văn học và phật học trên báo chí phật giáo việt nam trước năm 1945 - Pdf 23

DẪN NHẬP

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Từ những năm đầu thế kỷ XX, các tạp chí, tờ báo Phật giáo nối
nhau ra đời, như Từ bi âm, Duy tâm, Viên âm, Đuốc tuệ, Tiếng chuông
sớm v.v góp phần không nhỏ cho phong trào Chấn hưng Phật giáo
cũng như cho sự phát triển nền văn hóa dân tộc. Chọn đề tài Văn học
và Phật học trên báo chí Phật giáo Việt Nam trước năm 1945 để
nghiên cứu, chúng tôi hy vọng có thể tìm về cội nguồn báo chí Phật
giáo, hiểu được văn học và tư tưởng Phật học giai đoạn này, từ đó hy
vọng có thể khơi dậy những giá trị tinh hoa của Phật giáo và của dân
tộc từ xưa đã được tạo nên.
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Từ trước đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử báo
chí Việt Nam trước 1945. Trong đó, có không ít công trình đề cập về
lịch sử báo chí Phật giáo.
Các công trình nghiên cứu về sự hình thành, phát triển của báo chí
Phật giáo trước 1945 và khái quát những cuộc tìm hiểu, trao đổi về tư
tưởng Phật học trên báo chí Phật giáo, gồm có: Báo chí tôn giáo tại
Việt Nam của Nguyễn Văn Ẩn (1972) (Khảo luận tốt nghiệp, ban Báo
chí học, phân khoa VH&KHNV, Viện Đại học Vạn Hạnh); Việt Nam
Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang (tập III) (2000); Triết học và tư
tưởng của giáo sư Trần Văn Giàu (1988); Báo chí Phật giáo với phong
trào Chấn hưng Phật giáo (1930-1945) của Thích Thanh Đạt (1994)
(Luận văn tốt nghiệp cử nhân Sử học, Đại học Tổng hợp Hà Nội);
Phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam (Tư liệu báo chí Việt Nam
từ 1927-1938) của Nguyễn Đại Đồng và Nguyễn Thị Minh (2008).
Nguyễn Lang đã đề cập khá chi tiết về tôn chỉ hoạt động và những
đóng góp chung của báo chí Phật giáo đối với Phật giáo và dân tộc nửa
đầu thế kỷ XX. Giáo sư Trần Văn Giàu đã đánh giá cao tư tưởng yêu
nước, khoa học của nhiều tờ báo, tạp chí, sách vở Phật giáo giai đoạn

đề hội nhập và phát triển” của Thích Thiện Bảo (2000) (website
daophatngaynay.com); “Sơ lược lịch sử báo chí Phật giáo Việt Nam”
của Trần Kiêm Đạt (2008) (website phattuvietnam.net) cũng đã trình
bày khái lược diện mạo một số tạp chí, tờ báo Phật giáo trước 1945.
Đồng thời, bài viết “Báo xuân Phật giáo xưa” của Nguyễn Ngọc Phan
(2012) (website khoavanhoc-ngonngu.edu.vn) đã khẳng định rằng báo
chí Phật giáo trong sự nghiệp xiển dương Phật pháp và chấn hưng Phật
giáo luôn gắn liền với nhân sinh thời cuộc, bộc lộ những ưu tư trăn trở
trước hoàn cảnh mất nước và sự cùng khổ của đồng bào.
Nhìn chung, mỗi công trình là một sự nỗ lực và đóng góp đáng kể
vào nền văn học Việt Nam nói chung, về phương diện báo chí và báo
chí Phật giáo Việt Nam nói riêng. Tuy nhiên, chưa có tác giả nào đề
cập cụ thể và toàn diện về diện mạo, giá trị và đặc điểm của báo chí
3
Phật giáo giai đoạn trước 1945 trên các lĩnh vực Phật học, văn học, văn
hóa tư tưởng, chính trị, kinh tế, xã hội v.v
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Với đề tài Văn học và Phật học trên báo chí Phật giáo Việt Nam
trước năm 1945, chúng tôi muốn giới thiệu một cách hệ thống, toàn
diện về báo chí Phật giáo trước 1945. Trên cơ sở đó luận án sẽ trình
bày những vấn đề Phật học và văn học trên bộ phận báo chí ấy. Về
Phật học, luận án sẽ trình bày về các phương diện: tư tưởng đạo đức,
thế giới quan Phật giáo, quan hệ Phật giáo với dân tộc và đại chúng…
Về văn học, luận án trình bày những đặc điểm về nội dung và nghệ
thuật của văn học Phật giáo Việt Nam trong giai này gồm các thể loại
thơ, văn xuôi, dịch văn học.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

tinh thần của dân tộc.
7. GIỚI THIỆU CẤU TRÚC LUẬN ÁN
Ngoài phần mục lục, dẫn nhập, kết luận, danh mục báo chí Phật giáo
và tài liệu tham khảo, luận án gồm 3 chương. Để người đọc tiện tham
khảo, luận án còn có phần phụ lục giới thiệu một số hình ảnh báo chí
Phật giáo, tổng thư mục thơ và văn trên báo chí Phật giáo trước 1945.

Chương 1
PHẬT GIÁO VÀ BÁO CHÍ PHẬT GIÁO VIỆT NAM
TỪ ĐẦU THẾ KỶ XX ĐẾN 1945

1.1. PHẬT GIÁO VIỆT NAM TỪ ĐẦU THẾ KỶ XX ĐẾN 1945
1.1.1. Tình hình Phật giáo Việt Nam đầu thế kỷ XX
Sau khi bình định được Việt Nam, chính quyền Pháp vì muốn loại
trừ ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo, nên đã quyết tâm loại bỏ chữ
Hán mà thay bằng chữ Pháp. Chúng đã cố tình loại trừ dần văn hóa dân
tộc và thay vào đó là văn hóa của phương Tây. Các khái niệm yêu
nước, trung quân, đạo đức tôn giáo, phong tục tập quán, tín ngưỡng…
đều bị phê phán là lạc hậu, lỗi thời. Đạo Phật hầu như bị gạt ra ngoài lề
đời sống của xã hội đương thời.
1.1.2. Nguyên nhân dẫn đến phong trào Chấn hưng Phật giáo
Giai đoạn những năm đầu thế kỷ XX, những biến động lịch sử
trong nước về các cuộc khởi nghĩa chống Pháp thất bại và những tư
tưởng về phong trào duy tân của các nhân sĩ trí thức yêu nước đã tác
động mạnh mẽ vào phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam. Nhiều
nhà nho chí sĩ đã đánh giá cao vai trò của Phật giáo truyền thống đối
với sự phát triển xã hội.
Nhìn rộng ra châu Á, phong trào Chấn hưng Phật giáo cũng diễn ra
tại nhiều nước như Tích Lan, Ấn Độ, Trung Quốc… nhằm khôi phục
các giá trị của Phật giáo, chấn hưng Phật học. Phong trào Chấn hưng

Phật giáo ở ba miền đất nước, nhìn chung chúng tôi thấy có những
điểm nổi trội chung nhất và khác biệt sau đây:
- Phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam được khởi xướng từ
Nam Kỳ, sau đó mới tác động đến sự ra đời của phong trào Chấn hưng
Phật giáo ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ.
- Những hoạt động của phong trào Chấn hưng Phật giáo ở Nam Kỳ
được phát triển rộng rãi khắp các vùng và mạnh hơn Trung Kỳ, Bắc
Kỳ. Các Hội Phật học ra đời ở Nam Kỳ cũng nhi
ều nhất, gồm: Hội
6
Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học (1931) tại Sài Gòn, Hội Phật giáo Liên
hữu tại Long Xuyên (1932), Hội Lưỡng Xuyên Phật học (1934), Hội
Phật giáo Tương Tế ở Sóc Trăng (1934), Hội Thiên Thai Thiền giáo
tông liên hữu ở Bà Rịa (1934). Ở Trung Kỳ chỉ có 3 Hội được thành
lập: Hội An Nam Phật học (1932) tại Huế, Hội Phật học Bình Định
(1932), Hội Đà Thành Phật học tại Đà Nẳng (1935) và một Đoàn
Thanh niên Phật học Đức Dục cũng được hình thành (1940). Ở Bắc Kỳ
có 3 Hội được thành lập: Hội Phật giáo Bắc Kỳ (1934), Hội Bắc Kỳ Cổ
sơn môn (1934), Hội Thanh niên Phật tử Việt Nam (1943).
- Các tổ chức Phật giáo được thành lập dưới hình thức các Hội ở ba
miền. Tùy theo khả năng và điều kiện của từng vùng miền, mỗi Hội
đều đề ra đường hướng, phương thức hoạt động, quy chế, nội quy riêng
cho tổ chức của mình. Điểm chung nhất là các Hội đều mở trường, lớp
Phật học để đào tạo tăng tài, tổ chức các đạo tràng để thuyết giảng Phật
pháp, xuất bản báo chí, phổ cập giáo lý đến đồng bào Phật tử các giới
bằng cách in ấn, biên dịch kinh sách chữ Hán ra chữ Quốc ngữ.
- Ở ba miền đều có sự tham gia đóng góp tích cực trong việc truyền

diện cho nền văn hóa dân tộc.
1.1.5. Những nhân vật tiêu biểu trong phong trào Chấn hưng
Phật giáo
Lịch sử cho thấy, phong trào Chấn hưng Phật giáo được khởi
xướng từ Hòa thượng Khánh Hòa tại Nam Kỳ, Hòa thượng Giác Tiên
tại Trung Kỳ và Hòa thượng Thanh Hanh tại Bắc Kỳ, là ba vị được tôn
là Tổ sư của phong trào Chấn hưng Phật giáo lúc bấy giờ. Ngoài ra, ở
ba Kỳ còn có những vị có nhiệt huyết và đóng góp công sức không nhỏ
cho phong trào, như ở Nam Kỳ: Hòa thượng Liên Tôn, Bích Liên, Trí
Thiền, Thiện Chiếu ; ở Trung Kỳ: Hòa thượng Phước Huệ, Bác sĩ
Tâm Minh Lê Đình Thám ; ở Bắc Kỳ: Hòa thượng Tuệ Tạng, Mật
Ứng, Tố Liên, Trí Hải cùng các cư sĩ: Nguyễn Năng Quốc, Thiều
Chửu, Trần Trọng Kim, Nguyễn Can Mộng, Nguyễn Trọng Thuật,
Phan Kế Bính
1.2. TÌNH HÌNH BÁO CHÍ PHẬT GIÁO VIỆT NAM TRƯỚC 1945
Trong luận án, chúng tôi cũng đã nghiên cứu và lần lượt trình bày
chi tiết về quá trình ra đời, sự hoạt động của báo chí Phật giáo trước
1945, cụ thể gồm:
1.2.1. Báo chí Phật giáo ở Nam Kỳ (Từ trang 41 đến trang 48)
1.2.2. Báo chí Phật giáo ở Trung Kỳ (Từ trang 48 đến trang 50)
1.2.3. Báo chí Phật giáo ở Bắc Kỳ (Từ trang 50 đến trang 55)
Trên cơ sở đó, chúng tôi rút ra những nhận xét sau đây:
- Báo chí ở Nam Kỳ ra đời sớm nhất và số lượng cũng chiếm nhiều
nhất, gồm có 9 tạp chí: Pháp âm (1929), Phật hóa Tân Thanh niên
(1929), Từ bi âm (1932), Duy tâm (1935), Tiến hóa (1938), Bồ đề
(1936), Bát nhã âm (1936), Pháp âm Phật học (1937), Phật pháp chỉ
Niết bàn (1941). Ở Trung Kỳ chỉ có 2 tạp chí: Viên âm (1933), Tam

trước 1945 là dấu ấn lịch sử, là nền móng, là tiền đề cho sự hình thành
và phát triển Phật giáo và báo chí Phật giáo hôm nay và mai sau.
Chương 2
PHẬT HỌC TRÊN BÁO CHÍ
PHẬT GIÁO VIỆT NAM TRƯỚC 1945
9

2.1. TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO TRÊN BÁO CHÍ
PHẬT GIÁO TRƯỚC 1945
Trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, báo chí Phật giáo là một trong
những phương tiện chính của công cuộc Chấn hưng Phật giáo Việt
Nam, nên việc truyền bá Phật học luôn được quan tâm hàng đầu. Hầu
như những tinh hoa giáo điển mang tính giáo dục trực tiếp đối với con
người mà các tạp chí đã thể hiện đều là những bài luận giảng về Phật
học và nói chung nội dung chứa đựng những tư tưởng khuyến thiện
trên tinh thần nhân quả - nghiệp báo, từ bi, hiếu đạo và lợi tha theo lời
Phật dạy.
2.1.1. Khuyến thiện và Nhân quả - nghiệp báo
Báo chí Phật giáo đầu thế kỷ XX đã khơi lại con đường xây dựng
hạnh phúc bằng triết lý nhân quả - nghiệp báo của đạo Phật. Từ triết lý
này, báo chí Phật giáo đã chuyển tải đến con người bức thông điệp đạo
đức cao quý là “khuyến thiện”. Tức là khuyên con người hiểu được
rằng những hành động của con người tạo ra là do ý điều khiển, ý làm
chủ, từ đó phát khởi ra những hành động từ miệng và thân. Những
hành động đó tạo thành nghiệp và phải thọ nhận quả báo về sau, tùy
theo nghiệp lành hay dữ. Cho nên, nếu ai muốn sống đời an vui, hạnh
phúc thì nên làm mọi điều lành, có lợi ích cho mình và người trong

động lợi tha, thiết thực đi vào đời để cứu giúp muôn người. Theo triết
lý đạo Phật, mỗi chúng sinh đều có Phật tính, thì tất nhiên cũng đã có
tính lợi tha, đó là một khía cạnh của tính Phật, nên phải tôn trọng lẫn
nhau và lấy sự cứu giúp muôn người làm mục tiêu tu tập. Con người
muốn có được cuộc sống hạnh phúc thì hãy nuôi dưỡng tính lợi tha
trong lòng mình, đừng bao giờ từ chối một việc lợi tha nào, dù đó là
việc nhỏ. Từ những việc làm lợi ích bình thường ấy, chúng ta tập tiến
dần trên con đường lợi tha, làm những việc ích lợi quan trọng và to lớn
hơn. Làm được như thế, nuôi dưỡng tính lợi tha đến trình độ viên mãn,
ấy chính là lúc chúng ta đã thành Phật.
2.2. THẾ GIỚI QUAN PHẬT GIÁO TRÊN BÁO CHÍ PHẬT
GIÁO TRƯỚC 1945
Trước sự xâm nhập mạnh mẽ của văn hóa phương Tây, cụ thể là sự
ảnh hưởng của nền khoa học hiện đại, những triết lý của đạo Phật thể
hiện trên báo chí Phật giáo giai đoạn những năm đầu thế kỷ XX cũng
theo xu hướng chuyển đổi từ đạo Phật cổ truyền sang khuynh hướng
thích ứng với thời đại khoa học, hay nói cách khác là cổ xúy cho tinh
thần “thay cũ đổi mới”. Có lẽ từ đó đã làm nảy sinh ra nhiều cuộc
tranh luận về tư tưởng thật sôi nổi giữa các tạp chí Phật giáo, nhằm
mục đích làm sáng tỏ tư tưởng Phật giáo xưa cũng như nay. Những
vấn đề thế giới quan Phật giáo được thảo luận nhiều nhất là quan niệm
về Thượng đế, linh hồn, thế giới Cực lạc, địa ngục và về ngoại giới…
2.2.1. Vấn đề Thượng đế sáng tạo muôn vật
11
Cả ba tạp chí, tờ báo Phật học lớn của ba Kỳ là Duy tâm, Viên âm,
Đuốc tuệ đều lấy tinh thần vô thỉ vô chung, vạn vật do duyên sinh,
không có tự tính, không thực có mà đánh đổ quan điểm Thượng đế

Phật giáo không quan niệm có linh hồn bất tử, vì như giáo lý Vô
ngã đề cập, không hề có một bản ngã hay cái ngã linh hồn nào trường
tồn bất diệt, mà chỉ có dòng nghiệp thức của các chúng hữu tình luôn
sinh diệt. Nếu có một cái ngã linh hồn bất tử, thì con vật không thể sau
12
khi phát triển thiện nghiệp qua nhiều đời, có thể chuyển sinh sang làm
kiếp con người; hoặc là con người không thể chuyển sinh thành một vị
Bồ tát hay một vị Phật. A lại thức, là Thức hay Nghiệp thức do vô
minh từ vô thỉ mà có. Nó là vọng thức, luôn luôn vận hành, biến đổi
theo hoàn cảnh và hành tác của một người, và là động lực khiến chúng
sinh đi đầu thai, trôi lăn trong sinh tử luân hồi. Nếu biết tu tập, Thức sẽ
biến thành Trí tuệ tuyệt đối, thành giải thoát tối hậu, chấm dứt sinh tử,
chứng đạt Niết bàn.
2.2.3. Vấn đề cảnh giới Cực lạc và địa ngục
Tạp chí Tiến hóa, Viên âm và Quan âm đều cùng chung quan điểm
cho rằng cảnh Niết bàn, Tây phương Cực lạc đều không phải là cảnh
có thực, đó chỉ là sự yên tĩnh trong tâm của con người, do chính tâm
mình tạo ra và ngay ở thế gian này. Tâm là Phật, Phật là tâm, ngoài
tâm không có Phật.
Liên Tôn, chủ bút tạp chí Từ bi âm và nhiều học giả khác trên tạp
chí Bát nhã âm, Tam bảo và báo Đuốc tuệ đều lên tiếng tranh cãi với
cách luận giải đó. Tất cả đều khẳng định tư tưởng cho rằng có cảnh
giới Cực lạc và địa ngục. Nếu để ba nghiệp (thân, khẩu, ý) theo con
đường ác thì sẽ sinh vào địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh; nghiệp trung
bình thì sinh ra làm Người, làm Tu la (Quỷ thần); còn tạo nghiệp lành
thì được sinh lên cõi Cực lạc.
Khi bàn về cảnh giới, đã có rất nhiều kinh điển Phật giáo đề cập

diệt…”. Từ chỗ nhận định ấy, báo chí Phật giáo lúc bấy giờ như Viên
âm, Đuốc tuệ hầu như đi đến kết luận “các pháp không có thực tính”.
Đây chính là quan điểm thứ nhất của thuyết duy thức Phật giáo cho
rằng “vạn pháp không thực có”, mọi vật đều do “nhân duyên giả hợp”.
Tuy nhiên, với báo chí Phật giáo, để lý giải rõ hơn về vạn vật và con
người, họ đã dựa vào Duy thức luận của Phật giáo, còn nhận định con
người qua thuyết “vô ngã”, tức cho rằng con người không có thực ngã.
Đây là đặc điểm thứ hai của thuyết duy thức. Nhiều bài viết trên Đuốc
tuệ tỏ vẻ đồng tình với quan điểm này. Tất cả các sự vật hiện tượng
đều do nhân duyên sinh, vì do nhân duyên sinh nên không thực có, vì
không thực có nên gọi là Vô ngã. Mọi sự vật hiện tượng vô ngã là vì
do duyên sinh, đã do duyên sinh thì phải theo duyên diệt, nên cũng gọi
là vô thường.
Từ luận điểm cho rằng mọi sự vật và cả con người đều theo lý vô
thường, vô ngã và duyên sinh, duy thức Phật giáo đi đến kết luận “vạn
pháp duy thức”. Để lý giải cho thuyết này, báo chí Phật giáo như Đuốc
tuệ, Bát nhã âm, Viên âm…đã đề cập rất nhiều đến những khái niệm
“có” và “không”.
Nhìn chung, tư tưởng về ngoại giới của Phật giáo thể hiện tập trung
ở nội dung của ba phạm trù: vô ngã, vô thường và duyên, rồi dẫn đến
kết luận “vạn pháp duy thức”. Phật giáo cho rằng “vạn pháp duy thức”
14
là để xác minh vạn vật vô thường, giả huyễn, không đáng để quyến
luyến, vọng tưởng. Và khi con người hết vọng tưởng thì mới hết chịu
cảnh luân hồi sinh tử khổ đau. Đó là quan điểm biện chứng về thế giới,
tuy còn mộc mạc, chất phác nhưng rất đáng trân trọng.
Những lập luận của các bài viết trên báo chí về Thượng đế, linh
15
và dân tộc. Chính tinh thần vì muôn dân ấy mà Phật giáo luôn sáng
mãi trong lòng dân tộc Việt Nam.
2.3.2. Phật giáo với đại chúng
Quá trình truyền bá Phật học mà báo chí Phật giáo trước 1945 đã
thể hiện, đã cho ta thấy rõ tính đại chúng tiêu biểu của Phật giáo giai
đoạn này như sau:
- Tính phổ cập: Báo chí Phật giáo đã truyền bá nhiều bài giáo lý
phổ thông, mang lợi ích thiết thực cho con người nên hầu như đều
được quần chúng đón nhận và thực hành ngay trong cuộc sống trên các
lĩnh vực.
- Tính tuyên truyền: Báo chí Phật giáo đã cổ động, kêu gọi, thức
tỉnh được lòng dân xóa bỏ mê tín dị đoan, hướng được tâm thức của
người dân sống theo con đường chân chính.
- Tính giáo dục: Báo chí Phật giáo đã tác động, truyền bá những tư
tưởng đạo đức nhằm giáo dục nhân cách sống cho muôn dân.
Như vậy cũng đủ cho chúng ta thấy rằng Phật giáo luôn hòa nhập
với đời số
ng dân chúng Việt Nam, được quần chúng đón nhận nồng
nhiệt, thực hiện rất đúng đắn và đã mang lại nhiều thành quả tốt đẹp
cho đời sống nhân sinh.
TIỂU KẾT
Nhìn chung, Phật học trên báo chí Phật giáo trước 1945 đều chú
trọng mục đích giáo dục quần chúng qua việc truyền bá những tư
tưởng đạo đức như tính thiện, từ bi, hiếu đạo, lợi tha v.v vừa mang ý
ngh
ĩa giáo dục, vừa hun đúc tinh thần văn hóa dân tộc, yêu quê hương
đất nước. Chính lối truyền bá Phật học cơ bản và phù hợp với tín

Viên âm, Đuốc tuệ, Duy tâm Phật học, Tiếng chuông sớm, Bồ đề, Bát
nhã âm, Pháp âm Phật học, Tam bảo, Tiến hóa, Quan âm đều có đăng
thơ và văn xuôi (xem phụ lục 3, 4).
Qua số lượng tác phẩm thơ, văn xuôi trên mỗi tạp chí thống kê
được đã cho thấy sự tiếp nối của văn học Phật giáo được thể hiện khá
sâu sắc trên báo chí Phật giáo trước 1945. Với mục đích tải đạo, truyền
giảng giáo lý Phật giáo, những tác phẩm văn học Phật giáo ấy đồng
thời đã góp phần không nhỏ vào quá trình phát triển chữ Quốc ngữ và
kiến tạo nền văn học Việt Nam hiện đại. Sự góp mặt đầy đủ của các
thể loại thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn, tùy bút, ký… và một số lượng
đông đảo tác giả, tác phẩm văn học đã khẳng định sự tồn tại của một
bộ phận văn học Phật giáo trên báo chí Phật giáo Việt Nam trước 1945.
3.2. DỊCH KINH PHẬT - MỘT LOẠI HÌNH DỊCH VĂN HỌC
ĐẶC BIỆT
Để phổ biến chữ Quốc ngữ và đáp ứng nhu cầu của công chúng, từ
cuối thế kỷ XIX đến những năm đầu thế kỷ XX, Việt Nam đã tập trung
17
dịch các loại sách truyền thống như: kinh sách Hán văn, các truyện
Nôm Việt Nam, các loại truyện thơ khuyết danh, và sau đó là phong
trào dịch tác phẩm văn học cổ điển của Trung Quốc (phần lớn là tiểu
thuyết chương hồi). Tình hình này phổ biến trên cả nước, trên các tờ
báo và sách in. Ý thức được điều này, nhiều học giả, nhà tu hành đã
trực tiếp tham gia chuyển dịch những bản kinh có giá trị của Phật giáo
từ chữ Hán sang chữ Việt, giúp giới học Phật có thể đọc hiểu một cách
dễ dàng những lời Phật dạy mà ứng dụng tu tập và giúp cho Phật giáo
Việt Nam có những bản kinh bằng tiếng Việt. Quá trình dịch thuật này
còn góp phần to lớn trong việc hiện đại hóa chữ Quốc ngữ, đem đến

18
Hán - Việt, một dòng dịch chữ Việt; hoặc một đoạn nguyên văn chữ
Hán, một đoạn phiên âm chữ Việt, rồi đến phần giảng giải. Văn phong
dịch dẫu chưa trôi chảy, nhưng ý rõ ràng. Phương pháp dịch cũng
mang ý nghĩa khoa học, tức là có trích cả nguyên bản, dịch âm rồi mới
dịch nghĩa, tạo cho người đọc cảm giác an tâm, nhẹ nhàng, dễ hiểu.
Những tác phẩm kinh điển này thật sự đã đem đến cho quần chúng độc
giả lúc bấy giờ tầm nhìn mới về văn học cũng như nhiều cảm hứng
mới khi họ được tiếp cận. Những người đóng góp lớn lao cho quá trình
dịch thuật này là Hòa thượng Bích Liên, sa môn Thái Hòa, sa môn Trí
Hải, Tâm Minh, Tâm Điền, Trí Quang, Trí Độ, Thiều Chửu, Nguyễn
Thượng Cần v.v Đây là những công trình đáng ghi nhận, có giá trị lâu
dài và làm phong phú thêm kho tàng văn học Việt Nam.
3.3. GIÁ TRỊ NỘI DUNG CỦA THƠ VĂN PHẬT GIÁO TRÊN
BÁO CHÍ PHẬT GIÁO TRƯỚC 1945
3.3.1. Giáo dục tư tưởng đạo đức Phật giáo
Nội dung giáo dục tư tưởng đạo đức Phật giáo qua thơ ca, văn xuôi
trên báo chí Phật giáo trước 1945 tập trung thể hiện các nội dung: lẽ vô
thường, nguồn gốc khổ đau, tính thiện, tri ân báo ân… nhằm mục đích
truyền giảng giáo lý Phật giáo. Những bài thơ được viết giản dị, gần
gũi, quen thuộc với mọi đối tượng, mọi lứa tuổi để dễ đọc, dễ nhớ.
Nhờ thế, những giáo lý cao sâu của nhà Phật dễ dàng đi vào đời sống
nhân dân, để bảo lưu, gìn giữ và phát huy những phẩm chất, lối sống
cao đẹp của người Việt Nam. Cho nên nói, việc khơi lại, giữ gìn và
phát huy những tư tưởng đạo đức Phật giáo qua thơ ca trên báo chí
Phật giáo cũng chính là việc giữ gìn, bảo lưu những truyền thống quý
báu của con người và dân tộc Việt Nam. Đó cũng là những đóng góp
thiết thực có giá trị của những bài thơ và những nhà thơ theo tinh thần
Phật giáo.
Những tác phẩm văn xuôi là sự kế thừa và kết hợp một cách khá

giáo trước 1945 tương đối nhiều, mỗi tác phẩm đều để lại cho con
người một bài học đích thực về cách sống ở đời. Cách ứng xử nhân đạo
của Phật giáo qua việc ứng dụng triết lý nhân quả của những tác phẩm
văn xuôi ấy là thể hiện tinh thần tôn trọng lẫn nhau, là quyền tự chủ
của mọi người, là sự yêu thương giữa người với người, không ai có
quyền xúc phạm hay quyết định cuộc đời của người khác, mà tự bản
thân mỗi người có quyền làm chủ bản thân mình. Chỉ cần tự mình phấn
đấu nỗ lực và sống lương thiện, nhất định sẽ có ngày vinh quang tươi
sáng. Từ đó có thể hiểu đặc trưng hướng nội của Phật giáo là giúp con
người tự suy ngẫm về bản thân, cân nhắc các hành động để không gây
ra đau khổ, bất hạnh cho mình và người khác. Nó giúp con người biết
sống thân ái, yêu thương nhau và làm cho xã hội yên bình.
Nhìn chung, những tác phẩm văn học trên báo chí Phật giáo
trước 1945 đã cho thấy có sự thay đổi trong nội dung tác phẩm. Các
câu chuyện đã chuyển từ những đề tài luân lý đạo đức trung hiếu tiết
20
nghĩa theo triết lý Nho giáo sang triết lý Phật giáo. Điều đó chứng tỏ
những sáng tác văn học trên báo chí Phật giáo có sự gắn kết, gần gũi
với cuộc sống đời thường của con người hơn. Có thể nói, nội dung tác
phẩm gần gũi với cuộc sống là một trong những đóng góp đưa văn
xuôi trung đại chuyển dần sang văn xuôi hiện đại. Tuy nhiên, những
tác phẩm văn học Phật giáo thời kỳ này cũng còn những hạn chế là
chưa được phong phú về nội dung thể hiện và đa dạng về chủ đề, đề tài.
Có những tác phẩm chưa thể hiện được sâu sắc nội dung tư tưởng và
còn mang tính minh họa giản đơn cho giáo lý nhà Phật.
3.4. GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT CỦA THƠ VĂN PHẬT GIÁO
TRÊN BÁO CHÍ PHẬT GIÁO TRƯỚC 1945

nghệ thuật của các nhà thơ luôn thể hiện được sự kết hợp giữa đạo và
đời. Thế giới nội tâm của các nhà thơ không chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa
của từ ngữ mà bằng cả âm thanh, nhịp điệu và hình tượng của những từ
ngữ ấy. Điều đó cho biết họ đã biểu hiện được sự tập trung tính hàm
súc phong phú của ngôn ngữ.
Có thể nói, các nhà thơ với những tác phẩm đăng trên báo chí Phật
giáo Việt Nam giai đoạn này đã kế thừa và tiếp nối được tư tưởng, triết
lý của thơ ca thời Lý - Trần, nên họ đã sáng tạo ra những dòng thơ đầy
ý vị về cuộc sống và con người. Dù giá trị nghệ thuật chưa đạt tới đỉnh
cao, nhưng mỗi lời, mỗi ý, mỗi hình tượng và cả giọng điệu diễn tả đều
mang tính chân thành, chân chất, trong sáng và gần gũi với đời sống
hằng ngày của con người.
3.4.2. Giá trị nghệ thuật của văn xuôi
3.4.2.1. Nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật
Sự miêu tả
ngoại hình và khai thác tâm lý nhân vật của các nhà văn
trên báo chí Phật giáo trước 1945 vẫn theo lối truyền thống, theo quan
niệm “thiện” và “ác”. Những diễn biến tốt đẹp của tâm lý nhân vật
truyền thống đã gửi gắm, truyền tải được những thông điệp của giáo lý
nhà Phật tới đông đảo quần chúng nhân dân. Diễn biến tâm lý nhân vật
đôi lúc đã có chút phức tạp, mang tính bi kịch được thể hiện rất h
ợp lý,
nhưng nhìn chung, các nhân vật vẫn chưa có những thay đổi lớn. Tính
minh họa cho giáo lý nhà Phật của các nhân vật vẫn còn đậm nét. Nhân
vật bước đầu đã chuyển từ những biểu tượng đơn thuần để trở thành
những nhân vật sống động. Đây là một trong những đóng góp cho sự
đổi mới văn học Việt Nam. Đồng thời nó còn góp phần mở ra thời đại
mới cho thể loại truyện trong văn học nước ta những năm đầu thế kỷ
XX và sau này.
3.4.2.2. Kết cấu tác phẩm

đồ của tác giả. Họ đã lồng những tình cảm, thái độ, quan điểm của
mình qua ngôn ngữ đối thoại của các nhân vật. Tuy nhiên, nhìn một
cách tổng thể có thể nói, ngôn ngữ kể chuyện và đối thoại mà những
tác giả sử dụng trong các tiểu thuyết, truyện ngắn còn đơn giản theo lối
văn biền ngẫu đầy tính ước lệ tượng trưng của ngôn ngữ văn học trung
đại, chưa có những cách tân nổi bật.
TIỂU KẾT
Văn học trên báo chí Phật giáo trước 1945 dẫu chưa phải là phong
phú, nhưng đã đem đến cho độc giả những cảm nhận sâu sắc về nội
dung và nghệ thuật văn chương, những cách nhìn mới về cuộc sống, về
đạo Phật và góp phần làm giàu nền văn học dân tộc. Những tác phẩm
dù được viết dưới dạng thơ hay văn xuôi cũng đều mang đậm tính chất
nhân đạo và tinh thần yêu quê hương, đất nước, đó là tinh thần phát
huy đạo Phật, phụng sự Tổ quốc.
23
Những ý tưởng giản dị thể hiện qua từng truyện ngắn, tùy bút, tiểu
thuyết hay những bài xã luận đã chuyển tải đầy đủ ý nghĩa cuộc sống,
nói lên những ưu tư của người con đất Việt trước hiện trạng đất nước,
lại mang tính giáo dục thâm sâu về đạo làm người, về nhân cách sống
cũng như tinh thần yêu quê hương, đất nước. Lối hành văn nhìn chung
là sáng sủa, mạch lạc, đã đáp ứng được phần nào nhu cầu văn hóa, văn
nghệ cho mọi tầng lớp độc giả. So với việc đăng tải văn học trên báo
chí Phật giáo ngày nay, có thể nói văn học trên báo chí Phật giáo trước
1945 còn ít. Nội dung về thơ, truyện lúc bấy giờ cũng không thật đa
dạng và phong phú, Hơn nữa, báo chí Phật giáo lúc bấy giờ ít có sự
tham gia của các nhà văn, nhà thơ chuyên nghiệp mà phần lớn là các
tác giả xuất thân từ những người tu sĩ, Phật tử. Họ là những người chỉ

giống nhau ở mục tiêu cùng đấu tranh quyết liệt với các thế lực ngoại
bang, chống lại các hủ tục, mê tín dị đoan của Phật giáo thời bấy giờ.
Những tư tưởng, triết lý Phật học chung nhất mà báo chí Phật giáo thể
hiện là triết lý nhân quả, đức tin, đạo hiếu, lòng vị tha, tư tưởng vì dân
tộc, thuyết vô thường, vô ngã, nhân duyên Những tranh luận về
Thượng đế tạo vật, linh hồn bất tử, Cực lạc, địa ngục và ngoại giới đã
mở ra cho một cách nhìn đúng đắn, phù hợp với khoa học.
Về phần văn học, việc phiên dịch kinh Phật trên báo chí Phật giáo
trước 1945 có thể coi như một loại hình dịch văn học đặc biệt để
chuyển tải giá trị tinh hoa của văn học Phật giáo nước ngoài vào Việt
Nam. Bộ phận sáng tác văn học trên báo chí Phật giáo trước 1945 là
một loại hình sáng tác đặc biệt. Dầu chưa theo kịp xu hướng hiện đại
hóa đang xảy ra, nhưng với các thể loại văn thơ truyền thống, văn học
trên báo chí Phật giáo thể hiện được một cách sâu sắc tư duy, tình cảm
của Phật tử, những bài học về đạo đức, góp phần phát huy tinh thần
Phật giáo cũng như truyền thống quý báu của dân tộc.
Báo chí Phật giáo Việt Nam ngày nay đã phát huy được rất nhiều
phương hướng mới từ sự kế thừa của báo chí Phật giáo trước 1945.
Điểm kế thừa nổi bật của báo chí Phật giáo hiện nay là làm rõ các vấn
đề tín ngưỡng trong đời sống xã hội, tạo điều kiện cho những ai đang
trăn trở với đức tin có tầm nhìn đúng đắn, khách quan hơn về tôn giáo.
Nhìn chung, việc nghiên cứu Phật học và văn học trên báo chí Phật
giáo Việt Nam trước năm 1945 mở ra triển vọng nghiên cứu rất lớn: từ
hướng nghiên cứu này, có thể có những đề tài nghiên cứu tiếp theo:
Phong trào chấn hưng Phật giáo, lịch sử Phật giáo cận đại, lịch sử
phiên dịch kinh Phật, ngôn từ Phật giáo trước 1945… Văn học Phật
giáo trên báo chí và sách vở trước 1945 cần phải được tiếp tục nghiên
cứu và giảng dạy ở các chương trình cao cấp Phật học. Nếu có điều
kiện, các cơ sở nghiên cứu Phật học, các trường đại học có thể mở một
vài buổi hội thảo về những vấn đề Phật học và văn học trên báo chí


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status