới các góc độ văn hoá, dân tộc để nghiên cứu, lí giải những hiện
tượng, qui luật đặc thù cũng như những nét đặc sắc, độc đáo của thơ ca Hmông từ
truyền thống đến hiện đại.
- Phương pháp nghiên cứu loại hình: Với đối tượng nghiên cứu cụ thể là thơ
ca dân tộc Hmông, luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu loại hình, sử dụng
những thao tác cần thiết để nghiên cứu thơ ca Hmông dựa trên những đặc trưng của
thể loại thơ ca, đặc biệt là việc sử dụng thi pháp thể loại để nghiên cứu thơ ca
Hmông trên cả hai phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật.
6. Đóng góp khoa học của luận án
6.1. Luận án nghiên cứu thơ ca dân tộc Hmông từ truyền thống đến hiện đại
thông qua việc khảo sát thơ ca Hmông một cách tổng thể và toàn diện, nhằm tìm
hiểu và đánh giá những nét đặc trưng mang tính bản sắc trong thơ ca dân tộc Hmông, từ thơ
ca dân gian (truyền thống) đến thơ ca hiện đại.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
12
6.2. Qua việc nghiên cứu một số phương diện nội dung và nghệ thuật của thơ
ca dân tộc Hmông, luận án làm nổi bật quá trình vận động và phát triển, sự kế thừa
và tiếp biến của thơ ca Hmông từ truyền thống đến hiện đại.
6.3. Bằng việc đánh giá thực trạng và đưa ra một số ý kiến, kiến nghị, luận án
sẽ góp một tiếng nói vào việc bảo tồn, gìn giữ, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc
Hmông với tư cách là một thành tố tạo nên sự thống nhất, phong phú và đa dạng
của văn hoá các dân tộc Việt Nam. Đặc biệt là trong bối cảnh đất nước ta đang trên
con đường hội nhập quốc tế ngày càng sâu sắc.
7. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính
Đình, đã có những bộ lạc hợp nhất mang tên là "Tam Miêu" (bao gồm Hồng Miêu,
Bạch Miêu và Thanh Miêu dựa trên trang phục của người Hmông khi đó). Theo
Hán tự, chữ Miêu trên có bộ thảo ( ) là cây cỏ. dưới có chữ điền ( ) là ruộng
đồng. Khi dịch từ "Miêu" với nghĩa chỉ tên gọi của một rợ (tộc người) ở Trung
Quốc ra tiếng Việt, mọi người quen đọc phiên âm trực tiếp là Mieo, Mão,
Mèo [97]
Cuối những năm 1960 trở đi, trên các sách báo, công trình khoa học của
Việt Nam và các nước Đông Nam Á, xuất hiện cách gọi tộc danh H'mông, Hơ
Mông. Cách gọi này khởi đầu từ việc trong tiếng Hmông, từ "Hmôngz" có nghĩa
là "người". Đây là một âm mũi. Trong hệ thống âm tiết tiếng Việt không có phụ
âm ghi được chính xác âm tiết "Hmôngz" nên các nhà ngôn ngữ đã mượn phụ âm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
14
"Hm" của hệ thống phụ âm tiếng Hmông để ghi từ này. Năm 1979, trong bản
Danh mục các dân tộc Việt Nam, Tổng cục Thống kê đã ghi là Hmông. Điều này
dẫn đến việc nhiều người đã phát âm thành ra "Hơ Mông". Phải khẳng định rằng,
các cách gọi là "Mèo" hay "Hơ Mông" đều bị người Hmông ghét bỏ và phản ứng
dữ dội. Họ chỉ muốn gọi tên dân tộc mình là "Mông". Vì thế, tại Hội nghị cốt
cán dân tộc Hmông do Uỷ ban Dân tộc của Chính phủ chủ trì (1992) đã thống
nhất gọi là dân tộc "Mông" (Hmông).
Về cách ghi tộc danh Hmông, từ trước đến nay, không chỉ trên báo chí mà ở
cả các công trình nghiên cứu khoa học cẩn trọng vẫn có hiện tượng không thống
nhất. Chẳng hạn, Tổng tập văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam (2002) ghi danh
là "H'mông"; nhiều nhà nghiên cứu và gần đây nhất là các tác giả cuốn "Nghiên
cứu, bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, văn hoá một số dân tộc ở Việt Bắc'' (2010)
do PGS. TS Nguyễn Văn Lộc làm chủ biên ghi danh dân tộc Hmông thống nhất
với tên gọi là: "Mông". Trong cách gọi của một số nhà nghiên cứu, sáng tác thơ
dân tộc Hmông cũng có cách viết tộc danh này khác nhau. Nhà thơ Hùng Đình
lịch sử Trung Hoa khoảng 3000 năm trước Công Nguyên". [98]
Cũng theo truyền thuyết, xưa kia dân tộc Hmông có một quốc gia riêng với
biểu tượng đôi sừng trâu và màu cờ đỏ. Dấu ấn ấy vẫn còn đến ngày nay, thể hiện
qua một số phong tục như tấm vải đỏ treo trước nhà, người chết không phân biệt
già trẻ đều có miếng vải đỏ che miệng, hình bộ sừng trâu làm chốt cửa trên hai
cánh cửa chính của mỗi nhà Đó cũng chính là ý kiến của tiến sĩ Yang Dao trong
"Người Hmông: Những truyền thống bền vững" (in trong cuốn "Văn hoá các dân
tộc ở Lào") khi khẳng định, Người Hmông được coi là một trong những dân tộc cổ
nhất ở châu Á. Họ đã sống ở lưu vực sông Hoàng Hà và đã có tổ quốc ở đó cách
đây hơn 4000 năm. Họ là con cháu của người Tam Miêu (San Miao). Đến thế kỉ
XXVI trước Công Nguyên, họ bắt đầu đi xuống phía nam và đến những vùng núi
của tỉnh Quí Châu, Vân Nam [98].
Cho đến nay, đa số giới nghiên cứu về người Hmông đều tán thành quan điểm
cho rằng, người Hmông đã tồn tại ở lưu vực sông Hoàng Hà cách đây hơn 3000
năm. Điều này đã được khẳng định tại Hội nghị quốc tế lần thứ nhất về người
Hmong/ Miao ở Châu Á được tổ chức tại thành phố Aixen Provence nước Cộng hoà
Pháp (tháng 9 năm 1998).
Người Hmông di cư vào Việt Nam khá muộn so với các dân tộc khác. Người
Hmông đến nước ta có thể gồm nhiều đợt qui mô lớn nhỏ khác nhau: Từ Vân Nam
sang, từ Quí Châu qua Vân Nam, hoặc Quảng Tây sang cư trú ở các vùng biên giới
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
16
phía Bắc. Theo các nhà nghiên cứu, dựa trên kết quả điền dã dân tộc học ở tại một
số vùng người Hmông ở Việt Bắc và Tây Bắc, cũng như việc nghiên cứu tình hình
biến động của tộc Miêu ở Trung Quốc trong lịch sử, có thể người Hmông thiên di
đến Việt Nam với ba đợt quy mô lớn. Thời kỳ đầu tiên cách đây trên 300 năm,
người Hmông từ Quí Châu sang Đồng Văn. Dân ca Hmông còn ghi lại:
Người Hmông ta ở Quí Châu đến
Có thể nói, hành trình đến Việt Nam của người Hmông không chỉ là hành
trình giải thoát cho sự tồn vong của một dân tộc mà còn là hành trình tìm đến với
một cuộc sống mới tự do và hạnh phúc. Người Hmông còn lưu truyền một câu
chuyện từ xa xưa rằng: Việt Nam là nơi đất đai màu mỡ để làm ăn, nơi có quả bí to
như cái vạc mà lợn rừng có thể khoét lỗ chui vào đó đẻ, nó vừa là ổ, vừa là thức ăn
cho lợn. Nơi trồng cây lương thực gốc có củ, thân có bắp, ngọn trổ lúa Chính vì
vậy mà người Hmông luôn tự hào về quê hương thứ hai của mình:
Cá bơi ở dưới nước
Chim bay ở trên trời,
Chúng ta sống ở vùng cao.
Và con chim có tổ
Người mèo ta cũng có quê
Quê ta là Mèo Vạc [110]
Ở Việt Nam, đồng bào Hmông sống rải rác trên những triền núi cao thuộc
các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Lào Cai, Sơn La, Lai
Châu, Hoà Bình, Thanh Hoá, Nghệ An Người Hmông sống xen kẽ với các dân
tộc khác nhưng vẫn có ý thức quần tụ thành những vùng nhỏ đồng tộc.
Dưới chế độ cũ, người Hmông ở Việt Nam cũng bị áp bức bóc lột nhất là
từ khi Việt Nam bị thực dân Pháp đặt ách thống trị. Người Hmông đã nhiều lần
nổi dậy đấu tranh, tiêu biểu là các cuộc nổi dậy của Sùng Mí Chảng, Giàng Tả
Chay có ảnh hưởng rộng lớn trong khắp vùng người Hmông ở Tây Bắc, lan
rộng sang cả Thượng Lào.
Cách mạng tháng Tám thành công, theo lời kêu gọi của Đảng và Bác Hồ,
người Hmông đã tích cực tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ. Nhiều anh hùng quân đội, chiến sĩ du kích người Hmông mà tên tuổi đã trở nên
quen thuộc trong kháng chiến chống Pháp như: Sùng Phài Sinh, Lý Nụ Chu,Vừ A
Dính, Thào A Sà, Mùa A Dế Nhiều khu du kích nổi tiếng vùng Tây Bắc như Pú
Nhung, Tủa Chùa, Cao Phạ, Long Hạ đã đi vào lịch sử kháng chiến chống Pháp
của dân tộc Việt Nam.
sinh sống. Vì vậy, môi trường canh tác chủ yếu của người Hmông là nương, ruộng
ở trên cao. Người Hmông thường phát nương tra hạt hoặc cải tạo sườn núi làm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
19
ruộng bậc thang. Ngô là cây lương thực chính của người Hmông. Ở một số vùng núi
đá cheo leo như Đồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang), người Hmông phải gùi đất bỏ vào
các hốc đá để tra ngô, trồng bí
Do đặc điểm khí hậu và thổ nhưỡng nên ở vùng người Hmông sinh sống còn
trồng được nhiều cây dược liệu quí như: Đỗ trọng, tam thất, huyền sâm, xuyên
khung Ngoài ra, người Hmông còn trồng nhiều cây ăn quả như: mận tím, đào, lê,
táo Đặc biệt, có một loại cây được người Hmông trồng nhiều nhất đó là cây
lanh. Họ dành những vạt đất tốt nhất để trồng lanh để lấy sợi lanh dệt vải, may áo
váy, khăn, địu
Nương theo quan niệm của người Hmông có phần đơn giản hơn quan niệm về
nương của các dân tộc khác. Người Thái gọi là Hay, người Mường gọi là Roọng,
người Dao gọi là Tẩy- để chỉ một mảnh đất rừng được chặt phá, đốt dọn, được chọc
lỗ hay cày xới để trồng trọt, khái niệm nương được người Hmông gọi là têz và
người Hmông quan niệm về nó rất đơn giản: chỉ cần phát được một khóm nhỏ, chưa
phải là một vạt, một khoảnh rừng lớn, đơn giản chỉ cần tra được một hốc ngô xuống
cũng được gọi là nương. Người Hmông có đến hàng chục cách phân loại nương
theo những tiêu chí khác nhau, trong đó đáng chú ý là hai loại nương định canh
(Têz lâus) và nương du canh (Têz phax). Nương định canh là loại đất canh tác cố
định của người Hmông, được canh tác liên tục năm này qua năm khác, thậm chí đời
này qua đời khác. Loại nương này được áp dụng các kỹ thuật canh tác như thâm
canh, luân canh, xen canh; sử dụng cày, cấy, phân bón nhằm nâng cao năng suất và
tăng độ phì nhiêu của đất. Trong khi đó, nương du canh được canh tác đơn giản, có
khi chỉ là chọc lỗ, tra hạt. Khi đất bạc màu, họ chuyển sang khai phá mảnh nương
mới. Thực ra, có thể thấy hai cách ứng xử với hai loại nương rẫy khác nhau của