dạy học thơ nguyễn bính cho học sinh vùng cao theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

HOÀNG THANH GIANG
DẠY HỌC THƠ NGUYỄN BÍNH
CHO HỌC SINH VÙNG CAO THEO HƢỚNG TÍCH CỰC HÓA
HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thái Nguyên, năm 2011



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

LỜI CẢM ƠN

Tác giả đề tài xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Gia Cầu đã trực tiếp hướng
dẫn về khoa học và giúp đỡ tận tình trong suốt quá trình tác giả nghiên cứu, hoàn
thành đề tài.
Xin chân thành cảm ơn đến Ban Giám hiệu trường Đại học Sư phạm Thái
Nguyên, Ban Chủ nhiệm khoa Ngữ văn, Khoa sau Đại học, các thầy giáo, cô giáo
Bộ môn phương pháp, Khoa Ngữ văn đã động viên, chỉ dẫn, đóng góp ý kiến và tạo
những điều kiện thuận lợi.
Nhân dịp này, xin được bày tỏ lòng biết ơn tới
Ban Giám hiệu trường phổ
thông Vùng Cao Việt Bắc và các đồng nghiệp trong tổ bộ môn Ngữ văn và các
phòng, ban của trường đã tạo những điều kiện hết sức thuận lợi, luôn khích lệ và
động viên tác giả.
Cuối cùng, tác giả xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã động viện,
giúp đỡ tác giả rất nhiều trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2011
Hoàng Thanh Giang
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các tài
liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng, các kết quả trong luận văn là trung
thực và chƣa đƣợc công bố ở bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Hoàng Thanh Giang

1.3.2. Khả năng phát hiện chủ thể trữ tình trong bài thơ 46
1.3.3. Khả năng liên tƣởng của HS Vùng caoViệt Bắc khi đọc bài thơ
“Tƣơng tƣ” 48
1.3.4. Những khoảng cách trong tiếp nhận văn bản bài thơ “Tƣơng tƣ” của
học sinh Vùng cao các tỉnh miền núi phía Bắc 49

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ii
Chƣơng II. NHỮNG BIỆN PHÁP RÚT NGẮN KHOẢNG CÁCH TRONG
TIẾP NHẬN THƠ NGUYỄN BÍNH CỦA HỌC SINH VÙNG CAO VÀ
TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH 53
2.1. Những biện pháp rút ngắn khoảng cách trong tiếp nhận thơ Nguyễn Bính 53
2.1.1. Biện pháp thứ nhất: Rút ngắn khoảng cách về ngôn ngữ trong tiếp
nhận thơ Nguyễn Bính: 54
2.1.2. Biện pháp thứ hai: Trang bị kiến thức văn hóa làng quê miền xuôi
trong thơ Nguyễn Bính cho HS miền núi. 58
2.2. Đƣa HS Vùng cao đến với thơ Nguyễn Bính theo hƣớng tích cực hóa hoạt
động học tập của HS. 65
2.2.1. Đƣa HS Vùng cao bƣớc đầu đến với thơ Nguyễn Bính 65
2.2.2. Thâm nhập vào thơ Nguyễn Bính 66
2.2.3. Tiếp tục đến với thơ Nguyễn Bính sau giờ học 68
2.2.4 Nêu vấn đề và tổ chức cho HS trao đổi, thảo luận theo hình thức hoạt
động nhóm 67
2.2.5. Hoạt động ngoại khóa văn học về thơ Nguyễn Bính 68
Chƣơng III. THIẾT KẾ BÀI HỌC THỂ NGHIỆM 72
3.1. Định hƣớng dạy học 72
3.2. Tiến trình dạy học 72
PHẦN KẾT LUẬN 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

Nét riêng ấy rất dễ nhận thấy, đó chính là thơ Nguyễn Bính mang vẻ đẹp của
hồn quê đất nƣớc ngày xƣa. Cảnh sắc và bóng dáng con ngƣời trong thơ ông đều
thấm đƣợm tình quê, duyên quê và phảng phất hồn xƣa của đất nƣớc. Sau này
Nguyễn Bính cũng đem đƣợc và thơ mình hơi thở của cách mạng và khánh chiến.
Theo với thời gian, Nguyễn Bính cũng đƣợc đánh giá cao. Ông có vị trí xứng đáng
trong nền thơ hiện đại Việt Nam. Bởi vậy không thể không đƣa thế hê trẻ đến với
những vần thơ đậm chất chân quê của Nguyễn Bính. Đến với thơ Nguyễn Bính, thế
hệ trẻ sẽ đến với “hồn xƣa của đất nƣớc”, trong cảnh sắc của làng quê một thời
thanh bình yên ả, đến với những con ngƣời ở làng quê nhân hậu, chất phát, đến với
những sinh hoạt văn hoá truyền thống ở những làng quê Việt Nam xa xƣa. Những
nét độc đáo đó của thơ ông có thể đem đến cho thế hệ trẻ những rung động mới mẻ
và tình yêu quê hƣơng đất nƣớc.
Liệu bạn đọc - học sinh ngày nay đến với thơ Nguyễn Bính có cảm và hiểu
đƣợc cái hay của thơ ông không? Tình cảm, thái độ và khả năng tiếp nhận của thế
hệ trẻ ngày nay đến với thơ Nguyễn Bính nhƣ thế nào? Thơ Nguyễn Bính có khả
năng tác động tới nhận thức, cảm xúc và suy nghĩ của họ ra sao?
Đó là những vấn đề đang đƣợc đặt ra trong dạy học Ngữ Văn trong trƣờng
THPT hiện nay. Chính những vấn đề đó đã thôi thúc chúng tôi lựa chọn đề tài này.
- Chúng tôi đang trực tiếp dạy môn Ngữ Văn ở một trƣờng rất đặc thù - trƣờng
học sinh vùng núi cao Việt Bắc. Học sinh vùng núi cao có những nét riêng trong
cảm thụ văn chƣơng.
Vậy đƣa học sinh vùng cao với những nét riêng trong cảm thụ văn chƣơng,
rất đậm chất miền xuôi nhƣ thế nào để có hiệu quả?

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
Đó là vấn đề có tính thời sự nóng hổi đối với những ngƣời dạy ngữ văn ở
những trƣờng học sinh vùng núi cao nhƣ chúng tôi. Bao nhiêu băn khoăn, trăn trở
của ngƣời thầy dạy văn đang mong chờ đƣợc giải quyết. Do vậy chúng tôi mạnh

3
Ơ Việt Nam, một số nhà lý luận dạy học cũng viết khá nhiều về vấn đề phát
huy TTC học tập nhƣ: GS. Trần Bá Hoành, GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn, PGS.TS
Đặng Thành Hƣng Gần đây tƣ tƣởng dạy học tích cực đã là một chủ trƣơng quan
trọng của ngành giáo dục nƣớc ta, đƣợc giới thiệu rộng rãi trên các báo và tạp chí
chuyên ngành.
2.2. Lịch sử nghiên cứu thơ Nguyễn Bính.
a. Những thành tựu nghiên cứu thơ Nguyễn Bính
Từ những năm 1936-1937 trong làng Thơ mới của Việt Nam xuất hiện một
tài năng thơ có giọng điệu rất riêng khó trộn lẫn với các nhà thơ mới khác. Tài năng
đó chính là Nguyễn Bính.
Ngay từ khi trình làng với bài thơ “Cô hái mơ”, đạt giải thƣởng của Tự lực
Văn Đoàn với “Tâm hồn tôi”, và thực sự nổi tiếng với “Lỡ bƣớc sang ngang” thơ
Nguyễn Bính đã chiếm đƣợc lòng yêu mến của đông đảo bạn đọc và sự chú ý của
giới phê bình nghiên cứu.
Từ lúc Nguyễn Bính mới xuất hiện cho đến khi ông qua đời (1918 - 1966)
đã có nhiều công trình nghiên cứu giới thiệu về Nguyễn Bính.
- Trong cuốn Thi nhân Việt nam, Hoài Thanh là ngƣời đầu tiên nhận ra đƣợc vẻ
đẹp kín đáo, đậm đà của hồn thơ Nguyễn Bính, đồng thời ông cắt nghĩa về sự quan
tâm chƣa thích đáng của giới nghiên cứu đối với thơ ông. “ Cái đẹp kín đáo của
những vần thơ Nguyễn Bính, tuy cảm đƣợc một số đông công chúng mộc mạc, khó
lọt vào con mắt của các nhà thông thái thời nay. Tình cờ có đọc thơ Nguyễn Bính, họ
sẽ bảo “Thơ nhƣ thế này thì có gì ?”. Họ có ngờ đâu, đã bỏ rơi một điều mà ngƣời ta
không thể hiểu bằng lí trí, một điều quý giá vô ngần: hồn xƣa đất nƣớc ”.
Vũ Ngọc Phan trong cuốn “Nhà văn Việt Nam hiện đại” đã đánh giá cao thơ
Nguyễn Bính, đặc biệt là mảng thơ viết về làng quê.
Từ ý kiến của Hoài Thanh và Vũ Ngọc Phan đã có định hƣớng tin cậy cho
công việc nghiên cứu thơ Nguyễn Bính sau này.
Về căn bản, những nhận xét đánh giá của giới nghiên cứu phê bình về Nguyễn
Bính khá thống nhất. Dù ở thời nào, Nguyễn Bính vẫn đƣợc coi là nhà thơ của

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

5
“chân quê”, “hồn quê”, “tình quê”, là “thi sĩ của đồng quê”, “thi sĩ của thƣơng
yêu” và các nhà nghiên cứu đều khẳng định đó chính là cái hay, cái hơn ngƣời của
Nguyễn Bính.
b. Dạy học thơ Nguyễn Bính trong nhà trƣờng
Trong chƣơng trình và SGK môn Văn của sách cải cách giáo dục (1983-
1993) có thơ Nguyễn Bính nhƣng chỉ có một bài đƣợc lựa chọn (bài Tƣơng tƣ) và
lại xếp vào phần học thêm. Điều đó cho thấy Nguyễn Bính chƣa đƣợc nhìn nhận
đúng với tài năng của ông. Thậm chí đến sách chỉnh lý hợp nhất thì Nguyễn Bính
lại không đƣợc đƣa vào SGK nhƣ trƣớc đó.
Đến năm 2002 khi đổi mới chƣơng trình SGK ở THPT, thơ Nguyễn Bính đã
đƣợc ở lại với chƣơng trình của SGK Ngữ văn 11 ở cả bộ 1 và bộ 2 đều có thơ
Nguyễn Bính (bộ 1 bài thơ đƣợc chọn: “Tƣơng tƣ” và bộ 2 bài thơ đƣợc chọn:
“Mƣa xuân ”).
Đến năm 2007, trong chƣơng trình SGK Ngữ văn THPT, thơ Nguyễn Bính
đƣợc chọn bài “Tƣơng tƣ” ở bộ 2.
Trong cuốn Sách giáo viên Ngữ văn 11 đã hƣớng dẫn cách dạy bài thơ:
“Tƣơng tƣ”. Phần mục tiêu bài học, phần nội dung bài học hƣớng dẫn khai thác đầy
đủ giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ, xác định đúng trọng tâm của bài học.
Điều đó đã cung cấp phƣơng pháp và kiến thức bổ ích giúp ngƣời giáo viên vận
dụng, cảm thụ, giảng dạy thơ Nguyễn Bính một cách có hiệu quả hơn. Tuy nhiên
vấn đề là làm thế nào phát huy đƣợc tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh
trong dạy học thơ Nguyễn Bính chƣa đƣợc bàn kỹ. Đặc biệt là đối tƣợng học sinh
vùng núi cao Việt bắc, còn rất xa lạ với phong tục tập quán của ngƣời miền xuôi
đƣợc thể hiện rõ trong thơ Nguyễn Bính thì chƣa đƣợc bàn tới. Nghiên cứu đề tài

- Vận dụng phƣơng pháp tổng hợp lí luận: sử dụng phƣơng pháp tổng hợp lí
luận nhằm đƣa ra đặc điểm của thơ Nguyễn Bính, tìm hiểu đặc điểm cảm thụ của học
sinh PT vùng cao Việt Bắc để từ đó đƣa ra những nội dung, phƣơng pháp, biện pháp
dạy học cụ thể về các tác phẩm thơ Nguyễn Bính trong sách giáo khoa Ngữ văn 11.
- Vận dụng phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phƣơng pháp thống kê:
Sử dụng phƣơng pháp thống kê toán học để xử lí số liệu thu thập đƣợc trong
quá trình điều tra khảo sát và quá trình thực nghiệm.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7
+ Phƣơng pháp điều tra khảo sát:
Sử dụng phƣơng pháp này để timg hiểu khả năng cảm thụ của học sinh lớp
11 PT vùng cao Việt Bắc về thơ Nguyễn Bính. Từ đó nắm bắt đƣợc thực trạng của
việc dạy học thơ Nguyễn Bính để nghiên cứu đề tài một cách xác thực, góp phần
nâng cao hiệu quả dạy học thơ Nguyễn Bính.
+ Phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm:
Sử dụng phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm với việc tiến hành xây dựng
thiết kế bài học và dạy thực nghiệm đối chứng tại trƣờng phổ thông Vùng cao Việt
Bắc Thái Nguyên.
7. Cấu trúc của luận văn:
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng:
Chƣơng I: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài.
Chƣơng II: Những biện pháp rút ngắn khoảng cách trong tiếp nhận thơ
Nguyễn Bính của học sinh Vùng cao và tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh.
Chƣơng III: Thiết kế bài học thể nghiệm.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
1.1.1.2. Phong trào Thơ mới - quá trình hình thành phát triển và kết thúc
Theo Tài liệu.Việt Nam thì “Thơ mới” đã đƣợc thai nghén từ trƣớc 1932, và
thi sĩ Tản Đà chính là ngƣời dạo bản nhạc đầu tiên trong bản hòa tấu của phong trào
Thơ mới. Tản Đà chính là gạch “nối”của hai thời đại thơ ca Việt Nam, đƣợc Hoài
Thanh và Hoài Chân xếp đầu tiên trong số 46 tên tuổi của phong trào Thơ mới. Và
đến ngày 10/3/1932 khi Phan Khôi cho đăng bài thơ “Tình già” trên Phụ nữ tân văn
số 22 cùng với bài tự giới thiệu “Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ”, thì
phát súng lệnh của Phong trào Thơ mới chính thức bắt đầu.
Phong trào Thơ mới phát triển qua 3 chặng sau đây:
- Giai đoạn 1932-1935:
Đây là giai đoạn diễn ra cuộc đấu tranh giữa Thơ mới và “Thơ cũ”.Sau bài
khởi xƣớng của Phan Khôi, một loạt các nhà thơ nhƣ: Thế Lữ, Lƣu Trọng Lƣ, Huy
Thông, Vũ Đình Liên liên tiếp công kích thơ Đƣờng luật, hô hào bỏ niêm, luật,
đối Trong bài “Một cuộc cải cách về thơ ca”, Lƣu Trọng Lƣ kêu gọi các nhà thơ
mau chóng “Đem những ý tƣởng mới, những tình cảm mới thay vào những ý tƣởng
cũ”. Cuộc đấu tranh này diễn ra khá gay gắt, bởi phía đại diện cho “ thơ cũ” cũng tỏ
ra không thua kém. Các nhà thơ Tản Đà, Huỳnh Thúc Kháng, Hoàng Duy Từ,
Nguyễn Văn Hạnh phản đối chống lại Thơ mới một cách quyết liệt. Cho đến cuối
năm 1935, cuộc đấu tranh này tạm lắng và sự thắng thế nghiêng về phía Thơ mới.
Ở giai đoạn đầu, Thế Lữ là nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới
với tập “Mấy vần thơ” (1935). Ngoài ra còn có sự góp mặt của các nhà thơ Lƣu
Trọng Lƣ, Nguyễn Nhƣợc Pháp, Vũ Đình Liên
- Giai đoạn 1936-1939;
Đây là giai đoạn Thơ mới chiếm ƣu thế tuyệt đối, so với “Thơ cũ ” trên nhiều
bình diện, nhất là về mặt thể loại.
Giai đoạn này xuất hiện nhiều tên tuổi lớn nhƣ Xuân Diệu (Tập Thơ Thơ-

những tác phẩm hay, những nhà thơ độc đáo mà đem lại một phạm trù thơ hiện đại,
một thi pháp mới, phân biệt và thay thế cho thơ trữ tình cổ điển truyền thống. Theo
Tạ Đức Hiền,Thơ mới có nhiều đóng góp lớn đối với nền thi ca Việt Nam.
- Trước hết Thơ mới đã thể hiện được tình yêu cuộc sống thiết tha, nồng nhiệt
Cái “tôi” xuất hiện trong Thơ mới là sự khẳng định mình, bứt tung mọi trói
buộc, để đƣợc sống đƣợc vui một cách sôi nổi say mê. Sống hết mình với hƣơng sắc
của thời gian, và thể hiện đƣợc khát khao của mình “muốn ôm, muốn riết, muốn
thâu, muốn say ” tất cả những gì đẹp đẽ nhất của chốn “vƣờn trần”. Xuân Diệu là

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
thi sĩ luôn có ý thức về thời gian và sợ thời gian trôi qua một cách nhanh chóng, tuổi
trẻ một đi không trở lại , nên phải đắm mình vào hƣơng sắc cuộc đời và thiên nhiên
bao la:
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng
Cho chuếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng
Cho no nê thanh sắc của thời tươi
Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi !
( Vội vàng )
Hàn Mặc Tử với “Đây thôn Vĩ Dạ”, “Mùa xuân chín” nhƣ đang đắm mình
trong hƣơng sắc mùa xuân. Thi sĩ mắt đang say mê nhìn, tai đang lắng nghe, trái tim
đang rung động với thế giới củ thần tiên: một tia nắng, một màu xanh của mắt lá,
một tiếng gió sột soạt đâu đây:


Làm sao cắt nghĩa được tình yêu?
Có nghĩa gì đâu một buổi chiều
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt
Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu
(Vì sao? )
Tình yêu vốn là “miền đất lạ” của gái trai giữa “vƣờn trần”. Là sự ƣớc hẹn, là
sự cầu mong đợi chờ:
Mở miệng vàng, và hãy nói yêu tôi
Dẫu chỉ là trong một phút mà thôi !
(Mời yêu )
Trong Thơ mới, những thƣơng nhớ, biệt li, hờn giận, ghen tuông, đau khổ,
tƣơng tƣ đều đƣợc các nhà thơ diễn tả tinh tế,huyền diệu.
- Giá trị Thơ mới không chỉ có thế. Thơ mới ngoài giá trị tư tưởng như đã nói
đến còn có đóng góp không nhỏ về nền nghệ thuật cho thơ ca dân tộc

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13
Điểm mới đầu tiên nghệ thuật Thơ mới, đó là hình thức thơ đã biến đổi. Về
mặt ngôn ngữ, cách diễn đạt rất mới, rất hiện đại. Các bài thơ mới rất ít dùng những
điển tích. Có những câu thơ sử dụng các phụ âm với dụng ý nghệ thuật gợi tả và gây
ấn tƣợng rất độc đáo:
Những luồng run rẩy rung rinh lá
Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh
(Đây mùa thu tới)
Nghệ thuật “vắt dòng”, “bắc cầu”, lối chấm câu giữa dòng thơ hầu nhƣ chƣa
hề có trong thơ trung đại. Nhiều nhà thơ mới đã vận dụng sáng tạo để diễn tả nhịp
điệu hoặc nâng cao tính nhạc của vần thơ:
Trời cao, xanh ngắt - Ô kìa
Hai con hạc trắng bay về Bồng Lai

huyện Vụ Bản,tỉnh Nam Định (nay là tỉnh Nam Hà); Nguyễn Bính gắn bó và sống
lâu nhất ở vùng quê mẹ (thôn Vân, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định (nay là Nam Hà).
Gia đình bên ngoại của Nguyễn Bính cũng không phải là gia đình khá giả: nhà ở đầu
làng nhƣng lại là chỗ hẻo lánh nhất, và bù lại nhà lại có nhiều thứ cây, mùa nào thức
ấy và khi mùa xuân đến, vô số loài hoa trong vƣờn đua nhau khoe sắc tỏa hƣơng.
Chính từ mảnh đất quê mẹ, Nguyễn Bính đã sống những tháng ngày thơ
mộng nhất trong cuộc đời của mình. Quê mẹ với cảnh sắc thiên nhiên và khi mùa
xuân đến, các đám hội làng, những đêm hát chèo, những ngày lễ hội, những nét đẹp
truyền thống của quê hƣơng, đã nuôi dƣỡng tâm hồn nhạycảm của ông và trở thành
chiếc nôi êm ái nuôi dƣỡng ông trở thành một thi sĩ gắn bó với làng quê, thành nhà
thơ nổi tiếng sau này.
Nguyễn Bính sinh ra trong một nhà nho nghèo. Cha của ông là cụ Nguyễn
Đạo Bình làm nghề dạy học. Ngay từ khi chƣa đầy một tuổi, Nguyễn Bính đã thiếu
thốn tình mẫu tử, mẹ qua đời là nỗi đau lớn trong cuộc đời của nhà thơ. Mồ côi mẹ,
cha lấy vợ kế, Nguyễn Bính đƣợc cậu ruột là Bùi Trình Khiêm nuôi dạy. Trong thời
gian ở với cậu ruột, Nguyễn Bính đã đƣợc cậu dạy học, 15 tuổi, Nguyễn Bính theo
anh trai là nhà thơ Trúc Đƣờng ra Hà Nội kiếm sống. Từ đây cuộc đời của ông gắn
với nghiệp thơ. Cũng giống nhƣ Nguyễn Tuân và một số văn nghệ sĩ đƣơng thời,
Nguyễn Bính đã lƣu lạc nhiều nơi. Dấu chân ông từng in nhiều nẻo đƣờng đất nƣớc:
Hà Bắc, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Huế, Sài Gòn cho tới tận cực nam tổ quốc. Hành

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
trang mang theo là túi thơ và bọc quần áo, ông vừa dạy học vừa sáng tác thơ để
kiếm sống.
Sự nghiệp thơ của Nguyễn Bính tập trung vào thời kỳ trƣớc Cách mạng
tháng Tám. Nguyễn Bính làm thơ từ năm 13 tuổi, đến năm 15 tuổi (năm 1932),
Nguyễn Bính đã nổi tiếng với bài thơ Cô hái mơ.
Những năm 1936 - 1937, Nguyễn Bính đã đóng góp tài năng của mình cho

duyên quê và phảng phất hồn xƣa đất nƣớc.
Nhận xét về Nguyễn Bính, Hoài Thanh cũng viết: “Thơ Nguyễn Bính đã
đánh thức ngƣời nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng ta. Ta bỗng thấy vƣờn cau, bụi
chuối, là hoàn cảnh tự nhiên của ta, và những tính tình đơn giản của dân Việt Nam”.
Nguyễn Bính - một nhà thơ lớn, một cây bút đầy tài năng, một phong cách
độc đáo và hơn hết là một trái tim rộng mở yêu thƣơng, đã đến và sẽ còn ở lại mãi
với con ngƣời Việt Nam. Suối nguồn thơ trong mát, xôn xao, tràn đầy của ông sẽ
còn tƣới tắm cho tâm hồn biết bao thế hệ.
1.1.2.2. Đặc điểm thơ Nguyễn Bính trong phong trào Thơ mới
a. Giai đoạn lịch sử Việt Nam thời Nguyễn Bính làm thơ mới
Nguyễn Bính sinh ra và lớn lên khi cuộc xâm lƣợc của thực dân Pháp đã
hoàn thành. Chế độ xã hội phong kiến chuyển sang thực dân nửa phong kiến và sự
tồn tại của triều đình nhà Nguyễn thực chất chỉ làm một việc duy nhất; phục vụ
cho công cuộc đô hộ và khai thác thuộc địa của thực dân. Nguyễn Bính là con
ngƣời của thế hệ phải tiếp nhận toàn bộ hậu quả của một thời kỳ lịch sử đã đi vào
tăm tối đau thƣơng.
Bầu không khí chính trị đen tối bao trùm khắp đất nƣớc, bởi sự khủng bố đàn
áp của thực dân Pháp đối với phong trào yêu nƣớc và chính sách cai trị hà khắc đối
với nhân dân. Con ngƣời sống ngột ngạt, tù túng ngay trên đất nƣớc mình.
Nền kinh tế Việt Nam giai đoạn này phát triển què quặt, phụ thuộc hoàn
toàn vào nền kinh tế “mẫu quốc”. Đô thị xuất hiện và phát triển nhanh nhƣng lại
mang đậm màu sắc thuộc địa và dẫn đến sự phân hóa sâu sắc giữa thành thị và
nông thôn. Nông thôn Việt Nam vốn nghèo nàn, tĩnh lặng trở nên tiêu điều, xơ
xác, nông thôn đổ về thành phố, hầm mỏ, đồn điền để tìm kiếm việc làm. Một màu
thê lƣơng bao trùm lên cuộc sống đói khổ của con ngƣời. Đời sống kinh tế thay
đổi, dẫn đến sự thay đổi của cơ cấu xã hội. Nhiều giai cấp mới xuất hiện; tƣ sản,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

17


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

18
biển miền Trung, với cánh buồm căng nhƣ một mảnh hồn làng. Một vùng quê yên
ả, thanh bình ở đồng bằng bắc bộ trong thơ Đoàn Văn Cừ thật nên thơ:
“Đêm thanh đập lúa, trăng vàng
Nến sao thắp sáng trên mành trời xanh”
Thi sĩ Anh Thơ nói về vùng quê Kinh Bắc với một thoáng buồn:
“Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng,
Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi”
(Chiều Xuân )
Còn Nguyễn Bính lại làm sống dậy cái không khí của một làng quê Nam
Định. Nhà thơ tạo ra một không gian làng quê vừa nhƣ thời điểm lúc bấy giờ, vừa
nhƣ là của một thời gian nào đó xa xăm lắm, vừa nhƣ là của riêng nhà thơ, mà
cũng nhƣ làng quê ấy là của tất cả mọi ngƣời. Có thể nói không gian làng quê
trong thơ Nguyễn Bính có nhiều nét tƣơng đồng với không gian làng quê trong ca
dao dân gian.
Không gian làng quê trong thơ Nguyễn Bính mang vẻ đẹp ngàn đời của nông
thôn Việt Nam, gần gũi với mọi tâm tƣ mọi thời đại. Đó là không gian làng quê dân
dã mang đậm phong vị ca dao, Nguyễn Bính sử dụng những chất liệu hết sức quen
thuộc của đời thƣờng ở thôn quê nhƣ: giàn trầu, hàng cau, vƣờn dâu, vƣờn chè,
đồng lúa, ao bèo, dậu mồng tơi, hoa chanh, hoa cỏ may, cánh đồng ngô, bến sông,
bƣơm bƣớm Chính những hình ảnh mộc mạc, dân dã ấy tạo nên bức tranh quê có
những nét chân thực :
Nhà tôi có một vườn dâu
Có dàn đỗ ván có ao cấy cần
Hoa đỗ ván nở mùa xuân
Lứa dâu tháng tháng, lứa cần năm năm.
(Nhà tôi )


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status