Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Ngô Thắng Lợi
MỤC LỤC
NHÀ MÁY XỬ LÍ NƯỚC THẢI YÊN XÁ 20
NHÀ MÁY XỬ LÍ NƯỚC THẢI PHÚ ĐÔ 20
SV: Lê Quang Vượng Lớp: Kinh tế phát triển 49A
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Ngô Thắng Lợi
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bước sang thiên niên kỷ thứ 3 của loài người, cùng với sự phát triển vượt bậc về
khoa học kỹ thuật và những thành tựu rực rỡ về kinh tế -văn hoá-giáo dục, thì vẫn
còn có tới 2/3 dân số thế giới sống trong cảnh nghèo đói, thiếu nước sạch, thiếu sự
chăm sóc y tế, giáo dục, thiếu những điều kiện sinh hoạt tối thiểu. Trong một nỗ lực
chung, xoá bỏ nghèo đói, và giảm dần quãng cách về trình độ phát triển giữa các
quốc gia, các khu vực trên thế giới, hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) đã có những
đóng góp tích cực vì mục tiêu phát triển toàn cầu.
Chính phủ Việt Nam hiện đang gánh vác trách nhiệm đưa đất nước tiến lên
con đường phát triển, thông qua việc đề cao các mục tiêu phát triển con người, đã
dành được sự ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế, thông qua các
chương trình, dự án xoá đói giảm nghèo, y tế, giáo dục đào tạo, giao thông, cấp
thoát nước, từng bước đã góp phần cải thiện các chỉ số xã hội, nâng cao mức sống
người dân, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước, vì mục tiêu
“dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”.
Cơ sở hạ tầng có một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội
của một quốc gia. Nhận thức được vai trò đặc biệt quan trọng của lĩnh vực này đối
với sự phát triển của thành phố, trong những năm qua, Hà Nội đã dành một lượng
vốn khá lớn để đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng, trong đó có một phần đáng kể là
nguồn vốn ODA Nhật Bản. Nguồn vốn ODA Nhật Bản dành cho thành phố Hà Nội
bao gồm cả cho vay ưu đãi và viện trợ không hoàn lại, tập trung chủ yếu cho các dự
án thuộc lĩnh vực cơ sở hạ tầng của thành phố.
Việc sử dụng vốn ODA Nhật Bản trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng của thành
phố trong thời gian qua đó đạt được nhiều thành tựu to lớn, góp phần thay đổi bộ
phát triển – Trường ĐH KTQD, chơ Cao Mạnh Cường –Phó Vụ Trưởng –Vụ Kinh
Tế Đối Ngoại –Bộ Kế Hoạch-Đầu Tư cùng tập thể chuyên viên phòng Tổng Hợp-
Vụ Kinh Tế Đối Ngoại .
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy giáo và các cán
bộ, chuyên viên của phòng Tổng hợp -Vụ Kinh Tế Đối Ngoại- Bộ Kế Hoạch –Đầu
Tư đã giúp em hoàn thành chuyên đề nay.
Hà Nội ,Ngày Tháng Năm
SV: Lê Quang Vượng Lớp: Kinh tế phát triển 49A
2
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Ngô Thắng Lợi
CHƯƠNG 1
SỰ CẦN THIẾT NÂNG CAO HIỆU QUẢ NGUỒN VỐN ODA
VÀO PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG Ở VIỆT NAM
1.1.Nguồn vốn ODA với phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật:
1.1.1.Đầu tư hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật .
1.1.1.1.Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật .
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật là một bộ phận cơ bản của kết cấu hạ tầng kinh tế xã
hội có vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của một vùng, một
quốc gia. Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật bao gồm các bộ phận chủ yếu sau:
- Hệ thống giao thông
- Hệ thống cấp nước sạch
- Hệ thống thoát nước
- Công viên, cây xanh
- Vệ sinh, môi trường
- Hệ thống chiếu sáng công cộng
- Hệ thống bưu chính viễn thông
1.1.1.2.Đầu tư hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật .
Đầu tư cho lĩnh vực cơ sở hạ tầng kỹ thuật có một số đặc điểm chủ yếu sau:
Các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật đòi hỏi một khối lượng vốn, vật
tư, lao động lớn.
phó, giải quyết kịp thời.
Tính chất kỹ thuật của các dự án thường rất phức tạp.
Ngay từ khi lập dự án, phân tích kỹ thuật cần được nghiên cứu với sự trợ giúp,
từ vấn của các chuyên gia kỹ thuật chuyên sâu (trong nước và quốc tế) về từng khía
cạnh của dự án. Quyết định đúng đắn trong phân tích kỹ thuật sẽ loại bỏ các dự án
không khả thi, giảm chi phí, tổn thất, giảm ô nhiễm và kéo dài tuổi thọ công trình.
Các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật thường có tuổi thọ kéo dài 5-10
năm, thậm chí hàng trăm năm.
Vì vậy, quá trình vận hành cần phải kết hợp với bảo trì, bảo dưỡng nhằm nâng
cao chất lượng phục vụ và tuổi thọ của công trình.
Vị trí của các công trình cố định, gắn liền với các điều kiện về địa hình, địa
chất, khí hậu và các điều kiện về chính trị, kinh tế, xã hội.
Do đó, chọn địa điểm triển khai dự án cú quyết định không nhỏ tới sự thành
công của dự án và có tác động lớn đến văn hoá, kinh tế, chính trị, an ninh quốc
phòng của địa phương nơi có dự án triển khai thực hiện.
Các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật có hiệu quả kinh tế-xã hội lớn,
tuy nhiên hiệu quả tài chính trực tiếp thường khó đánh giá, khó xác định, khả năng
thu hồi vốn thấp.
Ư
SV: Lê Quang Vượng Lớp: Kinh tế phát triển 49A
4
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Ngô Thắng Lợi
Nghiên cứu những đặc điểm nói trên của đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật cho
phép chúng ta có những biện pháp quản lý tối ưu và lựa chọn các nguồn vốn đầu tư
phù hợp.
1.1.2. ODA và hình thức cung cấp ODA Nhật Bản vào cơ sở hạ tầng kỹ
thuật Việt Nam .
1.1.2.1.Khái niệm:
Theo khái niệm chung nhất thi ODA là các khoản viện trợ không hoàn lại
hoặc cho vay với các điều kiện ưu đãi của các cơ quan tài chính thuộc các tổ chức
•Vốn phi dự án
Theo góc độ chủ thể cấp viện trợ :
- ODA song phương: là các khoản viện trợ trực tiếp từ nước này đến nước kia
thông qua hiệp định được kí kết giữa hai chính phủ
- ODA đa phương: là viện trợ chính thức của một tổ chức quốc tế (IMF,
WB…) hay tổ chức khu vực (ADB, EU…) hoặc của một chính phủ của một nước
dành cho chính phủ của một nước nào đó, nhưng có thể được thực hiện thông qua
các tổ chức đa phương như Chương trình phát triển liên hợp quốc (UNDP), Quỹ nhi
đồng liên hợp quốc (UNICEF)… có thể không.
Các tổ chức tài chính quốc tế cung cấp ODA chủ yếu:
•Ngân hàng thế giới (WB)
•Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)
•Ngân hàng phát triển Châu á (ADB)
1.1.3.Vai trò của ODA đến phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật .
1.1.3.1.Hỗ trợ vốn cho đầu tư cơ sở hạ tầng .
Hàng năm, nhu cầu vốn đầu tư cho kết cấu hạ tầng kỹ thuật của Hà Nội rất
lớn, bình quân khoảng 1-1,5 tỷ USD/năm. Trong đó, khả năng huy động vốn trong
nước thông qua ngân sách và đầu tư tư nhân chỉ đáp ứng từ 45-50% nhu cầu về vốn,
phần còn lại được bù đắp từ nước ngoài thông qua đầu tư trực tiếp FDI và ODA. Do
đó, cần phải huy động vốn ODA cho đầu tư, phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật vì:
Vốn ODA là một nguồn vốn quan trọng để bổ sung cho khoảng trống tiết
kiệm, làm tăng ngân sách nhà nước, tăng tỷ trọng đầu tư phát triển từ ngân sách cho
các công trình trọng điểm của quốc gia.
Thông thường các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật đòi hỏi một khối
lượng vốn đầu tư lớn, do đó cần phải đa dạng hoá nguồn vốn đầu tư: vốn nhà nước,
vốn tư nhân, vốn FDI và đặc biệt là vốn ODA.
Vốn ODA đặc biệt thích hợp với các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng(có vốn đầu
tư lớn, thời gian đầu tư kéo dài ) vì chi phí tương đối rẻ (lãi suất thấp), thời gian ân
hạn và thời gian hoàn trả kéo dài.
Do những ưu đãi của ODA chỉ tài trợ cho các nước đang phát triển và vì mục
đòi hỏi Công Nghệ - Kỹ thuật cao .
Xét về tổng quan, các dự án ODA đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật Hà
Nội trong thời gian là đã nâng cao đáng kể được năng lực của hệ thống cơ sở hạ
tầng , thể hiện trên các khía cạnh sau:
a. Tăng công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp: các dự án ODA kết cấu hạ
tầng đã thu hút một lượng lớn cán bộ kỹ thuật, công nhân lành nghề, lao động thủ
công, góp phần tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống của nhân dân thủ đô.
b. Các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật đã từng bước nâng cao điều kiện sống
cho nhân dân, tăng phúc lợi công cộng và cải thiện các điều kiện về môi trường.
c. Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thành phố thông qua đầu tư phát triển các
SV: Lê Quang Vượng Lớp: Kinh tế phát triển 49A
7
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Ngô Thắng Lợi
công trình thuộc lĩnh vực kết cấu hạ tầng (tốc độ tăng trưởng GDP trung bình của
Hà Nội giai đoạn 2006-2010 đạt 11,4%; tăng 0,3% so với giai đoạn trước). Trong
thời gian qua, phát triển kết cấu hạ tầng đã tạo tiền đề thúc đẩy sản xuất công
nghiệp-du lịch-dịch vụ phát triển (tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp năm
2010 đạt 12.1%).
1.2. Hiệu Quả Sử Dụng ODA Vào Cơ Sở Hạ Tầng .
1.2.1.Tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng ODA vào cơ sở hạ tầng .
1.2.1.1. Tỉ lệ giải ngân so với kế hoạch của khoản vốn.
Tỷ lệ giải ngân phản ánh tiến độ thực hiện của chương trình, dự án sử dụng
vốn ODA nhưng rộng hơn chất lượng giải ngân quan tâm tới cả khối lượng và tiến
độ vốn được sử dụng trong tương quan so sánh với kế hoạch sử dụng vốn dự kiến,
trên giác độ thời gian, khối lượng và nội dung sử dụng. Với hoạt động sử dụng vốn
ODA, do có sự liên quan và ràng buộc nhất định theo các cam kết và thỏa thuận
chính thức, các thủ tục và yêu cầu của bên cung ứng vốn, tiến độ giải ngân liên
quan tới nhiều yếu tố khác nhau. Khối lượng vốn và tiến độ ODA được giải ngân sẽ
quyết định căn bản tới chất lượng giải ngân của khoản vốn ODA. Dù rằng chất
lượng giải ngân không phải là yếu tố căn bản đánh giá hiệu quả sử dụng vốn ODA,
án mới có thể xác định được hiệu quả kinh tế theo các chỉ số mang tính tương đối.
Đó là do phạm vi ảnh hưởng và tác động của các dự án sử dụng vốn ODA thường là
rộng, và phải gắn liền với việc thực hiện đồng thời các yếu tố về thể chế, kinh tế và
xã hội trong phạm vi địa bàn dự án.
1.2.1.3. Hiệu quả xã hội các dự án ODA đầu tư vào cơ sở hạ tầng .
Trên giác độ xã hội, hiệu quả sử dụng vốn ODA có thể nhận thấy ngay trong
quá trình thực hiện hoặc ngay sau khi kết thúc dự án. Hiệu quả xã hội đề cập tới các
khía cạnh tích cực về y tế, sức khỏe, văn hóa và giáo dục mà các đối tượng thụ
hưởng trực tiếp hay gián tiếp được tiếp cận và hưởng thụ, đồng thời hiệu quả sử
dụng cũng liên quan chặt chẽ tới vấn đề cải thiện và nâng cao chất lượng môi
trường sinh thái nhằm hướng tới một môi trường trong sạch đảm bảo cho sự phát
triển chung bền vững. Hiệu quả xã hội thường là trên diện rộng và có tác động lan
tỏa, tạo tiền đề cho sự phát huy hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội của các hoạt
động đầu tư sản xuất kinh doanh khác. Hiệu quả xã hội của dự án sử dụng ODA có
tác động lâu dài và thường mang tính bền vững hơn so với các dự án đầu tư thông
thường, do đặc tính và mục tiêu sử dụng của nguồn ODA.
Nhìn nhận và so sánh giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội cũng như
mối quan hệ giữa chúng qua các dự án sử dụng vốn ODA, có thể thấy tính xã hội
thể hiện rõ nét hơn. Hiệu quả xã hội sẽ là tiền đề để đạt tới hiệu quả kinh tế và
thường thì khó có thể tách bạch hoàn toàn dung lượng, mức độ của hiệu quả kinh tế
trong các dự án sử dụng vốn ODA do mức độ và phạm vi đóng góp của chúng.
Không thể tính toán một cách tách bạch hiệu quả kinh tế trong sử dụng vốn
ODA, ngoài những chỉ tiêu tính toán trong giai đoạn nghiên cứu khả thi ban đầu,
và phải một thời gian dài sau khi dự án đi vào vận hành, khai thác mới có thể nhận
SV: Lê Quang Vượng Lớp: Kinh tế phát triển 49A
9
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Ngô Thắng Lợi
biết và đánh giá được một phần hiệu quả kinh tế. Hiệu quả ODA thường được đánh
giá dựa trên cơ sở đóng góp được bao nhiêu vào sự phát triển kinh tế xã hội trong
phạm vi địa bàn dự án, mức độ đóng góp vào GDP, mức độ đóng góp vào việc cải
bay quốc tế hiện đại cho Thủ đô Hà Nội (cảng hàng không quốc tế T2), Long Thành
SV: Lê Quang Vượng Lớp: Kinh tế phát triển 49A
10
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Ngô Thắng Lợi
– Biên Hồ, Đà Nẵng (nhà ga), Cam Ranh – Khánh Hồ (nhà ga) và Phú Quốc – Kiên
Giang;
- Hỗ trợ đầu tư phát triển hệ thống các tuyến đường thuỷ nội địa quan trọng ở
đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long;
- Phát triển thể chế, tăng cường năng lực con người trong lĩnh vực giao thông,
nhất là an toàn giao thông.
Về bưu chính, viễn thông, ưu tiên thu hút và sử dụng ODA hỗ trợ đầu tư phát triển
một số cơ sở hạ tầng kỹ thuật bưu chính viễn thông có ý nghĩa quốc gia, phục vụ nhu cầu
khai thác chung của mọi thành phần kinh tế, đảm bảo cạnh tranh bình đẳng giữa các
doanh nghiệp và lợi ích của người sử dụng; phát triển điện thoại nông thôn.
Về cấp, thoát nước và phát triển đô thị, ưu tiên thu hút và sử dụng ODA để
hỗ trợ xây dựng đồng bộ và từng bước hiện đại hoá hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị,
hoàn thiện hệ thống cấp nước sinh hoạt, cung cấp đủ nước sạch cho các đô thị và
khu công nghiệp; tiếp tục thực hiện cải tạo và xây dựng mới hệ thống cấp nước sạch
ở nông thôn, nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long, miền Trung và miền núi phía
Bắc, duyên hải miền Trung và Tây Nguyên; giải quyết cơ bản vấn đề thoát nước, xử
lý nước thải, chất thải rắn, rác thải y tế ở các đô thị, nhất là đô thị loại 1, loại 2, các
khu công nghiệp và một số khu đô thị và khu dân cư tập trung.
Đối với phát triển đô thị, ODA được ưu tiên để giải quyết các vấn đề giao thông đô
thị, đặc biệt là đối với một số thành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, phát
triển hệ thống đường vành đai tại các đô thị lớn, đường nội đô, từng bước phát triển
mạng lưới giao thông bánh sắt khối lượng lớn (đường sắt trên cao, tầu điện ngầm…); hỗ
trợ phát triển chính sách, thể chế trong lĩnh vực quản lý xã hội.
1.2.2.2.Lập kế hoạch tiến độ đầu tư cơ sở hạ tầng .
Việc lập kế hoạch đầu tư cơ sở hạ tầng được thưc hiên qua 5 bước dưới đây :
(1) Lập ngân sách cho công tác chuẩn bị dự án.
bảo đúng chất lượng trong và sau khi thực hiện dự án. Do vậy, trong khung thể chế
hiện nay đang thiếu cơ chế đối với các Ban QLDA cũng như các Bộ ngành để đảm
bảo chất lượng công trình trong quá trình thực hiện. Về vấn đề này, Chính phủ nên
soạn thảo những quy định như quy định đảm bảo tính khía cạnh kỹ thuật của công
tác quản lý dự án. Chẳng hạn, Chính phủ nên chuẩn bị trước và chỉ dẫn cụ thể như
ra hướng dẫn tác nghiệp cho Ban QLDA nhằm liên lạc và sử dụng một cách có hiệu
quả các tư vấn nước ngoài trong các dự án hay không khuyến khích việc phân quá
nhỏ các hợp đồng đối với các dự án đấu thầu quốc tế.
(4) Thành lập bộ phận theo dõi và đánh giá sau dự án .
Cần thiết lập một hệ thống cơ quan theo dõi và đánh giá từ trung ương tới
các đơn vị thực hiện đối với các dự án đang thực hiện và đã thực hiện để kết hợp
với những chu kỳ quản lý dự án . Hệ thống này có thể cung cấp được những thông
SV: Lê Quang Vượng Lớp: Kinh tế phát triển 49A
12
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Ngô Thắng Lợi
tin phản hồi nội bộ giúp cho công tác quản lý tốt hơn và dự án thực hiện hiệu quả
hơn. Nếu có vấn đề nào đó nảy sinh trong quá trình thực hiện thì bộ phận này phối
hợp với nhà tài trợ tìm một biện pháp giải quyết. Đồng thời, về phía Việt Nam cần
thành lập một cơ quan tổng hợp điều phối các vấn đề thực hiện dự án, điều phối
giữa cơ quan liên quan và nhà tài trợ. Bộ phận đánh giá sau dự án sẽ chịu trách
nhiệm đánh giá các dự án đầu tư sau khi hoàn thành, có thể kết hợp cùng với cơ
quan Kiểm toán Nhà nước. Nó đánh giá toàn bộ phương diện thực hiện và quản lý
dự án, bao gồm các khoản chi tiêu, kế hoạch, phạm vi công việc, hoạt động của các
nhà thầu và các tư vấn cũng như các cơ quan liên quan của Chính phủ.
(5) Ấn định rõ ràng thời gian cho phê duyệt kế hoạch đầu tư theo quy định nội bộ .
Phê duyệt của Chính phủ đối với kế hoạch của các dự án sử dụng vốn đầu
tư ODA phải được tiến hành trước khi khoản vay có hiệu lực. Sự kết hợp hài hồ phê
duyệt nghiên cứu khả thi của Chính phủ với sự thoả thuận giữa Chính phủ và nhà
tài trợ về quy mô dự án, chi phí ước tính, kế hoạch thực hiện là cần thiết để tránh
việc bổ xung quá nhiều vào hợp phần dự án trong quá trình thực hiện. Việc đơn
của các dự án đầu tư được sát sao hơn ,từ đó mà có những điều chỉnh cho phù
hợp .Với mục tiêu cuối cùng là dự án sẽ mang lại hiệu quá cao nhất .
1.2.2.5.Trình độ và năng lực của cán bộ quản lý ở các cấp.
a.Thành lập Ban QLDA trong giai đoạn chuẩn bị dự án
Như đã nêu ở trên, sự chậm trễ trong quá trình phê duyệt nghiên cứu khả thi
của dự án trên đó ảnh hưởng đến việc thành lập chính thức Ban QLDA và do đó, đã
làm cho dự án chậm khởi động ngay từ giai đoạn đầu của quá trình thực hiện. Các
Ban QLDA cần phải được thành lập ngay từ giai đoạn đầu của quá trình chuẩn bị
dự án. Ví dụ ngay sau khi có cam kết tài chính của nhà tài trợ và trước khi đàm
phán khoản vay để Ban QLDA có thể bắt tay vào công tác chuẩn bị dự án. Đồng
thời các cán bộ của chính phủ đã tham gia vào giai đoạn chuẩn bị cần được tiếp tục
tiến cử vào vị trí cán bộ ban QLDA và tiếp tục làm việc cho dự án với tư cách là cán
bộ của Ban QLDA đó, họ có thể đóng góp hiệu quả hơn vào công tác quản lý dự án
với kiến thức và chuyên môn tổng hợp của mình.
b. Sử dụng chuyên môn trong nước.
Trong quá trình chuẩn bị kế hoạch dự án, Chính phủ cũng như nhà tài trợ nên
tạo điều kiện sử dụng chuyên môn trong nước càng nhiều càng tốt, bao gồm các cán
bộ của cơ quan chủ quản và các Ban QLDA nếu thấy phù hợp. Một khi các tư vấn
và chuyên gia nước ngoài được khuyến khích làm như vậy sẽ là có cơ hội rất tốt để
chuyển giao kỹ thuật cũng như có những thu xếp cần thiết để có được các cán bộ
SV: Lê Quang Vượng Lớp: Kinh tế phát triển 49A
14
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Ngô Thắng Lợi
đối tác tham gia sâu vào quá trình soạn thảo dự án. Thông qua quá trình này, việc
tăng cường năng lực thể chế có thể sẽ hiệu quả hơn, không chỉ dựa trên các khó đào
tạo hay hội thảo. Việc thể chế hoá hoạt động này phải được lồng ghép vào quá trình
soạn thảo dự án.
c. Đào tạo và giáo dục .
Tầm quan trọng của quá trình giáo dục và đào tạo cán bộ làm công tác lập kế
hoạch và quản lý dự án ODA có y nghĩa về dài hạn.
vốn
đầu
tư
Ngà
y ký
kết
Nội Dung Chú ý
1 Cầu Thanh
Trì( cấp lần 4)
Nhật
Bản
2006-
2011
Bộ
GTVT
117.19 31/3/
2006
Thuộc
chương trình
dự án tín
dụng ưu đãi
tài khóa
2005 của NB
2 Xây đựng Cầu
Nhật Tân giai
đoạn I
Nhật
Bản
2006-
2011
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Ngô Thắng Lợi
tế Nội Bài khi
hoàn thành
góp phần hoàn
thiện vành đai
II, giúp đẩy
mạnh phát
triển KT - XH
của Thủ đô,
các tỉnh phí
bắc và cả
nước
3 Xậy dựng cầu
Nhật Tân (cầu
hữu nghị Việt-
Nhật) II
Nhật
Bản
2011-
2015
Bộ
GTVT
304.25 24/1/
2011
Thuộc
chương trình
dự án tín
dụng ưu đãi
đợt 1 tài
khóa 2010
chương trình
dự án tín
dụng ưu đãi
tài khóa
2007 của NB
6 Thoát nước
TP Hà Nội (gđ
2)
Nhật
Bản
2006-
2013
UBND
Hà Nội
370 31/3/
2006
Xây dựng cụm
công trình đầu
mối Yên Sở ;
trạm bơm
,kênh dẫn-
xả ,cống qua
đê, hồ điều
hòa ,kênh
Linh Đàm .Cải
tạo 34 km
sông: Lừ
,Sột ,Tô Lịch,
Kim Ngưu và
cải tạo 29 cầu
( reuse) – Tái
chế (recycle)
rác thải
8 Dự án phát
triển cơ sở hạ
tầng đô thị Hà
Nội gđ 1
Nhật
Bản
1999-
2008
UBND
Hà Nội
166.93 30/3/
1999
9 Chương trình
phát triển hạ
tầng đô thị
Bắc Thăng
Long- Vân Trì
Nhật
Bản
1997-
2008
UBND
Hà Nội
139.73 16/3/
1997
Xây dựng đầu
mối CSHT kỹ
Đường nối từ
cầu Nhật Tân
đến sân bay
Nội Bài
Nhật
Bản
2010-
2015
Bộ
GTVT
70.28 18/3/
2010
Thuộc
chương trình
dự án tín
dụng ưu đãi
tài khóa
2009 của NB
12 Xây dựng nhà
ga hành khách
–cảng hàng
không quốc tế
Nội Bài
Nhật
Bản
2009-
2014
Bộ
GTVT
135.36 18/3/
SV: Lê Quang Vượng Lớp: Kinh tế phát triển 49A
18
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Ngô Thắng Lợi
1)
14 Phát triển cơ
sở hạ tầng khu
công nghệ cao
Hòa Lạc
Nhật
Bản
2010-
2014
Bộ
KHCN
10.79 18/3/
2010
Thuộc
chương trình
dự án tín
dụng ưu đãi
tài khóa
2009 của NB
Qua bảng số liệu trên thì ta dễ nhận thấy các dự án mà ODA Nhật Bản đầu tư
vào Hà Nội đa phần là các dự án về nâng cao cơ sở hạ tầng kỹ thuật (các dự án về
Giao thông đô thị , Cấp thoát nước ….) Sở dĩ có điều như vậy là vì Nhật Bản đã xác
định, phương hướng trong thời gian tới sẽ tăng cường mạnh mẽ ODA để hỗ trợ Việt
Nam xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông và nguồn nhân lực, bởi vì đây là những
nhân tố không thể thiếu cho sự phát triển bền vững của Việt Nam, bởi Việt Nam
vẫn đang có nhu cầu vốn lớn để đẩy mạnh phát triển kinh tế- xã hội.
Và nhờ có các dự án ODA Nhật Bản mà năng lực cơ sở hạ tầng của Hà Nội
70 mm/giờ.
+ Dự án Xây dựng các nhà máy xử lí nước thải tập trung quy mô lớn nhằm
cải thiện môi trường Hà Nội: nguồn vốn thực hiện vay JBJC, nội dung cơ bản của
dự án như sau:
Mục tiêu đầu tư: thu gom và xử lí nước thải để cải tạo, chống ô nhiễm cho hệ
thống sông, hồ của thành phố Hà Nội nhằm cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường,
nâng cao chất lượng, điều kiện sống của nhân dân, góp phần xây dựng thành phố Hà
Nội trở thành một thành phố xanh, sạch, đẹp và văn minh hiện đại.
Tổng mức đầu tư: 624,2 triệu USD (trong đó vốn ODA là 61,786 triệu Yên, tương
đương 611,7 triệu USD). Dự kiến vốn ODA đầu tư cho giai đoạn 1 là 36.100 triệu Yên
Quy mô đầu tư: Xây dựng 2 nhà máy xử lí nước thải tập trung quy mô lớn cho
các lưu vực S2, S3 và hệ thống thu gom đồng bộ cho từng lưu vực được xác định
trong quy hoạch chung của Thủ đô Hà Nội đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt tại quyết định số 108/1998/QĐ-TTg ngày 20/6/1998, quy mô đầu tư
của 2 nhà máy như sau:
- Nhà máy xử lí nước thải Yên Xá
Địa điểm xây dựng: thôn Yên Xá, huyện Thanh Trì, diện tích đất xây dựng:
khoảng 16ha
Công suất: khoảng 270.000m3/ngày đêm nhằm thu gom và xử lí nước thải của
lưu vực S2 (khoảng 4.936ha) gồm các quận Ba Đình, Đống Đa, Thanh Xuân, một
phần quận Hoàng Mai và huyện Thanh Trì. Hệ thống cống thu gom khoảng 30km
đường kính từ D400 đến D2200mm hoặc tương đương.
- Nhà máy xử lí nước thải Phú Đô
Địa điểm xây dựng: thôn Phú Đô, huyện Từ Liêm, diện tích đất xây dựng:
khoảng 9 ha
Công suất: khoảng 84.000m3/ngày đêm nhằm thu gom và xử lí nước thải của
SV: Lê Quang Vượng Lớp: Kinh tế phát triển 49A
20
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Ngô Thắng Lợi
lưu vực S3 (khoảng 2.384 ha) gồm các quận Cầu Giấy, Thanh Xuân, một phần
Tình hình môi trường đô thị có nhiều tiến bộ. Hiện tượng rác thải sinh hoạt ùn
tắc lưu cữu đã giảm đáng kể, diện mạo môi trường của TP ngày càng được cải thiện
và ý thức của người dân trong công tác VSMT được nâng cao thông qua việc tiếp
SV: Lê Quang Vượng Lớp: Kinh tế phát triển 49A
21
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Ngô Thắng Lợi
cận chương trình 3R (của JICA) ….
Ngoài ra các dự án khác về lĩnh vực y tế, văn hoá, giáo dục cũng góp phần
giải quyết một phần những khó khăn về cơ sở vật chất phục vụ người dân Thủ đô.
- Về Năng Lực Quản Lý:
Thông qua các chương trình, dự án sử dụng vốn ODA, năng lực của các cơ
quan quản lý đã được tăng cường, nhiều lớp cán bộ nghiên cứu và quản lý đã được
đào tạo, học tập góp phần nâng cao kiến thức có hệ thống ở nước ngoài trong việc
quản lý, điều hành các dự án đầu tư …
2.2.Hiệu quả sử dụng ODA Nhật Bản vào cơ sở hạ tầng tại Hà Nội giai
đoạn 2006-2010.
2.2.1.Tình hình cam kết và giải ngân vốn ODA Nhật Bản .
Ta có bảng sau :
Bảng 2.2. Tình hình giải ngân vốn ODA Nhật Bản đối với các dự án cơ
sở hạ tầng Hà Nội giai đoạn 2006-2010.
Năm
Kế hoạch
Giải Ngân
ODA (Triệu
USD)
Giải Ngân
ODA
(Triệu.USD)
Tỷ lệ giải
ngân ODA
bình 180% kế hoạch giải ngân(KHGN). Nguyên nhân có điều này bởi các dự án về
cơ sở hạ tầng là những dự án có đặc thù riêng ( lượng vốn lớn , thời gian thực hiện
dự án trong thời gian dài trung bình từ 5 năm đến 10 năm …) nên việc chậm trễ của
những loại dự án kiểu này là khó tránh , nhưng không nên để thời gian trể của các
dự án nhiều như hiện nay trung bình từ 1 năm đến 4 năm tùy quy mô của dự án triển
khai .Chính điều này là nguyên nhân chính làm giảm hiệu quả đầu tư của dự án.
Và dưới đây là thực trạng về tốc độ giải ngân của một số dự án cụ thể :
Các dự án có mức giải ngân đạt và vượt kế hoạch :
Đó là các dự án: Phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đô thị Hà Nội giai đoạn I;
Phát triển hạ tầng đô thị Bắc Thăng Long - Vân Trì; Thoát nước nhằm cải thiện môi
trường Hà Nội (dự án 2); Tuyến đường sắt đô thị tuyến 2, đoạn Nam Thăng Long-
Trần Hưng Đạo; Tuyến đường sắt đô thị thí điểm Nhổn-Ga Hà Nội; Phát triển giao
thông đô thị Hà Nội; Phát triển CNTT và Truyền thông tại Việt Nam-Tiểu dự án
Thành phố Hà Nội.
Đáng chú ý, đối với dự án Phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đô thị Hà Nội
giai đoạn I, các gói thầu sử dụng vốn ODA cơ bản đã hoàn thành. Đối với dự án
Phát triển hạ tầng đô thị Bắc Thăng Long-Vân Trì đã giải ngân ODA đạt 93%, trong
đó, công tác quyết toán 4 gói thầu xây lắp và gói thầu dịch vụ tư vấn cơ bản đã hoàn
thành, riêng gói thầu tư vấn vẫn đang tiếp tục thực hiện nhiệm vụ theo điều kiện
hợp đồng đến tháng 4/2011.
Bên cạnh đó đối với dự án Phát triển CNTT và Truyền thông tại Việt Nam-
Tiểu dự án Thành phố Hà Nội do Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nơi làm chủ
đầu tư, thực hiện 13 gói thầu (thời gian thực hiện từ năm 2006 cho đến tháng
6/2011); dự kiến đến tháng 6/2011 sẽ hoàn thành cơ bản.
Nhìn chung, các dự án ODA có khối lượng giải ngân 3 tháng đã đạt 99% kế
hoạch giao. Việc giải ngân vốn đối ứng trong nước của một số dự án tập trung phần
lớn vào công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) để kịp thời bàn giao cho nhà thầu thi
SV: Lê Quang Vượng Lớp: Kinh tế phát triển 49A
23
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Ngô Thắng Lợi