TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
KHOA TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
SEMIMAR TỐT NGHIỆP CAO HỌC
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT
NAM, VAI TRÒ THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ
SVTH: TRẦN THỊ HẢI YẾN
Lớp: Cao học TCNH - K12
MSSV: K12.12.070
TP.HỒ CHÍ MINH, NĂM 2014
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
Trang
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1. Tổng quan TTCK` 3
1.1.1. Khái niệm TTCK 3
1.1.2. Phân loại TTCK 3
1.1.3. Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán 4
1.1.4. Nguyên tắc cơ bản về hoạt động của thị trường chứng khoán 7
1.1.5. Chức năng cơ bản của thị trường chứng khoán 8
1.2. Vai trò của TTCK 9
1.2.1. Đối với chính phủ 9
1.2.2. Đối với các doanh nghiệp 9
1.2.3. Đối với các nhà đầu tư 10
1.3. Đánh giá mức độ phát triển TTCK 10
1.3.1. Các chỉ tiêu về quy mô thị trường 10
1.3.2. Chỉ tiêu về tính thanh khoản 11
1.3.3. Mức độ hội nhập với thị trường vốn thế giới 13
1.3.4. Khung pháp lý trên TTCK 13
Chương 2: ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA TTCK VIỆT NAM, VAI
TRÒ CỦA TTCK VỚI NỀN KINH TẾ 14
2.1. Thị trường chứng khoán Việt Nam 14
2.1.1. Tổng quan về TTCK Việt Nam 15
2.2. Đánh giá sự phát triển của TTCK Việt Nam 20
2.2.1. Chỉ tiêu về quy mô 20
2.2.2. Chỉ tiêu về thanh khoản 23
2.2.3. Về cơ sở hạ tầng của TTCK 25
2.3. Kết luận 30
2.3.1. Những mặt tích cực của TTCK Việt Nam 30
2.3.2. Những hạn chế của TTCKViệt Nam 31
Chương 3: MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ VỀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN TTCK
VIỆT NAM 32
CTCP Công Ty Cổ Phần
NHTM Ngân Hàng Thương Mại
SGD Sở Giao Dịch
SGDCK Sở Giao Dịch Chứng Khoán
TTCK Thị Trường Chứng Khoán
WB World Bank
Seminar tốt nghiệp 9 Lớp cao học TCNH K12
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nền kinh tế Việt Nam đang từng bước hội nhập với nền kinh tế thế giới.Đất nước
thời hội nhập đứng trước nhiều triển vọng mới đồng thời cũng xuất hiện những thách
thức không thể không quan tâm, đặc biệt đối với lĩnh vực tài chính – ngân hàng, một
trong những lĩnh vực quan trọng của bất cứ nền kinh tế nào.
Phát triển tài chính là yếu tố không thể thiếu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Sự phát
triển của các thị trường tài chính như thị trường vốn, thị trường tiền tệ và các định chế
tài chính như ngân hàng, công ty chứng khoán, quỹ đầu tư, công ty bảo hiểm … là cần
thiết giúp tăng khả năng luân chuyển của dòng vốn trong nền kinh tế, thúc đẩy nền tăng
trưởng kinh tế.
Thị trường chứng khoán (TTCK) là một bộ phận quan trọng của thị trường tài
chính, đặc biệt là một trong những yếu tố cơ bản của nền kinh tế thị trường hiện đại.Hiện
nay TTCK thế giới đang phát triển mạnh mẽ ở hầu hết các quốc gia phát triển như Mỹ,
Nhật, Anh, Đức, Pháp … và cả ở những nước đang phát triển như Thái Lan, Philipine,
Brazil, Indoesia …. Việt Nam cũng đã có TTCK đầu tiên từ 7/2000. TTCK Việt Nam
nhìn chung vẫn còn khá non trẻ với hơn 13 năm hình thành và phát triển nhưng cũng đã
trải qua nhiều bước thăng trầm và dần dần khẳng định vị trí quan trọng trong hệ thống tài
chính và nền kinh tế Việt Nam.
Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về thực trạng TTCK Việt Nam, tái cấu trúc TTCK
Việt Nam, mối quan hệ giữa tăng trường kinh tế và TTCK …. Cũng đã có nhiều nghiên
cứu chứng minh sự phát triển của TTCK có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh
tế như nghiên cứu của Demirguc-Kunt và Levine (1996), Levine và Zervos (1998). Vấn
với nền kinh tế Việt Nam.
Chương 3: Một số khuyến nghị về vấn đề phát triển TTCK Việt Nam.
HVTH: Trần Thị Hải Yến MSHV: 12.12.070
Seminar tốt nghiệp 11 Lớp cao học TCNH K12
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1. Tổng quan về thị trường chứng khoán
1.1.1. Khái niệm thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán (Bursa – tiếng la tinh nghĩa là cái ví tiền) là nơi phát
hành, mua bán, trao đổi các loại chứng khoán.TTCK là một bộ phận của thị trường vốn
dài hạn, thực hiện cơ chế luân chuyển vốn trực tiếp qua đó thực hiện chức năng của thị
trường tài chính là cung ứng nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.
1.1.2. Phân loại thị trường chứng khoán
Căn cứ vào tính pháp lý TTCK gồm có:
Thị trường tập trung (thị trường chính thức): là nơi các nhà môi giới kinh doanh chứng
khoán gặp gỡ để đấu giá, thương lượng mua bán chứng khoán cho khách hàng hay cho
chính mình theo những nguyên tắc và quy chế giao dịch theo luật định.
Thị trường tập trung có địa điểm và thời gian giao dịch rõ ràng, và giá cả được
xác định theo phương thức đấu giá công khai. TTCK tập trung thường là các Sở giao
dịch chứng khoán (SGD).
Thị trường phi tập trung (thị trường không chính thức): Là hoạt động giao dịch chứng
khoán không thông qua SGD, không có địa điểm tập trung, không có thời gian giao dịch
hay thủ tục nhất định mà do sự thỏa thuận giữa người mua và người bán với nhau.
Căn cứ vào quá trình luân chuyển vốn TTCK gồm có:
TTCK sơ cấp: còn gọi là thị trường cấp một hay thị trường phát hành. Đây là nơi mua
bán các chứng khoán được phát hành lần đầu. Trên thị trường này vốn từ các nhà đầu tư
sẽ được chuyển trực tiếp sang nhà phát hành thông qua việc các nhà đầu tư mua chứng
khoán mới phát hành.
TTCK thứ cấp: còn gọi là thị trường cấp hai, là nơi giao dịch các chứng khoán đã được
phát hành trên thị trường sơ cấp. Đây là thị trường chuyển nhượng lại quyền sở hữu
chứng khoán, đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành.
chuyên nghiệp khi họ mua chứng khoán cho mình.
Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán:
- Công ty chứng khoán: Các công ty này hoạt động với nghiệp vụ chính là bảo lãnh phát
hành, tự doanh, môi giới, quản lý danh mục đầu tư và tư vấn đầu tư chứng khoán.
- Các quỹ đầu tư chứng khoán:Là hình thức chung vốn đầu tư nhằm tăng tính chuyên
nghiệp của hoạt động đầu tư.
HVTH: Trần Thị Hải Yến MSHV: 12.12.070
Seminar tốt nghiệp 13 Lớp cao học TCNH K12
- Các trung gian tài chính:Các NHTM, các công ty bảo hiểm có thể sử dụng vốn để đầu tư
chứng khoán nhưng chỉ được trong giới hạn rất định để bảo vệ ngân hàng và công ty bảo
hiểm trước những biến động của giá chứng khoán.
Các tổ chức liên quan trên thị trường chứng khoán:
- Sở giao dịch chứng khoán:
Trên thế giới có ba hình thức tổ chức SGD chứng khoán:
- SGD chứng khoán được tổ chức theo hình thức “câu lạc bộ tự nguyện” của các
thành viên. Đây là hình thức tổ chức SGDCK có tính chất tự phát. Các thành viên
của SGD tự tổ chức và quản lý SGD theo pháp luật mà không có sự can thiệp của
nhà nước. Các hội viên của SGD bầu ra Hội đồng quản trị và Hội đồng quản trị
bầu ra Ban điều hành.
- SGD được tổ chức theo hình thức một công ty cổ phần (CTCP) có các cổ đông là
các thành viên. Đây là hình thức phổ biến nhất hiện nay. SGD hoạt động theo
hình thức này phải hoạt động theo luật CTCP, phải nộp thuế cho nhà nước và chịu
giám sát của một cơ quan chuyên môn do chính phủ lập ra. Cơ quan chuyên môn
này là cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và TTCK.
- SGD được tổ theo hình thức CTCP nhưng có sự tham gia quản lý điều hành của
nhà nước. Đây là hình thức phổ biến ở các TTCK châu Á.
Thành viên SGD có thể là cá nhân hoặc CTCK. Để trở thành thành viên của SGD
cần phải được cơ quan có thẩm quyền của nhà nước cấp phép hoạt động, phải có số vốn
tối thiểu theo quy định, phải có chuyên gia kinh tế, pháp lý đã được đào tạo về phân tích
và kinh doanh chứng khoán. Ngoài ra công ty cần thỏa mãn các điều kiện của từng SGD
1.1.4. Nguyên tắc cơ bản về hoạt động của thị trường chứng khoán.
Nguyên tắc trung gian:
Đây là nguyên tắc cơ bản cho tổ chức và hoạt động trên TTCK. Hoạt động mua
bán chứng khoán không phải trực tiếp diễn ra giữa những người muốn mua và muốn bán
chứng khoán thực hiện mà do các nhà môi giới trung gian thực hiện.Trên thị trường sơ
cấp, các nhà đầu tư thường không mua trực tiếp từ nhà phát hành mà mua từ các nhà bảo
lãnh phát hành.Trên thị trường thứ cấp, thông qua nghiệp vụ môi giới kinh doanh các
HVTH: Trần Thị Hải Yến MSHV: 12.12.070
Seminar tốt nghiệp 15 Lớp cao học TCNH K12
CTCK mua chứng khoán giúp các nhà đầu tư, hoặc mua chứng khoán của nhà đầu tư này
để mua và bán cho các nhà đầu tư khác.
Nguyên tắc trung gian nhằm đảm bảo cho các loại chứng khoán là chứng khoán
thực và thị trường hoạt động lành mạnh, hợp pháp và phát triển, bảo vệ lợi ích của người
đầu tư.
Nguyên tắc định giá:
Mọi mua bán trên TTCK đều được thực hiện theo nguyên tắc đấu giá. Nguyên tắc
đấu giá dựa trên mối quan hệ cung cầu trên thị trường quyết định. Căn cứ vào hình thức
đấu giá, có hai loại đấu giá:
- Đấu giá trực tiếp:là hình thức đấu giá mà các nhà môi giới chứng khoán trực tiếp
gặp nhau thông qua người trung gian tại quầy giao dịch để thương lượng giá.
- Đấu giá tự động: là hình thức đấu giá thống qua hệ thống mạng máy tính giữa
máy chủ của SGD với hệ thống giao dịch của các CTCK thành viên.
Tất cả các thành viên có liên quan trên thị trường không ai có thể can thiệp vào sự
tác động qua lại của số cung cầu chứng khoán trên thị trường và cũng không ai có quyền
định giá chứng khoán một cách độc đoán. Vì thế TTCK được coi là thị trường tự do nhất
trong các thị trường.
Nguyên tắc công khai trên TTCK:
Tất cả các hoạt động trên TTCK đều được công khai hoá về các loại chứng khoán
được đưa ra mua bán trên thị trường, cũng như tình hình tài chính về kết quả kinh doanh
của công ty phát hành và số lượng chứng khoán và giá cả từng loại đều được công khai
chính xác. Vì thế, TTCK được gọi là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ
quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô. Thông qua TTCK,
Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt
ngân sách và quản lý lạm phát. Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính
sách, biện pháp tác động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển
cân đối của nền kinh tế.
1.2. Vai trò của thị trường chứng khoán.
TTCK đang đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế các nước trên thế
giới.Khi nền kinh tế hàng hóa phát triển đến một mức độ nhất định sẽ cần tới TTCK để
hỗ trợ cho quá trình phát triển.Sự phát triển của TTCK có tác động tích cực tới sự phát
triển của các quốc gia.Thực tế cho thấy TTCK đã thúc đẩy phát triển kinh tế ở nhiều
nước một cách hiệu quả thông qua việc góp phân tạo ra vốn khả dụng cho nền kinh tế.
Vai trò của TTCK đối với các chủ thể khác nhau như sau:
1.2.1. Đối với chính phủ.
HVTH: Trần Thị Hải Yến MSHV: 12.12.070
Seminar tốt nghiệp 17 Lớp cao học TCNH K12
TTCK cung cấp các phương tiện để huy động vốn và sử dụng các nguồn vốn một cách
có hiệu quả cho nền kinh tế quốc dân. Chính phủ có thể huy động vốn cho các kế hoạch
đầu tư phát triển bằng việc bán trái phiếu ra thị trường.
TTCK góp phần thực hiện quá trình cổ phần hóa, khuyến khích cổ phần hóa các doanh
nghiệp quốc doanh.
TTCK là nơi để thực hiện các chính sách tiền tệ thông qua việc mua bán chứng khoán
của chỉnh phủ/ngân hàng trung ương.
1.2.2. Đối với các doanh nghiệp.
TTCK giúp công ty đa dạng hóa hình thức huy động vốn và đầu tư, tránh việc sử dụng
vốn vay lãi suất cao từ ngân hàng.
TTCK là nơi đánh giá giá trị doanh nghiệp và của cả nền kinh tế một cách tổng hợp và
chính xác thông qua giá cổ phiếu trên thị trường.
TTCK giúp công ty quảng bá thương hiệu, giới thiệu bản thân với nhà đầu tư, đối tác,
nhà cung cấp và khách hàng tiềm năng.
nghiệp, là tổng giá trị thị trường của doanh nghiệp, được xác định bằng số tiền bỏ ra để
mua lại toàn bộ doanh nghiệp này trong điều kiện hiện tại. Giá trị vốn hoá thị trường
tương đương với giá thị trường của cổ phiếu nhân với số cổ phiếu phổ thông đang lưu
hành.
Giá trị vốn hóa của toàn thị trường là tổng giá trị vốn hóa của tất cả các công ty
niêm yết trên thị trường đó.
Tỷ lệ vốn hóa thị trường so với GDP (Market capitalization ratio):
Vốn hóa tổng của các thị trường chứng khoán hoặc các khu vực kinh tế có thể
được so sánh với các chỉ số kinh tế khác, thường so sánh với GDP.Đây là một tỉ lệ được
sử dụng để xác định xem liệu toàn bộ thị trường có đang bị định giá cao hơn hoặc thấp
hơn giá trị thực hay không. Tỉ lệ này thường được tính toán cho từng thị trường cụ thể, ví
dụ như thị trường Mỹhoặc có thể tính cho toàn bộ thị trường thế giới, tuỳ thuộc vào các
giá trị được sử dụng trong công thức để tính toán.
Công thức tính như sau:
Thông thường, nếu tỉ lệ này lớn hơn 100% thì có nghĩa là thị trường đang bị định
giá quá cao, ngược lại, nếu tỉ lệ này khoảng 50%_tỉ lệ chưa từng có tại Mỹ_thì có nghĩa
là thị trường bị định giá quá thấp.
Cơ sở cho việc tính toán chỉ số này là mối liện hệ tích cực giữa quy mô tổng thể
thị trường với khả năng huy động vốn và đa dạng hóa rủi ro trong nền kinh tế.
1.3.2. Chỉ tiêu về tính thanh khoản
Tính thanh khoản là một khái niệm chỉ mức độ mà một tài sản bất kì có thể được
mua hoặc bán trên thị trường mà không làm ảnh hưởng đến giá thị trường của tài sản
đó.Một tài sản có tính thanh khoản cao nếu nó có thể được bán nhanh chóng mà giá bán
không giảm đáng kể.
HVTH: Trần Thị Hải Yến MSHV: 12.12.070
Seminar tốt nghiệp 19 Lớp cao học TCNH K12
Chứng khoán có tính thanh khoản là những chứng khoán có sẵn thị trường cho
việc bán lại dễ dàng, giá cả tương đối ổn định theo thời gian và khả năng cao để phục hồi
nguồn vốn đã đầu tư nguyên thủy. Nhờ có thị trường chứng khoán các nhà đầu tư có thể
chuyển đổi chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt khi họ muốn và khả năng thanh khoản
Mức độ mở của của thị trường tài chính của một quốc gia có môi quan hệ với tăng
trưởng kinh tế, mặc dù tác động là khác nhau đối với nền kinh tế có mức độ phát triển
khác nhau. Lý thuyết của Devereux và Smith (1994) và Obstfeld (1994) chỉ ra rằng có
thể giảm thiểu rủi ro thông qua đa dạng hóa danh mục chứng khoán toàn cầu.Các rào cản
với dòng vốn quốc tế ở các nước có thể làm giảm khả năng đa dạng hóa đầu tư toàn cầu
và giảm mức độ hội nhập với thị trường vốn thế giới.
Để đo lường Mức độ hội nhập với thị trường vốn thế giới, có thể ứng dụng Lý
thuyết định giá chênh lệch quốc tế (International Arbitrage Pricing Model - APT) của
Korajczyk (1996) hoặc Mô hình định giá tài sản vốn quốc tế (Internaional Capital Asset
Pricing Model – CAPM) của Solnik(1974). Do giới hạn về thời gian và số liệu nghiên
cứu đề tài không đưa nội dung này vào phân tích.
1.3.4. Khung pháp lý trên TTCK
Kinh nghiệm thế giới cho thấy, để thị trường chứng khoán (TTCK) ra đời phát
triển lành mạnh và ổn định mọi quốc gia đều phải phấn đấu đạt tới các điều kiện: ổn định
kinh tế, chính trị và có đầy đủ điều kiện pháp lý
Khung pháp lý là yếu tố cơ bản được xét đến đầu tiên trong hệ thống những
nguyên tắc cơ bản của Cơ sở hạn tầng tài chính ban hành bởi Ngân hàng thanh toán quốc
tế (BIS). Theo đó cơ sở hạ tầng tài chính tốt cần có một khung pháp lý đầy đủ, rõ ràng,
minh bạch, và có khả năng thực thi.
HVTH: Trần Thị Hải Yến MSHV: 12.12.070
Seminar tốt nghiệp 21 Lớp cao học TCNH K12
Chương 2: ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA TTCK VIỆT NAM, VAI
TRÒ CỦA TTCK VỚI NỀN KINH TẾ
2.1. Thị trường chứng khoán Việt Nam
2.1.1. Tổng quan về TTCK Việt Nam
Ngày 28/07/2000, Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức mở cửa với 2 mã
cổ phiếu, 3 công ty chứng khoán thành viên, giá trị giao dịch bình quân chỉ ở mức 70
triệu đồng/phiên. Sau 13 năm hình thành và phát triển, TTCK Việt Nam đã phát triển
vượt bậc và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế.
TTCK Việt Nam đã trả qua thời kỳ “bùng nổ” ấn tượng vào 2006 và sau đó rơi
dịch bình
quân/phiên
(tỷ đồng)
1 109 2.852 1.491 2.158 2.962 2.037
Huy động
vốn (tỷ
đồng)
- 5.387 98.721 99.115 188.516 159.000 -
HVTH: Trần Thị Hải Yến MSHV: 12.12.070
Seminar tốt nghiệp 22 Lớp cao học TCNH K12
Giá trị
danh mục
đầu tư gián
tiếp nước
ngoài (tỷ
USD)
- 3 7 7 8 11 -
Số lượng
công ty
chứng
khoán
1 15 105 105 105 105 15
Vốn điều lệ
các CTCK
(tỷ đồng)
257 724 31.906 35.500 36.901 36.547 124
Số lượng
công ty
quản lý quỹ
- 5 47 47 47 47
đầu tư đã làm tăng khả năng luân chuyển vốn vốn trong nước, đồng thời thu hút một
lượng lớn đầu tư nước ngoài vào nền kinh tế.
Trong 7 tháng đầu năm, dòng vốn nước ngoài vào thuần đạt 175 triệu USD, tăng
25% so với cùng kỳ năm ngoái và có hiện tượng rút ra khỏi thị trường trong tháng 8 và
tháng 9. Tính cho cả năm 20113, dòng vốn nước ngoài ra thuần (net outflow) là 15 triệu
USD.
Bước sang năm 2014, dòng tiền đầu tư từ các nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục tăng
trưởng mạnh. Tính trong 6 tháng đầu năm 2014, nhà đầu tư nước ngoài mua ròng328
triệu cổ phiếu, tương đươnggiá trị mua ròng đạt hơn 7.084 tỷ đồng (hơn 337,35 triệu
USD), gấp 2,8 lần so với mức mua ròng 2.472 tỷ đồng của 6 tháng cuối năm 2013, và
tăng 62,6% so với mức 4.356 tỷ đồng của cùng kỳ năm 2013.
Hình 2.1: Chỉ số VN-Index và giao dịch của khối ngoại
(Nguồn: NDH, 2014 -
/>HVTH: Trần Thị Hải Yến MSHV: 12.12.070
Seminar tốt nghiệp 24 Lớp cao học TCNH K12
Hình 2.2: Chỉ số HNX-Index và giao dịch của khối ngoại
(Nguồn: NDH, 2014
- /> Thị trường thứ cấp.
Việt Nam có hai trung tâm giao dịch chứng khoán là SGD chứng khoán Hà Nội
và SGD chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh và hai chỉ số chính được sử dụng rộng rãi là VN-
Index và HNX-Index.
Năm 2013, chỉ số VN - Index đứng ở 505 điểm, tăng 23% và HN - Index đứng ở
mức 67 điểm, tăng 15% so với cuối năm 2012. Với mức tăng này, thị trường chứng
khoán (TTCK) Việt Nam được xếp trong top 10 TTCK có mức độ phục hồi mạnh nhất
trên thế giới.
Hình 2.3: Số lượng cổ phiếu niêm yết tại Việt Nam (HSX) so với các nước
(Nguồn: World Bank, 2-14)
Quy mô và phạm vi của thị trường đang lớn mạnh. Tính chung đến cuối năm
2013, trên 2 sàn có 683 cổ phiếu và chứng chỉ quỹ niêm yết với tổng giá trị niêm yết theo
mệnh giá là 361 nghìn tỷ đồng, tăng 6,8% so với năm 2012. Có tổng cộng 517 mã trái