TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUẾ
KHOA MÁC-LÊNIN
BỘ MÔN TRIẾT HỌC
HƯỚNG DẪN ÔN TẬP
TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN
(TÀI LIỆU LƯU HÀNH NỘI BỘ)
HUẾ, 1998
1
Lời nói đầu
- Căn cứ vào thông báo số 7785/CTCT ngày 12.9.1998 của Bộ giáo dục và
Đào tạo về việc dạy và học các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
năm học 1998-1999.
- Căn cứ vào nhu cầu về tài liệu học tập của sinh viên và học viên Cao học,
nghiên cứu sinh không chuyên ngành Mác-Lênin, Bộ môn Triết học Trường Đại
học Khoa học Huế biên soạn cuốn: “Hướng dẫn ôn tập Triết học Mác – Lênin”.
Đây là tài liệu giúp cho người học nắm được một cách có hệ thống những
nguyên lý cơ bản của Triết học Mác-Lênin và những quan điểm của Đảng ta vận
dụng vào cách mạng Việt Nam.
Tập thể tác giả xin được đón nhận sự hợp tác và những ý kiến trao đổi, xây
dựng của bạn sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh và đồng nghiệp.
Bộ môn Triết học
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUẾ
2
Phần A
CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ THẾ GIỚI
Câu 1: Triết học là gì? Phân tích vấn đề cơ bản của triết học?
1. Khái niệm triết học:
“Triết” theo nguyên chữ Hán có nghĩa là trí (bao gồm sự hiểu biết sâu rộng
về vũ trụ và nhân sinh), theo chữ Hy Lạp là “yêu mến sự thông thái”. Khái niệm
“triết học” có những biến đổi nhất định trong lịch sử, nhưng lúc nào cũng bao hàm:
yếu tố nhận thức (sự hiểu biết về vũ trụ, về con người và sự giải thích bằng hệ
thế kỷ V-XV, duy vật cơ học máy móc thế kỷ XVII-XVIII, duy vật siêu hình thế kỷ
XIX và duy vật mác-xít (biện chứng).
Chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức (tinh thần) là bản chất của thế giới, nên ý
thức là cái có trước và quyết định vật chất; còn vật chất là cái có sau, là sự “biểu
hiện” của ý thức. Chủ nghĩa duy tâm có hai hình thức cơ bản: duy tâm chủ quan
(coi ý thức là bản chất của thế giới, nhưng đó là ý thức của con người nằm trong
con người) và duy tâm khách quan (cũng coi ý thức là bản chất của thế giới, nhưng
đó là một thực thể tinh thần tồn tại bên ngoài con người và độc lập với con người).
Nguồn gốc của chủ nghĩa duy vật: là sự phát triển của tri thức, của khoa học;
là lợi ích và cuộc đấu tranh của các giai cấp, các lực lượng xã hội tiến bộ, cách
mạng ở mỗi giai đoạn phát triển của lich sử. Nguồn gốc của chủ nghĩa duy tâm: là
sự tuyệt đối hóa một hình thức hay một giai đoạn của quá trình nhận thức dẫn đến
tách nhận thức và ý thức khỏi thế giới hiện thực khách quan; thông thường là lợi
ích và sự phản kháng của các giai cấp, các lực lượng bảo thủ trước tiến bộ xã hội.
- Mặt thứ hai, là vấn đề về khả năng nhận thức của con người.
Toàn bộ các nhà triết học duy vật và đa số những nhà triết học duy tâm đều
thừa nhận rằng thế giới có thể nhận thức được. Nhưng các nhà duy vật cho rằng,
4
nhận thức là sự phản ánh thế giới vật chất khách quan trong bộ óc con người. Còn
các nhà duy tâm thì cho rằng, nhận thức chỉ là sự ý thức về bản chất ý thức.
Trả lời vấn đề này còn có những nhà triết học theo nguyên tắc bất khả tri
(không thể biết). Những người này xuất phát từ việc tuyệt đối hóa tính tương đối
của tri thức dẫn đến phủ nhận khả năng nhận thức của con người.
- Bên cạnh những nhà triết học nhất nguyên (duy vật và duy tâm) giải thích
thế giới từ một bản nguyên, hoặc vật chất hoặc tinh thần, còn có những nhà triết
học nhị nguyên luận. Nhị nguyên luận cho rằng thế giới được sinh ra từ hai bản
nguyên độc lập với nhau, bản nguyên vật chất sinh ra các hiện tượng vật chất, bản
nguyên tinh thần sinh ra các hiện tượng tinh thần. Nhị nguyên luận thể hiện lập
trường dung hòa giữa duy vật và duy tâm, đó chỉ là khuynh hướng nhỏ trong lịch
sử triết học và trong cuộc đấu tranh triết học nó càng trở nên gần với chủ nghĩa duy
xã hội, tổng kết những thành quả lý luận và khoa học, Mác và Ăngghen xây dựng
lại phương pháp biện chứng trên lập trường duy vật đã sáng tạo ra phương pháp
biện chứng mácxít. Phương pháp biện chứng là cách xem xét thế giới trong mối
liên hệ phổ biến quy định ràng buộc nhau và luôn vận động và luôn phát triển.
- Sự đối lập giữa phương pháp siêu hình và phương pháp biện chứng diễn ra
trong cách giải quyết mọi vấn đề triết học, song có thể khái quát ở những nội dung
chính sau đây:
Thứ nhất: Phương pháp siêu hình xem xét thế giới trong trạng thái cô lập của
các sự vật hiện tượng; cái này được xét tách rời cái kia mà không thừa nhận rằng
giữa chúng có sự ràng buộc lẫn nhau. Vì vậy phương pháp siêu hình chỉ nhìn thấy
tính cá biệt mà không nắm được mối liên hệ, thấy được sự khác biệt mà không nắm
được sự thống nhất giữa các sự vật hiện tượng; chỉ thấy cái bộ phận, cái đơn nhất,
cái riêng mà không nắm được cái toàn thể, cái phổ biến, cái chung. Trái lại,
phương pháp biện chứng xem xét thế giới trong mối liên hệ, ràng buộc giữa các
yếu tố của nó và với cái khác. Vì vậy, phương pháp biện chứng nhìn nhận sự vật
toàn diện hơn, thấy được cả sự khác biệt và sự thống nhất giữa các sự vật, hiện
6
tượng, nắm được cả cải bộ phận và cái toàn thể, cái đơn nhất và cái phổ biến, cái
riêng và cái chung.
Thứ hai: Phương pháp siêu hình xem xét thế giới trong trạng thái tĩnh; sự vật
hiện tượng chỉ được xét như cái gì ổn định nằm ngoài sự vận động và phát triển
của chúng. Cách xem xét này cho phép phương pháp siêu hình nắm được tính xác
định và ổn định của sự vật, hiện tượng, nhưng mặt khác cũng dẫn đến những sai
lầm nghiêm trọng: đó là quan điểm phủ nhận sự vận động, phát triển của thế giới;
là quan điểm cho rằng thế giới có sự tăng giảm về lượng, sự lặp lại, mà không có
sự chuyển hóa về chất, không có sự xuất hiện cái mới thay thế cái cũ, cái lạc hậu.
Vì vậy phương pháp siêu hình không thể vạch ra được bản chất thật sự của mọi sự
vật, hiện tượng; không vạch ra được nguồn gốc, động lực, quy luật và xu hướng
vận động phát triển của chúng. Trái lại, phương pháp biện chứng xem xét thế giới
trong trạng thái vận động, chuyển hóa không ngừng; sự vật, hiện tượng nào cũng
lượng và chất lượng. Sự tập trung tư bản cùng với sự hình thành những trung tâm
công nghiệp lớn thu hút công nhân thành lực lượng đông đảo, mâu thuẫn giữa lao
động và tư bản trở nên gay gắt làm xuất hiện những cuộc đấu tranh chính trị ngày
càng có tổ chức và tự giác. Các cuộc khởi nghĩa của công nhân ở Xilêdi (Đức), ở
Liông và Pari (Pháp), phong trào Hiến chương (Anh) vào những năm 30-40 chứng
minh rằng: giai cấp công nhân trở thành lực lượng quyết định các quá trình kinh tế-
xã hội-chính trị của thời đại và bước lên vũ đài lịch sử như một lực lượng chính trị
độc lập. Phong trào công nhân thời kỳ này làm bộc lộ sai lầm của quan niệm tư sản
về sự hân hoan chung giữa lao động và tư sản, tạo nên những thay đổi căn bản
trong quan niệm về lịch sử của Mác và Ăngghen; mặt khác, nó đề ra nhu cầu giải
thích về những thực tế của cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản về sứ mệnh lịch sử
của giai cấp vô sản về tổ chức, con đường và phương tiện cách mạng của giai cấp
vô sản. Chủ nghĩa Mác ra đời đã đáp ứng những đòi hỏi này.
Những phân tích và khái quát lý luận về sự phát triển của chủ nghĩa tư bản
và phong trào công nhân vào nửa đầu thế kỷ XIX là một bộ phận quan trọng trong
8
học thuyết của Mác và Ăngghen. Vì vậy, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và
phong trào công nhân thời kỳ đó là những điều kiện kinh tế-xã hội cho sự ra đời
của triết học.
* Tiền đề lý luận
- Sự ra đời của triết học Mác trước hết có kế thừa những thành quả của triết
học cổ điển Đức. Mác và Ăngghen luôn thừa nhận rằng trong sự phát triển trí tuệ
của mình, hai ông đã chịu ơn nhiều nhà triết học Đức, trong đó nổi bật là Hêghen
và Phoiơbắc.
Công lao to lớn của Hêghen là ở chỗ: Ông đã phê phán những hạn chế cơ
bản của phương pháp siêu hình, đã xây dựng phép biện chứng thành hệ thống và
xem nó là phương pháp luận đúng đắn của mọi nhận thức khoa học. Nhưng Mác và
Ăngghen cũng chỉ ra rằng, triết học Hêghen có những hạn chế lớn, đó là sự giải
thích duy tâm về hiện thực; là sự biện hộ cho những thực tế lịch sử lỗi thời, cho tôn
giáo; là triết học tự biện, trừu tượng, xa rời hiện thực và thực tiễn. Cho nên khi
góp phần khẳng định quan điểm biện chứng về lịch sử vũ trụ và giới tự nhiên: mặt
khác đả phá quan niệm duy tâm, tôn giáo siêu hình về thế giới.
Từ những năm 30 đến 50 của thế kỷ XIX, khoa học tự nhiên đã có những
thành tựu to lớn. Thời kỳ này có ba phát minh vĩ đại đóng vai trò quan trọng trong
cuộc đấu tranh chống quan điểm siêu hình và chuẩn bị cho sự ra đời của chủ nghĩa
duy vật biện chứng.
Vào những năm 40 của thế kỷ XIX phát minh ra quy luật bảo toàn và chuyển
hóa năng lượng. Quy luật này chứng minh rằng: lực cơ học, nhiệt, ánh sáng, điện,
từ các quá trình hóa học, nghĩa là các hình thức khác nhau của vận động vật chất
không tách rời nhau, mà liên hệ và chuyển hóa lẫn nhau nên không hề mất đi. Nó
chứng minh rằng không có sự sinh ra và mất đi của năng lượng, mà chỉ có sự
chuyển hóa năng lượng từ dạng này sang dạng khác. Như vậy quy luật này là cơ sở
khoa học tự nhiên cho quan điểm biện chứng về thế giới.
10
Vào những năm 30 của thế kỷ XIX, khoa học tự nhiên đã phát minh ra học
thuyết cấu tạo tế bào của cơ thể sống. Học thuyết này bác bỏ quan niệm siêu hình
về sự khác biệt tuyệt đối giữa thực vật và động vật. Ngược lại, nó khẳng định sự
thống nhất về nguồn gốc và hình thái giữa thực vật và động vật, giải thích quá trình
phát triển của chúng, đặt cơ sở cho quan điểm duy vật biện chứng về sự phát triển
của toàn hệ sinh học.
Phát minh lớn thứ ba là học thuyết tiến hóa của sinh giới ra đời vào những
năm 50 của thế kỷ XIX. Học thuyết tiến hóa chứng minh rằng sinh giới không phải
là bất biến mà thường xuyên biến đổi, nằm trong quá trình tiến hóa không ngừng
của giới tự nhiên. Nó khẳng định sự tiến hóa của sinh giới diễn ra theo con đường
chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo. Lênin đánh giá rằng thuyết tiến hóa đánh
dấu sự cáo chung của quan niệm siêu hình về tính bất biến của các loài và quan
niệm về nguồn gốc thần thánh của sinh giới đem lại cơ sở thật sự khoa học cho
sinh học. Mác và Ăngghen xác nhận rằng thuyết tiến hóa đem lại cái cơ sở lịch sử
tự nhiên cho học thuyết của hai ông, đã đập tan thần học trong học thuyết về sự
phát triển của thực vật và động vật; rằng trước đó chưa hề có một sự chứng minh
nhà duy vật trước Mác đã rơi vào quan điểm duy tâm siêu hình khi đề cập đến
những vấn đề xã hội. Chủ nghĩa duy tâm phản ánh lợi ích của giai cấp thống trị bảo
thủ, cho nên nó xa rời thực tiễn, tách khỏi hiện thực, làm cho quần chúng không
thấy được những cơ sở vật chất của các quan hệ bóc lột.
Chỉ ra vai trò quyết định của thực tiễn, Mác và Ăngghen cũng luôn nhấn
mạng vai trò to lớn của hoạt động tinh thần, của lý luận. Vì vậy hai ông đã phát
triển học thuyết cân đối về mối liên hệ giữa lý luận cách mạng và thực tiễn cách
mạng. Lý luận cách mạng có vai trò chỉ đạo thực tiễn, làm cho thực tiễn từ tự phát
thành thực tiễn cách mạng, tự giác. Khi lý luận cách mạng thâm nhập vào quần
chúng sẽ đem lại cho họ những hiểu biết quy luật của đời sống xã hội, hướng dẫn
họ thực hiện một cách tự giác những nhiệm vụ của cuộc đấu tranh thực tiễn, lúc đó
trở thành sức mạnh vật chất.
12
Là thế giới quan và phương pháp luận của giai cấp vô sản, triết học Mác có
sự thống nhất sâu sắc giữa tính Đảng, tính cách mạng và tính khoa học. Triết học
Mác là sự phản ánh lợi ích của giai cấp vô sản và nhân dân lao động; đồng thời nó
là lý luận cho cuộc đấu tranh của họ nhằm xóa bỏ mọi chế độ người bóc lột người,
đưa nhân loại lên chủ nghĩa cộng sản. Đó là tính Đảng, tính cách mạng của triết
học Mác không đối lập với tính khoa học của nó. Khi phản ánh lợi ích của giai cấp
vô sản và phục vụ cho cuộc đấu tranh vì chủ nghĩa cộng sản, triết học Mác phản
ánh đúng yêu cầu và những quy luật khách quan của lịch sử.
Sự ra đời của triết học Mác cũng là sự sáng lập chủ nghĩa duy vật biện
chứng và phép biện chứng duy vật. Đây là những hình thức cao của chủ nghĩa duy
vật và phép biện chứng, khắc phục những thiếu sót căn bản của triết học trước kia.
Trước Mác chủ nghĩa duy vật thì siêu hình, còn phép biện chứng thì lại gắn với lập
trường duy tâm, như vậy chúng tách rời, thậm chí đối lập nhau, chỉ khi triết học
Mác ra đời mới có sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng, tạo ra
một triết học phát triển cao hơn về chất so với trước đó.
- Sự ra đời triết học Mác cũng là sự sáng lập ra chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Đây là biểu hiện rõ rệt nhất của cuộc cách mạng triết học do Mác và Ăngghen thực
đây:
a. “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan…”
- “Vật chất” là một phạm trù khái quát nhất, rộng nhất của lý luận nhận thức.
+ Phạm trù vật chất phải được xem xét dưới góc độ của triết học, chứ không
phải dưới góc độ của các khoa học cụ thể. Điều này sẽ giúp chúng ta tránh được sai
lầm khi đồng nhất phạm trù vật chất trong triết học với các khái niệm vật chất
thường dùng trong các khoa học cụ thể hoặc đời sống hằng ngày.
+ Không thể định nghĩa phạm trù vật chất theo phương pháp thông thường.
Về mặt nhận thức luận, Lênin chỉ có thể định nghĩa phạm trù vật chất trong quan
hệ với phạm trù đối lập của nó, đó là phạm trù ý thức (phương pháp định nghĩa
14
thông qua cái đối lập với nó). (Xem thêm chương khái niệm ở giáo trình Lôgic
hình thức)
Khi định nghĩa vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách
quan, Lênin đã bỏ qua những thuộc tính riêng lẻ, cụ thể, nhiều màu, nhiều vẻ của
các sự vật, hiện tượng, mà nêu bật đặc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất có ở tất cả
các sự vật, hiện tượng trong thế giới hiện thực khách quan. Đó là đặc tính “tồn tại
với tư cách là thực tại khách quan”, tồn tại ở ngoài ý thức con người và độc lập với
ý thức. Đặc tính này là dấu hiệu cơ bản để phân biệt vật chất với cái không phải là
vật chất.
- Tính trừu tượng của phạm trù vật chất: Phạm trù vật chất khái quát đặc tính
chung nhất của mọi khách thể vật chất xét trong quan hệ với ý thức nên về hình
thức nó là cái trừu tượng. Vì thế, không được đồng nhất vật chất với các dạng cụ
thể của nó giống như quan niệm của các nhà duy vật trước Mác.
b. Thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác.
Trong phần này, Lênin đã giải quyết được những điều sau đây:
- Thứ nhất, Lênin đã giải quyết được mối quan hệ giữa tính trừu tượng và
tính hiện thực cụ thể cảm tính của phạm trù vật chất. Vật chất không phải tồn tại vô
hình, thần bí mà tồn tại một cách hiện thực, được biểu hiện cụ thể dưới dạng các sự
vật, hiện tượng cụ thể mà các giác quan của chúng ta có thể nhận biết một cách
a. Ý thức là thuộc tính phản ánh của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ
não người.
- Phản ánh là thuộc tính chung của vật chất. Phản ánh đó là năng lực giữ lại,
tái hiện lại của hệ thống vật chất này những đặc điểm của hệ thống vật chất khác
16
và ngược lại. Nó được thực hiện trong sự tác động qua lại giữa các hệ thống vật
chất.
- Thuộc tính phản ánh của vật chất có quá trình phát triển từ thấp đến cao, từ
đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn chỉnh đến ngày càng hoàn thiện hơn.
+ Phản ánh của giới vô sinh. Phản ánh này đơn giản, thụ động, không có
chọn lọc.
+ Trên cơ sở phản ánh của thế giới vô sinh xuất hiện một hình thức phản ánh
mới cao hơn về chất, đó là phản ánh của giới hữu sinh. Hình thức phản ánh này
gắn liền với quá trình chuyển hóa từ giới vô sinh qua giới hữu sinh. Hình thức này
có quá trình phát triển lâu dài từ thấp đến cao: kích thích, cảm ứng, tâm lý sơ cấp
của động vật và cùng với quá trình vượn biến thành người, phản ánh của động vật
cấp cao chuyển hóa thành phản ánh ý thức của con người.
Như vậy, ta thấy rằng các dạng vật chất có trình độ tiến hóa càng cao thì sự
phản ánh càng cao; ý thức chỉ xuất hiện cùng với sự xuất hiện dạng vật chất có tổ
chức cao là bộ não của con người, chứ không phải với mọi dạng vật chất; ý thức
chỉ là thuộc tính phản ánh của vật chất, do đó, không được đồng nhất vật chất với ý
thức và cũng không được tách ý thức ra khỏi vật chất.
b. Khách thể vật chất bên ngoài
Bộ não con người với tư cách là hệ thống phản ánh. Vì vậy, muốn có ý thức
thì phải có sự tác động của khách thể vật chất bên ngoài vào bộ não của con người.
Thế nhưng, tại sao con vật cũng có sự tác động của khách thể vật chất bên
ngoài lên bộ não của nó mà lại không có ý thức? Sở dĩ như vậy là vì khác với tâm
lý động vật, ý thức con người ngoài nguồn gốc tự nhiên còn có nguồn gốc xã hội.
2. Nguồn gốc xã hội.
Sự ra đời của ý thức gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của bộ
18
cực và chủ động về thế giới khách quan. Đó chính là sự khác biệt rất cơ bản của ý
thức con người so với tâm lý động vật và sự “suy nghĩ” của máy móc.
Phản ánh của ý thức là sáng tạo, vì nó bao giờ cũng do nhu cầu thực tiễn quy
định. Song, sự sáng tạo của ý thức là sự sáng tạo của sự phản ánh, trong khuôn khổ
và theo tính chất của quy luật phản ánh.
Con người khác với động vật là thông qua hoạt động thực tiễn có mục đích,
có định hướng, tác động vào sự vật, hiện tượng trong thế giới, buộc chúng phải bộc
lộ đặc tính, kết cấu, quy luật lao động để phản ánh và nhận thức. Khi con người
nhận thức được quy luật, thì con người vận dụng tri thức đó vào việc cải biến thế
giới khách quan nhằm phục vụ cho cuộc sống của mình.
Câu 7: Phân tích quan điểm của triết học Mác-Lênin về vận động của
vật chất.
a. Vận động là gì?
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, vận động là mọi sự biến
đổi nói chung.
b. Vận động là phương thức tồn tại của vật chất.
Vật chất chỉ có thể tồn tại bằng cách vận động và thông qua vận động mà nó
biểu hiện sự tồn tại của mình. Nói cách khác, không thể có vật chất mà không có
vận động.
Vận động của vật chất là tự thân vận động. Vật chất không do ai sáng tạo ra
và nó không thể bị tiêu diệt, mà vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất, nên
vận động cũng không do ai sáng tạo ra và không thể bị tiêu diệt. Nếu một hình thức
vận động nào đó của một sự vật nhất định mất đi thì tất yếu sẽ nảy sinh một hình
thức vận động khác thay thế, nghĩa là các hình thức vận động của vật chất chỉ
chuyển hóa lẫn nhau mà thôi, chứ vận động của vật chất thì vĩnh viễn tồn tại cùng
với sự tồn tại vĩnh viễn của vật chất.
c. Các hình thức vận động cơ bản của vật chất:
19
Dựa trên những thành tựu khoa học của thời đại mình, Ph.Ăngghen đã phân
biến đổi, làm cho sự đứng im tương đối luôn luôn bị phá vỡ. Đứng im chỉ là tạm
thời vì: vận động cá biệt có xu hướng trở thành cân bằng, vận động toàn bộ lại có
xu hướng phá vỡ sự cân bằng riêng biệt đó.
Tóm lại, vận động là tuyệt đối, vĩnh viễn, đứng im là tương đối, tạm thời, vật
chất không thể nào tồn tại như thế nào khác ngoài cách vận động và vật chất đang
vận động đó không thể vận động như thế nào khác ngoài vận động trong không
gian và thời gian, vật chất vận động là vô tận nên không gian và thời gian vật chất
cũng vô tận.
Câu 8: Phân tích quan điểm của triết học Mác-Lênin mối quan hệ giữa
vật chất và ý thức, từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận.
Khi bàn đến vấn đề này, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định:
1. Vật chất có trước ý thức, sinh ra ý thức và quyết định ý thức:
- Vật chất tồn tại khách quan và không phụ thuộc vào ý thức, còn ý thức là
thuộc tính phản ánh của một dạng vật chất có tổ chức cao (bộ óc người).
- Vật chất là nguồn gốc, động lực và mục đích của ý thức.
- Trong đời sống xã hội thì tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội.
Khi khẳng định vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức, chủ nghĩa duy
vật biện chứng đồng thời cũng vạch rõ sự tác động trở lại của ý thức đối với vật
chất.
2. Ý thức có tính độc lập tương đối, tác động trở lại đối với vật chất.
- Sự phản ánh của ý thức là sự phản ánh tích cực, chủ động và sáng tạo.
- Sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động thực tiễn.
21
- Sự tác động của ý thức đối với vật chất diễn ra theo hai khuynh hướng:
+ Khi ý thức phản ánh đúng quy luật khách quan thì nó đóng vai trò thúc
đẩy sự vận động và phát triển của thế giới hiện thực khách quan. Trong trường hợp
này ý thức giúp cho con người xác định đúng đắn mục tiêu, phương hướng, biện
pháp tổ chức hoạt động thực tiễn một cách có hiệu quả.
+ Khi ý thức phản ánh không đúng quy luật khách quan thì lúc này nó sẽ
làm kìm hãm sự vận động và phát triển của những điều kiện vật chất nhất định.
ràng buộc, quy định lẫn nhau. Cho nên đối với phép siêu hình, thế giới chỉ là một
tập hợp rời rạc các sự vật cô lập nhau. Cách nhìn ấy không cho phép chúng ta vạch
ra cái chung, cái bản chất và quy luật của các sự vật hiện tượng.
- Trái với quan điểm siêu hình, phép biện chứng duy vật thừa nhận mối liên
hệ phổ biến của các sự vật, hiện tượng trong thế giới và coi đó là nguyên lý cơ bản
của nó. Khái niệm liên hệ nói lên sự quy định, ảnh hưởng, ràng buộc, tác động và
chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng và quá trình. Phép biện chứng duy
vật phát biểu rằng: mọi sự vật, hiện tượng quá trình muôn vẻ trong thế giới đều tồn
tại trong mối liên hệ phổ biến với nhau, không có cái gì tồn tại biệt lập với cái
khác. Điều đó là dễ hiểu, vì vật chất tồn tại thông qua vận động, mà vận động cũng
là liên hệ. Ăngghen viết: “tất cả thế giới mà chúng ta có thể nghiên cứu được, là
một hệ thống, một tập hợp các vật thể khăng khít với nhau… Việc các vật thể có
liên hệ qua lại với nhau đã có ý nghĩa là các vật thể này tác động lẫn nhau và sự tác
động qua lại ấy chính là sự vận động”.
Như vậy phép biện chứng duy vật thừa nhận liên hệ diễn ra trong mọi lĩnh
vực, mọi sự vật và quá trình của hiện thực, nó có tính khách quan, xuất phát từ tính
thống nhất vật chất của thế giới. Phép biện chứng duy vật cũng chỉ ra rằng, liên hệ
của thế giới rất đa dạng, bởi thế giới bao gồm vô số sự vật hiện tượng muôn vẻ
khác nhau. Tùy theo tính chất, vai trò, phạm vi của liên hệ mà người ta phân thành
nhiều loại: liên hệ bên trong và liên hệ bên ngoài, liên hệ cơ bản và không cơ bản,
23
liên hệ không gian và thời gian, liên hệ trực tiếp và gián tiếp… Sự phân loại các
liên hệ này chỉ có ý nghĩa tương đối, bởi vì mỗi loại liên hệ chỉ là một hình thức,
một bộ phận, một mắt khâu của mối liên hệ phổ biến của thế giới xét như một
chỉnh thể. Tuy nhiên, sự phân loại các liên hệ là cần thiết, vì rằng vị trí của từng
mối liên hệ trong việc quy định sự vận động, phát triển của sự vật và hiện tượng
không như nhau.
Sự phân loại các liên hệ còn là cơ sở để xác định phạm vi nghiên cứu của
phép biện chứng duy vật và của các ngành khoa học cụ thể. Những hình thức riêng
biệt, cụ thể của từng mối liên hệ thuộc phạm vi nghiên cứu của từng ngành khoa
Khái niệm “phát triển” không khái quát mọi sự biến đổi nói chung; nó chỉ là
khái quát những vận động đi lên, cái mới ra đời thay thế cho cái cũ. Tiêu chuẩn để
xác định sự phát triển là có xuất hiện “cái mới” trong những biến đổi của sự vật
hiện tượng. Sự phát triển trong thế giới theo các chiều hướng cơ bản sau: phát triển
về trình độ (từ thấp đến cao), phát triển về cấu trúc (từ đơn giản đến phức tạp),
phát triển về bản chất (từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn). Sự phân biệt đó về
các chiều hướng chỉ là tương đối, một sự phát triển thường bao hàm cả các chiều
hướng này.
- Phép biện chứng duy vật khẳng định rằng sự phát triển, đổi mới là hiện
tượng diễn ra không ngừng trong tự nhiên, trong xã hội và trong tư duy, mà nguồn
gốc của nó là cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập trong bản thân sự vật và hiện
tượng. Nhưng không nên hiểu sự phát triển bao giờ cũng diễn ra một cách đơn
giản, theo đường thẳng. Xét từng trường hợp cá biệt, thì có những vận động đi lên,
tuần hoàn, thậm chí đi xuống, nhưng xét cả quá trình, trong phạm vi rộng lớn thì
vận động đi lên là khuynh hướng thống trị. Khái quát tình hình trên đây, phép biện
chứng duy vật khẳng định rằng, phát triển là khuynh hướng chung của sự vận động
của sự vật và hiện tượng.
25