Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty cổ phần ngân sơn - Pdf 23

Luận văn cuối khóa Mục lục
MỤC LỤC
Hình 1: Sơ đồ tổ chức của công ty cổ phần Ngân Sơn 25
Hình 2: Quy trình sơ chế thuốc lá của công ty cổ phần Ngân Sơn 27
Trần Thanh Thu – K43/11-02 1
Luận văn cuối khóa Mục lục
MỤC LỤC BẢNG BIỂU
Biểu 1: Một số chỉ tiêu về kết quả sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần
Ngân Sơn trong 5 năm gần đây 28
Biểu 4: Bảng phân tích vốn lưu chuyển và nhu cầu vốn lưu chuyển 35
Biểu 5: Hiệu quả SD VLĐ của công ty năm 2008 37
Biểu 6:Tình hình biến động TSCĐ năm 2008 của công ty cổ phần Ngân Sơn
40
Biểu 7:Tình trạng kỹ thuật TSCĐ năm 2008 của công ty cổ phần Ngân Sơn
41
Biểu 8: So sánh hiệu quả VCĐ của công ty năm 2008 với năm 2007 42
Biểu 9: Kết quả HĐKD của công ty trong các năm 2005-2008 43
Biểu 10: Đánh giá các chỉ tiêu sinh lời của công ty giai đoạn 2005- 2008 45
Biểu 11: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở
hữu 47
Biểu 12:Các mục tiêu kinh doanh chủ yếu của năm 2009 51
Biểu 13 :Nguồn hình thành vốn kinh doanh của công ty 54
MỤC LỤC HÌNH VẼ
Hình 1: Sơ đồ tổ chức của công ty cổ phần Ngân Sơn 25
Hình 2: Quy trình sơ chế thuốc lá của công ty cổ phần Ngân Sơn 27
Trần Thanh Thu – K43/11-02 2
Luận văn cuối khóa Lời mở đầu
LỜI MỞ ĐẦU
Công cuộc đổi mới đã đưa nền kinh tế nước ta hoạt động theo cơ chế
mới.Một thời gian dài hoạt động theo cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp
các doanh nghiệp quen với tư tưởng làm việc ỷ lại, không quan tâm đến

sự chỉ bảo ân cần của các anh , các chị trong phòng tài chính - kế hoạch
của công ty, em đã mạnh dạn đi sâu nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp
nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty cổ phần
Ngân Sơn”. Nội dung của bài này chia làm 3 chương chính:
 Chương 1: Vốn kinh doanh và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn kinh doanh ở công ty cổ phần Ngân Sơn.
 Chương 2: Tình hình tổ chức và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh ở
công ty cổ phần Ngân Sơn năm 2008.
 Chương 3: Một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn kinh doanh của công ty cổ phần Ngân Sơn.
Đề tài này nhằm mục đích phân tích vai trò của vốn kinh doanh, thực
trạng tình hình sử dụng vốn kinh doanh của công ty trong những năm gần
đây, những thuận lợi và khó khăn cũng như hiệu quả đạt được, trên cơ sở
đó đưa ra một số kiến nghị góp phần giúp công ty nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn kinh doanh.
Trần Thanh Thu – K43/11-02 4
Luận văn cuối khóa Lời mở đầu
CHƯƠNG I: VỐN KINH DOANH VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG
CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH TRONG CÁC
DOANH NGHIỆP
1.1. Vốn kinh doanh và nguồn hình thành vốn kinh doanh của doanh
nghiệp.
1.1.1. Vốn kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.1.1.Khái niệm về vốn kinh doanh
Theo luật doanh nghiệp năm 2005, doanh nghiệp là tổ chức kinh tế
có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh
doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động
kinh doanh.
Doanh nghiệp là chủ thể kinh doanh phổ biến và chủ yếu.Một trong
những đặc điểm quan trọng để phân biệt chủ thể kinh doanh với các tổ chức

động không ngừng tạo nên sự tuần hoàn liên tục giữa quá trình sản xuất và
tái sản xuất trong hoạt động của doanh nghiệp. Kỳ luân chuyển vốn có thể
dài hơn hoặc bằng chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.Quá trình luân
chuyển của vốn được thể hiện qua sơ đồ sau:
T – H …SX…H- T

Trong quá trình vận động trên, nếu T

> T, doanh nghiệp kinh doanh
có lãi.Ngược lại, khi T >T

doanh nghiệp đã kinh doanh không có hiệu
qủa. Vốn bắt đầu bằng hình thái tiền tệ, tiếp đến là hình thái vật tư hàng
hóa sử dụng trong quá trình sản xuất lao vụ dịch vụ và kết thúc ở hình thái
tiền khi giá trị hàng hoá dịch vụ được thực hiện. Do sự luân chuyển không
ngừng đó mà tại một thời điểm bất kỳ trong hoạt động SXKD của doanh
nghiệp. Vốn kinh doanh có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau.
Do đặc điểm kinh tế kỹ thuật của từng ngành kinh doanh khác nhau
mà vốn kinh doanh cũng có những đặc điểm khác nhau.
 Trong lĩnh vực sản xuất thì vốn kinh doanh vận động tuần tự theo sơ
đồ trên
 Trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ vốn vận động theo sơ đồ: T- H –
T

Trần Thanh Thu – K43/11-02 6
Luận văn cuối khóa Lời mở đầu
 Trong lĩnh vực tiền tệ sơ đồ vận động của vốn là: T- T

1.1.1.4. Phân loại vốn kinh doanh
Nếu xét theo vị trí, vai trò và đặc điểm chu chuyển của các bộ phận

-Vốn lưu động của doanh nghiệp:
Vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn ứng ra để hình thành nên
TSLĐ cuả doanh nghiệp đảm bảo cho quá trình hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp diễn ra một cách thường xuyên, liên tục và trong quá trình
chu chuyển, giá trị của vốn lưu động được chuyển dịch một lần và được thu
hồi toàn bộ khi kết thúc quá trình tiêu thụ sản phẩm. Vốn lưu động hoàn
thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh.
Vốn lưu động là một bộ phận của vốn SXKD ứng ra để hình thành
nên TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông phục vụ cho quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. TSLĐ sản xuất là những vật tư đang trong quá
trình dự trữ sản xuất hay chế biến ) nguyên nhiên vật liệu, phụ tùng thay
thế, sản phẩm dở dang,…) có vai trò đảm bảo cho quá trình sản xuất không
bị gián đoạn. TSLĐ lưu thông bao gồm các hàng hoá thành phẩm chờ tiêu
thụ, các loại vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán, chi phí chờ kết chuyển,
chi phí trả trước. Hai loại TSLĐ này luôn vận động thay thế và chuyển hoá
lẫn nhau trong quá trình SXKD của doanh nghiệp.
Khác với TSCĐ, TSLĐ của doanh nghiệp luôn thay đổi hình thái
biểu hiện khi tham gia vào quá trình kinh doanh. Giá trị của nó được
chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm. Vì vậy đặc điểm luân
chuyển của vốn lưu động cũng khác so với vốn cố định. Vốn lưu động bắt
đầu từ hình thái tiền tệ chuyển sang hình thái vật tư hàng hoá dự trữ. Trong
giai đoạn sản xuất, vốn lưu động tồn tại dưới dạng sản phẩm dở dang, bán
thành phẩm. Kết thúc sản xuất, vốn lưu động chuyển sang hình thái sản
phẩm chờ tiêu thụ và quay trở lại hình thái tiền ban đầu khi giá trị thành
phẩm được thực hiện. Do quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra một cách
liên tục nên vốn lưu động cũng vận động không ngừng tạo ra sự chu
chuyển vốn và tại một thời điểm, vốn lưu động có thể tồn tại dưới nhiều
hình thức khác nhau, cả trong sản xuất và lưu thông hàng hoá.
Đặc điểm chu chuyển của vốn lưu động đòi hỏi công tác tổ chức
quản lý và sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp phải thực sự có hiệu

ròng từ thanh lý tài sản cố định
 Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp gồm có:
o Nguồn vốn liên doanh: là số vốn được hình thành từ sự đóng
góp của các bên tham gia liên doanh. Vốn góp liên doanh có
thể bằng tiền hoặc bằng hiện vật (vật tư, hàng hoá,…).
Trần Thanh Thu – K43/11-02 9
Luận văn cuối khóa Lời mở đầu
o Nguồn vốn đi vay: số vốn này có thể là các khoản vay nợ có
kỳ hạn của các ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính
khác hoặc là khoản vay thông qua phát hành trái phiếu trên thị
trường vốn.
o Nguồn vốn chiếm dụng: là các khoản vốn phát sinh trong quan
hệ thanh toán giữa doanh nghiệp với các đối tượng khác như
người bán, CBCNV, Nhà nước…đây là nguồn vốn mà doanh
nghiệp có thể tạm thời sử dụng mà không phải trả chi phí sử
dụng vốn. Do đó doanh nghiệp nên tận dụng tối đa nguồn vốn
này.
Cách phân loại này cho thấy cơ cấu huy động vốn của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp phải chủ động tích cực huy động vốn, duy trì nguồn vốn cũ,
tìm kiếm thêm những nguồn vốn mới, có biện pháp hữu hiệu để khai thác
được các lợi thế từ bên ngoài và tận dụng khả năng sẵn có. Đối với những
nguồn vốn bên trong, doanh nghiệp có toàn quyền sử dụng và tiết kiệm
được chi phí sử dụng vốn, song chính vì thế mà thường gây ra tâm lý ỷ lại,
sử dụng vốn kém hiệu quả. Do đó đối với nguồn vốn này, doanh nghiệp
phải theo dõi sát sao tranh để gây ra tình trạng thất thoát vốn.Thêm vào đó,
sự giới hạn về quy mô nguồn vốn cũng gây nhiều khó khăn cho doanh
nghiệp khi có nhu cầu đầu tư dài hạn.Vì vậy doanh nghiệp nên chủ động
tìm thêm nguồn tài trợ bên ngoài.
Đối với những nguồn vốn bên ngoài, doanh nghiệp cần phải cân
nhắc kỹ ưu và nhược điểm của từng nguồn cũng như tình hình của doanh

nghiệp. Nguồn vốn này bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng
hoặc các tổ chức tín dụng và các khoản vốn doanh nghiệp được tạm
thời chiếm dụng.
 Nguồn vốn thường xuyên: là nguồn vốn tương đối ổn định mà doanh
nghiệp có thể sử dụng lâu dài, gồm vốn chủ sở hữu và các khoản vay
nợ dài hạn. doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn này để đầu tư, mua sắm
hình thành nên TSCĐ và đáp ứng một phần nhu cầu vốn lưu động
thường xuyên cần thiết cho hoạt động SXKD của doanh nghiệp.
Cách phân loại này giúp cho người quản lý huy động được các
nguồn vốn phù hợp với thời hạn sử dụng để đáp ứng nhu cầu vốn của
doanh nghiệp mình. Mặt khác, trên cơ sở xác định số vốn cần có, các nhà
quản lý lập kế hoạch tài chính, kế hoạch khai thác nguồn vốn và kế hoạch
sử dụng vốn để đạt hiệu quả cao nhất.
Trần Thanh Thu – K43/11-02 11
Luận văn cuối khóa Lời mở đầu
1.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của
các doanh nghiệp trong điều kiện nền kinh tế thị trường
1.2.1. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh
nghiệp
Nền kinh tế thị trường là một guồng máy khổng lồ với nhiều thành
phần cùng đan xen hoạt động. Để tồn tại và phát triển trong cơ chế đó, các
doanh nghiệp phải năng động sáng tạo, bám lấy thị trường, ứng dụng khoa
học công nghệ mới vào sản xuất, đầu tư đổi mới máy móc thiết bị, đa dạng
hoá thành phẩm và phấn đấu hạ giá thành. vì thế doanh nghiệp cần phải có
vốn. Vốn là tiền đề, là cơ sở của sản xuất kinh doanh và việc sử dụng vốn
có hiệu quả có ý nghĩa quyết định đối với sự tăng trưởng và phát triển của
doanh nghiệp. Do đó trong công tác quản lý tài chính doanh nghiệp phải
luôn coi trọng việc quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn là với quy mô vốn hiện có, bằng sự kết hợp hàng loạt
các biện pháp tổ chức kinh tế, kỹ thuật và tài chính doanh nghiệp có thể đạt

mua của đồng tiền bị giảm sút dẫn đến giá cả vật tư hàng hoá tăng lên, nếu
doanh nghiệp không kịp thời điều chỉnh các loại tài sản đó thì sẽ làm cho
vốn kinh doanh của doanh nghiệp bị mất dần theo tốc độ trượt giá của tiền
tệ. Mặt khác những rủi ro khó lường trước được như sự bất ổn của thi
trường, thiên tai, hoả hoạn… cũng ảnh hưởng xấu đến hiệu quả sử dụng
vốn kinh doanh.
 Xét về mặt chủ quan
Việc xác định nhu cầu vốn hay việc lựa chọn phương án đầu tư cũng
là những nhân tố cơ bản ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sử dụng vốn. Vốn
được xác định thừa hay thiếu, các sản phẩm sản xuất ra không phù hợp với
thị hiếu người tiêu dùng đều làm giảm hiệu quả của đồng vốn được sử
dụng.
Ngoài ra cơ cấu vốn bất hợp lý cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến
hiệu quả sử dụng vốn. Bởi vì vốn đầu tư vào nhiều vào những tài sản không
cần sử dụng thì không những không phát huy được tác dụng trong quá trình
SXKD mà còn bị hao hụt, mất mát dần làm giảm hiệu quả sử dụng vốn.
Việc sử dụng lãng phí vốn, nhất là vốn lưu động như: mua các loại
vật tư không phù hợp với quy trình sản xuất, không đúng tiêu chuẩn kỹ
thuật và chất lượng qui định, không tận dụng hết các loại phế phẩm, phế
Trần Thanh Thu – K43/11-02 13
Luận văn cuối khóa Lời mở đầu
liệu cũng tác động không nhỏ đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của
doanh nghiệp
Trình độ quản lý của doanh nghiệp yếu kém, hoạt động kinh doanh
thua lỗ kéo dài làm vốn bị thâm hụt dần sau mỗi chu kỳ sản xuất dẫn đến
hiệu quả sử dụng vốn giảm.
Trên đây là những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng
vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Để hạn chế những thiệt hại do chúng
gây nên, các doanh nghiệp cần xem xét, nghiên cứu chi tiết từng nhân tố
một, nhăm giảm tới mức thấp nhất những hậu qủa xấu có thể xảy ra đáp

được thể hiện ở số lợi nhuận doanh nghiệp thu được trong kỳ và mức sinh
lời của đồng vốn kinh doanh.Lợi nhuận là chỉ tiêu tuyệt đối, để đánh giá
đầy đủ hơn hiệu quả sử dụng vốn từ nhiều góc độ khác nhau, cần phải sử
dụng nhiều chỉ tiêu khác nhau để đánh giá mức sinh lời của đồng vốn kinh
doanh.
 Vốn kinh doanh:
o Vòng quay toàn bộ vốn kinh doanh:
Vkd
DTT
Lv
=
Trong đó:
+ DTT: Doanh thu thuần bán hàng đạt được trong kỳ
+
VKD
: Vốn kinh doanh bình quân đạt được trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh vốn kinh doanh trong kỳ chu chuyển được bao
nhiêu vòng hay mấy lần.Chỉ tiêu này đạt cao, hiệu suất vốn kinh doanh
càng cao.
o Tỷ suất lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên vốn kinh
doanh( hay tỷ suất sinh lời của tài sản)
EROA
=
Vkd
EBIT
Trong đó:
+ ROA
E:
Tỷ suất lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên vốn kinh doanh( hay
tỷ suất sinh lời của tài sản)

tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế cho vốn chủ sở hữu.
 Vốn cố định
o Hiệu suất sử dụng vốn cố định:
Hiệu suất sử dụng vốn cố định=
VCĐ
DTT
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn cố định có thể tham gia tạo
ra bao nhiêu đồng doanh thu bán hàng trong kỳ
o Hiệu suất sử dụng tài sản cố định:
Trần Thanh Thu – K43/11-02 16
Luận văn cuối khóa Lời mở đầu
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định=
NGTSCĐ
DTT
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng tài sản cố định trong kỳ tham gia tạo
ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần.Thông qua chỉ tiêu này cũng cho phép
đánh giá trình độ sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp.
o Hệ số huy động vốn cố định:
 Vốn lưu động
Vòng quay vốn lưu động=
VLĐLĐ
DTT
Chỉ tiêu này phản ánh trong kỳ VLĐ quay được mấy vòng.
Vòng quay hàng tồn kho=
HTKBQ
DTT
Vòng quay các khoản phải thu=
NPTBQ
DTT
1.3. Một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

tránh tình trạng vốn bị ứ đọng, lãng phí, vốn chậm luân chuyển đồng thời
không để xảy ra tình trạng thiếu vốn, làm gián đoạn quá trình sản xuất. Có
như vậy hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp mới cao.
Ba là: Vốn kinh doanh của doanh nghiệp phải đượcbảo toàn và phát
triển trong hoạt động SXKD. Trong quá trình sử dụng vốn phải được bảo
toàn cả về số lượng lẫn chất lượng. Như ta đã biết giá trị từng bộ phận của
vốn kinh doanh được chuyển dịch vào giá trị sản phẩm sản xuất ra dưới
nhiều hình thức khác nhau.
Điều đó có nghĩa là sự hao mòn dần giá trị vốn cố định và vốn lưu
động phải luôn được bù đắp bằng sự tăng lên của giá trị sản phẩm. doanh
nghiệp không được để xảy ra tình trạng thất thoát vốn, đồng thời phải có
những biện pháp hữu hiệu để đối phó với những biến động của môi trường
kinh doanh bất lợi cho nguồn vốn của doanh nghiệp. Mặt khác vốn kinh
doanh của doanh nghiệp phải luôn được phát triển, hay nói cách khác phải
đảm bảo duy trì và tăng cường sức mua của vốn. Chú trọng đổi mới trang
thiết bị, bảo dưỡng duy tu TSCĐ đúng chế độ, sử dụng đúng định mức và
tăng nhanh vòng quay vốn lưu động. Như thế hiệu quả sử dụng vốn lưu
động được nâng cao đẫn đến hiệu quả SXKD cũng sẽ được nâng cao.
1.3.2. Một số biện pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh
doanh trong doanh nghiệp
Để bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh, doanh
nghiệp cần căn cứ vào điều kiện tình hình kinh doanh cụ thể để đề ra các
Trần Thanh Thu – K43/11-02 18
Luận văn cuối khóa Lời mở đầu
biện pháp thích ứng để quản lý từng thành phần vốn kinh doanh.Sau đây là
một số biện pháp chủ yếu mà doanh nghiệp cần chú ý trong quá trình quản
lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
Thứ nhất: Xác định sát đúng nhu cầu vốn tối thiểu cần thiết cho
hoạt động SXKD của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó lập kế hoạch huy động
các nguồn tài trợ cho nhu cầu vốn. Hạn chế tình trạng thiếu vốn gây gián

pháp kinh tế tài chính vào sản xuất nhằm đạt được hiệu quả kinh doanh cao
nhất.
Xác định nhu cầu vốn cũng là một trong những yêu cầu của công tác
quản lý vốn vì muốn cho sản xuất đạt hiệu quả ngày càng cao thì việc xác
định nhu cầu vốn nhất thiết phải đặt ra ngay sau khi kết thúc một chu kỳ
SXKD. Điều này không thể không làm vì các bộ phận của vốn kinh doanh
được chuyển dịch vào giá trị sản phẩm dưới nhiều hình thức khác nhau.
TSCĐ - hình thái hiện vật của vốn cố định, bị hao mòn dần theo sự tăng
dần của thời gian sử dụng, giá trị của nó sẽ giảm dần và bằng 0 khi TSCĐ
không còn sử dụng được nữa. Vốn lưu động được chuyển dịch toàn bộ một
lần vào giá trị sản phẩm làm ra và kết thúc vòng tuần hoàn sau mỗi chu kỳ
sản xuất. Vì thế để chu kỳ sản xuất tiếp theo đạt hiệu quả cao cần phải đầu
tư đổi mới TSCĐ và đảm bảo đầy đủ kịp thời vốn lưu động bổ sung. Mà
doanh nghiệp chỉ có thể làm được điều đó trên cơ sở kế hoạch nhu cầu vốn
đã được xác định trước.
Tuy nhiên việc xác định nhu cấu vốn kinh doanh của doanh nghiệp
phải được dựa trên những căn cứ nhất định. Trước hết đó là quy mô sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nhu cầu vốn của doanh nghiệp tỷ lệ
thuận với quy mô kinh doanh và sự thay đổi của quy mô kinh doanh. Nếu
doanh nghiệp có kế hoạch mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh hay đầu
tư phát triển chiều sâu thì tất yếu phải trang bị kỹ thuật hiện đại, đổi mới
máy móc thiết bị và tăng thêm nguồn vốn lưu động. Cũng có thể doanh
nghiệp chuyển sang thị trường mới hay thu hẹp sản xuất thì nhu cầu vốn lại
giảm xuống. Chính vì vậy doanh nghiệp phải có kế hoạch xác định nhu cầu
vốn cần thiết và có kế hoạch sử dụng vốn hợp lý, phát huy tối đa tác dụng
của từng đồng vốn trong hoạt động của mình.
Bên cạnh đó, việc xác định nhu cầu vốn cũng phải dựa trên mức cầu
về nguyên vật liệu dự trữ và sản xuất trên thị trường và giá cả của từng loại
vật tư hàng hoá để điều chỉnh cho phù hợp. Mặt khác doanh nghiệp phải
phấn đấu sử dụng tiết kiệm vốn, sắp xếp thời gian vốn nằm trong các giai

kết cấu TSCĐ và chi phí sử dụng vốn thấp nhất, đồng thời nguyên vật liệu
phải được cung cấp đầy đủ khi cần và sản phẩm làm ra phải có sức cạnh
tranh và được thị trường chấp nhận.
Thứ tư: Tổ chức tốt quá trình sản xuất và đẩy mạnh công tác tiêu
thụ, không ngừng nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, tạo
Trần Thanh Thu – K43/11-02 21
Luận văn cuối khóa Lời mở đầu
sự ăn khớp giữa các bộ phận trong doanh nghiệp, phấn đấu hạ giá thành sản
phẩm, tiết kiệm nguyên vật liệu, khai thác tối đa công suất máy móc thiết bị
hiện có. Bên cạnh đó phải tổ chức tốt công tác bán hàng, công tác thanh
toán và thu hồi nợ, nhằm giảm tối đa thành phẩm trong kho.
Thứ năm: Chủ động phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh và thực
hiện tốt công tác thanh toán công nợ. Doanh nghiệp phải chủ động có kế
hoạch thu hồi tiền bán hàng, hạn chế tình trạng vốn bị chiếm dụng dẫn đến
doanh nghiệp phải đi vay ngoài với lãi suất cao khi phát sinh nhu cầu vốn
bổ sung. Hơn nữa vốn bị chiếm dụng rất dễ trở thành nợ khó đòi khi khách
hàng gặp rủi ro, làm thất thoát vốn của doanh nghiệp, đặc biệt là kinh
doanh trong cơ chế thì trường. Do đó để chủ động phòng ngừa, doanh
nghiệp cần mua bảo hiểm, lập quỹ dự phòng tài chính để có nguồn bù đắp
khi có rủi ro xảy ra.
Thứ sáu: Quản lý chặt chẽ, huy động tối đa tài sản hiện có vào hoạt
động kinh doanh để góp phần nâng cao hiệu suất sử dụng vốn kinh
doanh.Đặc biệt cần chú trọng đến công tác quản lý tài sản cố định.lựa chọn
phương pháp khấu hao và mức khấu hao hợp lý.Quản lý chặt chẽ và sử
dụng có hiệu quả quỹ khấu hao tài sản cố định.Thực hiện tốt việc sửa chữa
lớn tài sản cố định cùng với việc hiện đại hóa tài sản cố định để tăng thêm
sức cạnh tranh của doanh nghiệp.Doanh nghiệp được quyền cho thuê, thế
chấp, cầm cố tài sản của doanh nghiệp theo nguyên tắc có hiệu quả, bảo
toàn và phát triển vốn của doanh nghiệp.
Trên đây là một số biện pháp cơ bản có thể áp dụng để nâng cao hiệu

đồng.
Trải qua nhiều năm xây dựng và phát triển, đến nay Công ty có hệ
thống các chi nhánh quản lý đầu tư, gieo trồng và thu mua nguyên liệu ở
hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam.
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ của công ty cổ phần Ngân Sơn
2.1.2.1. Chức năng
Trần Thanh Thu – K43/11-02 23
Luận văn cuối khóa Lời mở đầu
Căn cứ vào Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103009019
thay đổi lần thứ 1 ngày 8 tháng 9 năm 2006 do Sở kế hoạch và đầu tư thành
phố Hà Nội cấp thì Công ty hiện đang hoạt động các ngành, nghề kinh
doanh sau:
Trồng trọt, thu mua, chế biến và tiêu thụ nguyên liệu thuốc lá và các sản
phẩm nông nghiệp;
Kinh doanh thuốc lá bao, nguyên liệu, phụ liệu phục vụ cho ngành thuốc
lá;
Xuất nhập khẩu các mặt hàng nông, thủy, hải sản và hàng tiêu dùng;
Sản xuất và mua bán vật tư nông nghiệp (không bao gồm thuốc bảo vệ
thực vật và nguyên liệu làm thuốc) và các sản phẩm nhựa;
Kinh doanh kho bãi, kinh doanh dịch vụ kho vận, kho ngoại quan;
Kinh doanh các hoạt động dịch vụ: ăn uống, nhà hàng. Lữ hành nội địa,
lữ hành quốc tế và các dịch vụ phục vụ khách du lịch (không bao gồm
kinh doanh phòng hát karaoke, vũ trường, quán bar).
2.1.2.2. Nhiệm vụ
Trong các năm qua, nhiệm vụ kinh doanh chủ yếu của Công ty là
đầu tư gieo trồng, thu mua, chế biến và bán nguyên liệu thuốc lá cho thị
trường nội địa và xuất khẩu. Ngoài ra, Công ty còn tiến hành sản xuất, kinh
doanh bình bơm,thuốc lá bao,kinh doanh vật nuôi lâm sản và thực hiện các
dịch vụ: ủy thác nhập khẩu nguyên liệu thuốc lá
2.1.3. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của công ty


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status