đánh giá vai trò của một số tổ chức, đoàn thể trong nông thôn đến sự phát triển kinh tế - xã hội tại xã nam anh, huyện nam đàn, tỉnh nghệ an - Pdf 24

trờng đạI học nông nghiệp hà nội
KHOA KINH Tế Và PHáT TRIểN NÔNG THÔN





luận văn tốt nghiệp đại học
NH GI VAI TRề CA MT S T CHC, ON TH
TRONG NễNG THễN N S PHT TRIN KINH T - X HI
TI X NAM ANH - HUYN NAM N - TNH NGH AN

Tờn sinh viờn : NGUYN TH THU
Chuyờn ngnh o to: PTNT & KN
Lp : PTNT & KN - K50
Niờn khoỏ : 2005 - 2009
Ging viờn hng dn : ThS. NGUYN VN MC

H NI - 2009
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng: Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học hàm, học vị nào.
Tôi cam đoan rằng: Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ
nguồn gốc.
Hà nội, ngày 23 tháng 05 năm 2009
Người cam đoan
Nguyễn Thị Thu
i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt báo cáo tốt nghiệp ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi

không mâu thuẫn nhau mà hỗ trợ nhau giúp nông thôn phát triển bền vững.
Bên cạnh đó, các tổ chức, đoàn thể nông thôn cũng đang bộc lộ những hạn
chế về mặt tổ chức, quản lý dẫn đến hiệu quả một số hoạt động chưa cao,
chưa thể hiện tốt vai trò sẵn có của mình.
Trong những năm qua, các tổ chức, đoàn thể trên địa bàn xã Nam Anh
hoạt động rất hiệu quả và đã mang lại nhiều tác động tích cực về kinh tế - xã
hội cho địa phương. Để hiểu rõ hơn vai trò của các tổ chức, đoàn thể đó
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá vai trò của một số tổ chức,
đoàn thể trong nông thôn đến sự phát triển kinh tế - xã hội tại xã Nam
Anh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An”.
Với mục tiêu chính là đánh giá vai trò và kết quả hoạt động của các tổ
chức, đoàn thể trong nông thôn đến sự phát triển kinh tế - xã hội tại xã Nam
Anh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm
nâng cao vai trò của các tổ chức, đoàn thể đó. Từ đó đề tài cũng góp phần hệ
thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về các tổ chức, đoàn thể trong nông thôn
ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Để tiến hành nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên
cứu như chọn điểm nghiên cứu, chúng tôi chọn điểm nghiên cứu là xã Nam
Anh do trong những năm gần đây hoạt động của các tổ chức, đoàn thể trên địa
bàn xã Nam Anh đã có những tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế - xã
iii
hội địa phương và nâng cao đời sống cho người dân xã; phương pháp thu thập
thông tin được sử dụng để thu thập những thông tin cần thiết phục vụ cho việc
nghiên cứu đề tài bao gồm thu thập thông tin đã công bố là những thông tin
về địa bàn nghiên cứu, một số lý luận và phương pháp thu thập thông tin mới
như chọn mẫu nghiên cứu, ở đây mẫu được chọn là các tổ chức, đoàn thể có
vai trò nổi bật và có nhiều hoạt động thiết thực trong thời gian qua đó là Hội
nông dân, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh. Đối với mỗi Hội, tiến hành điều
tra 14 hộ nông dân trong đó 7 hộ có nhận sự hỗ trợ và 7 hộ không nhận sự hỗ
trợ từ Hội; tiếp theo là phỏng vấn, xin ý kiến các cán bộ lãnh đạo, những

bộ Hội. Hội nông dân là một tổ chức nằm trong hệ thống các tổ chức chính trị -
xã hội có vai trò chủ yếu là phối hợp, kết hợp, vận động nông dân thực hiện 3
phong trào do Trung ương Hội phát động đó là phong trào nông dân thi đua sản
xuất, phong trào xây dựng gia đình nông thôn văn hóa và phong trào nông dân
tham gia bảo dảm quốc phòng an ninh. Các phong trào này đều được Hội triển
khai thực hiện mang lại kết quả tốt. Tiến hành điều tra, xin ý kiến cán bộ Hội,
và một số hộ nông dân để tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn trong hoạt động
của Hội và khi tham gia Hội, sự thay đổi thu nhập của một số hộ nông dân khi
nhận sự hỗ trợ của Hội. Kết quả cho thấy, Hội nông dân xã Nam Anh được
đánh giá là Hội có hoạt động mạnh và góp phần phát triển kinh tế - xã hội,
nâng cao thu nhập cho nông dân trên địa bàn xã trong thời gian qua.
Đối với Hội phụ nữ: Toàn xã có 9 chi hội với 1.999 hội viên, trong đó có
1.128 hội viên nòng cốt. Vai trò chính của Hội là nâng cao nhận thức, trình độ,
năng lực cho phụ nữ; tham gia xây dựng, phản biện xã hội và giám sát việc
thực hiện luật pháp, chính sách về bình đẳng giới; hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh
tế; hỗ trợ phụ nữ xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc;
xây dựng và phát triển tổ chức Hội vững mạnh. Trong năm qua, với tinh thần
đoàn kết vượt qua mọi khó khăn, thử thách, bám sát chức năng, nhiệm vụ và
định hướng hoạt động của Hội cấp trên, Hội phụ nữ xã đã tập trung đổi mới nội
dung, phương pháp hoạt động, hướng các hoạt động về chi hội và triển khai các
hoạt động đạt kết quả tốt như phong trào phụ nữ tích cực học tập, lao động
sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc và cuộc vận động học tập và làm theo
v
tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Trong năm qua Hội cũng hoàn thành tốt mọi
nhiệm vụ được giao và khẳng định vai trò của Hội đối với sự phát triển kinh tế
- xã hội của xã và góp phần nâng cao năng lực, vị thế của phụ nữ trong gia
đình, cộng đồng và xã hội, tạo điều kiện cho phụ nữ giao lưu, học hỏi kinh
nghiệm để tăng sự nhận thức và sự hiểu biết.
Đối với Hội cựu chiến binh: Hiện nay, toàn xã có 9 chi hội với 341 hội
viên, chiếm 96 % tổng số cựu chiến binh toàn xã, trong đó có 19 hội viên nữ,

DANH SÁCH CÁC HỘP X
PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

2
1.2.1 MỤC TIÊU CHUNG

2
1.2.2 MỤC TIÊU CỤ THỂ

2
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3
1.4.1 PHẠM VI VỀ NỘI DUNG

3
1.4.2 PHẠM VI VỀ KHÔNG GIAN

3
1.4.3 PHẠM VI VỀ THỜI GIAN

3
PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 4


23
3.1.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 23
3.1.1.2 Đặc điểm dân số, xã hội 25
3.1.2 CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ CƠ BẢN CỦA ĐỊA PHƯƠNG

32
3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

35
3.2.1 CHỌN ĐIỂM NGHIÊN CỨU

35
3.2.2 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP THÔNG TIN

35
3.2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin đã công bố 35
3.2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin mới 35
3.2.3 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ THÔNG TIN

36
3.2.4 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH THÔNG TIN

36
3.2.5 HỆ THỐNG CHỈ TIÊU SỬ DỤNG TRONG ĐỀ TÀI

36
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38
4.1 ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ VÀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA MỘT SỐ TỔ CHỨC, ĐOÀN THỂ TRÊN
ĐỊA BÀN XÃ NAM ANH

86
4.2.1 ĐỐI VỚI HỘI NÔNG DÂN

86
4.2.1.1 Đối với công tác tuyên truyền giáo dục chính trị tư tưởng 86
4.2.1.2 Đối với công tác Hội 87
4.2.1.3 Đối với các phong trào thi đua của Hội 87
4.2.2 ĐỐI VỚI HỘI PHỤ NỮ

88
4.2.2.1 Quán triệt nội dung các phong trào thi đua 88
4.2.2.2 Đối với công tác hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế 89
4.2.2.3 Đối với công tác xã hội 89
4.2.3 ĐỐI VỚI HỘI CỰU CHIẾN BINH

90
4.2.3.1 Về mặt chính trị - xã hội 90
4.2.3.2 Về mặt kinh tế 91
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 93
5.1 KẾT LUẬN

93
5.2 KIẾN NGHỊ

94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PHỤ LỤC 97
viii
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng Nội dung Trang

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BQ : Bình quân
BVTV : Bảo vệ thực vật
CC : Cơ cấu
ĐU : Đảng ủy
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
GTSX : Giá trị sản xuất
HCCB : Hội Cựu Chiến binh
HĐBT : Hội đồng Bộ Trưởng (nay là Chính Phủ)
HĐND : Hội đồng nhân dân
Hội LHPN : Hội Liên hiệp Phụ nữ
HNTW : Hội nghị Trung ương
HTX : Hợp tác xã
HV : Hội viên
KHKT : Khoa học kỹ thuật
MTTQ : Mặt trận Tổ quốc
Ngân hàng CSXH : Ngân hàng Chính sách xã hội
Ng.đ : Nghìn đồng
NGO : Tổ chức phi Chính phủ
NN : Nông nghiệp
NQ : Nghị quyết
SL : Số lượng – Sắc lệnh
STT : Số thứ tự
SXKDG : Sản xuất kinh doanh giỏi
TN : Thu nhập
TTCN – XDCB : Tiểu thủ công nghiệp – xây dựng cơ bản
Tr.đ : Triệu đồng
UBND : Ủy ban nhân dân
VAC : Vườn – ao – chuồng
VSMT : Vệ sinh môi trường

1
Bên cạnh những tác động tích cực mà các tổ chức, đoàn thể trong nông
thôn đã và đang mang lại cho người dân thì một số tổ chức, đoàn thể vẫn còn
những hạn chế về mặt tổ chức, quản lý cho nên nhiều lúc hoạt động còn mờ
nhạt, chưa thực hiện tốt vai trò sẵn có của mình.
Xã Nam Anh là một xã thuần nông, đời sống nhân dân còn gặp nhiều
khó khăn. Các tổ chức, đoàn thể trên địa bàn xã ra đời sớm và có vai trò rất
quan trọng về kinh tế, xã hội, văn hóa địa phương như hỗ trợ nông dân vay vốn
phát triển kinh tế, tuyên truyền phổ biến chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà
nước, phổ cập giáo dục… Tất cả những hoạt động đó nhằm nâng cao thu nhập,
cải thiện đời sống cho nhân dân, ổn định chính trị, an ninh trật tự trong xã.
Hoạt động của các tổ chức, đoàn thể trên địa bàn xã Nam Anh thực sự đang
phát huy những hiệu quả tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của xã. Để hiểu
rõ hơn vai trò của các tổ chức, đoàn thể này chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài :
“Đánh giá vai trò của một số tổ chức, đoàn thể trong nông thôn đến sự phát
triển kinh tế - xã hội tại xã Nam Anh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá vai trò và kết quả hoạt động của các tổ chức, đoàn thể trong
nông thôn đến sự phát triển kinh tế - xã hội tại xã Nam Anh, huyện Nam Đàn,
tỉnh Nghệ An, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của các
tổ chức, đoàn thể đó.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về các tổ chức, đoàn thể
trong nông thôn ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
- Đánh giá vai trò và kết quả hoạt động của một số tổ chức, đoàn thể trong
nông thôn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của xã.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của các tổ chức, đoàn thể
này tại xã.
2

hội học nông thôn - đô thị. Trong đó những tiêu chí quan trọng giúp phân biệt
khu vực nông thôn và đô thị bao gồm sự khác nhau về nghề nghiệp, về môi
trường, quy mô cộng đồng, mật độ dân số, tính hỗn tạp và thuần nhất của dân
số, hướng di cư, sự khác biệt xã hội và phân tầng xã hội, hệ thống tương tác
trong từng vùng (Bảng 2.1).
Sự phân biệt nông thôn và thành thị có thể dựa vào các tiêu chí quy
định cho từng vùng. Đối với khu vực thành thị, nhiều nước đã thống nhất coi
số lượng dân cư làm tiêu chí để quy định đô thị. Theo Từ điển Bách khoa của
Liên Xô (cũ) năm 1986 thì đô thị là khu vực dân cư mà phần lớn dân cư ở đó
làm ngoài nông nghiệp. Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học xuất bản
năm 2002 đã định nghĩa đô thị là nơi dân cư đông đúc, là trung tâm thương
nghiệp và có thể cả công nghiệp, thành phố hoặc thị trấn. Cho đến nay, trên
thế giới đều thống nhất coi đô thị là một điểm dân cư tập trung với số lượng
lớn, mật độ cao và tỷ lệ người làm công nghiệp, dịch vụ nhiều hơn hẳn người
làm nông nghiệp. Tuy nhiên, cũng còn tùy vào tiêu chí cụ thể có sự khác nhau
4
giữa các nước, xuất phát từ đặc điểm riêng của mỗi nước.
Bảng 2.1 Tiêu chí phân biệt khu vực nông thôn và khu vực thành thị
Tiêu chí Khu vực nông thôn Khu vực thành thị
Nghề
nghiệp
Những người sản xuất nông
nghiệp, một số ít phi nông nghiệp
Những người sản xuất công
nghiệp, dịch vụ.
Môi
trường
Môi trường tự nhiên ưu trội, quan
hệ trực tiếp với tự nhiên
Môi trường nhân tạo ưu trội, ít

Cường độ di động lớn hơn, có
biến động xã hội mới có di cư
từ thành thị về nông thôn.
Tác động
Xã hội
Tác động xã hội tới từng cá nhân
thấp hơn. Quan hệ xã hội sơ cấp,
láng giềng, huyết thống.
Tác động tới từng cá nhân lớn
hơn. Quan hệ xã hội thứ cấp,
phức tạp, hình thức hóa.
(Nguồn: Mai Thanh Cúc, 2005).
Ở Việt Nam do đặc thù đất chật, người đông nên những quy định về
tiêu chí của một đô thị khác nhiều so với các nước khác. Quyết định số 132 -
HĐBT ngày 5/5/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính Phủ) quy định
nước ta có 5 loại đô thị như sau:
+ Đô thị loại 1: Dân số đạt từ 1 triệu người trở lên, mật độ dân cư từ
15.000 người/km
2
, tỷ lệ lao động ngoài nông nghiệp từ 90% trở lên.
+ Đô thị loại 2: Dân số đạt từ 350.000 đến 1 triệu người, mật độ dân cư
12.000 người/km
2
, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp từ 80% trở lên.
+ Đô thị loại 3: Dân số từ 100.000 đến 350.000 người, mật độ dân cư đạt
từ 10.000 người/km
2
trở lên, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp từ 70% trở lên.
5
+ Đô thị loại 4: Dân số từ 30.000 đến 100.000 người, mật độ dân cư đạt từ

công nghiệp và dịch vụ, xây dựng những khu đô thị nhỏ, thị tứ, thị trấn,
những trung tâm công nghiệp nhỏ có quan hệ gắn bó mật thiết với nông thôn,
cùng tồn tại, hỗ trợ và thúc đẩy nhau phát triển.
Như vậy, khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối, nó có thể
6
thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của các
quốc gia trên thế giới. Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, nhìn nhận dưới
góc độ quản lý, có thể hiểu “nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư
dân, trong đó có nhiều nông dân. Tập hợp cư dân này tham gia vào các
hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trường trong một thể chế chính
trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác”.
Một số đặc điểm riêng của nông thôn Việt Nam đó là:
+ Ở vùng nông thôn, các cư dân chủ yếu là nông dân và làm nghề nông,
đây là địa bàn hoạt động chủ yếu của các ngành sản xuất vật chất nông, lâm,
ngư nghiệp và các ngành nghề sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp. Trong
các làng xã truyền thống, sản xuất nông nghiệp chiếm vị trí chủ chốt và là
nguồn sinh kế chính của đại bộ phận nông dân. Cùng với sự phát triển và tiến
bộ của đất nước, đặc điểm này có sự thay đổi. Các vùng nông thôn trong
tương lai sẽ không phải chủ yếu có các nông dân sinh sống và làm nông
nghiệp, thay vào đó là các cư dân cư trú và tiến hành các hoạt động kinh tế
khác nhau, gồm cả sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp và thương mại
dịch vụ. Theo đó tỷ trọng lao động và GDP của các ngành kinh tế ở nông thôn
cũng thay đổi theo hướng gia tăng cho công nghiệp và dịch vụ.
+ Nông thôn thể hiện tính chất đa dạng về điều kiện tự nhiên, môi trường
sinh thái, các vùng nông thôn quản lý một lượng tài nguyên thiên nhiên to
lớn, phong phú và đa dạng, bao gồm các tài nguyên đất, nước, không khí,
rừng, sông suối, ao hồ, khoáng sản, hệ động thực vật gồm cả tự nhiên và do
con người sáng tạo ra.
+ Cư dân nông thôn có mối quan hệ họ tộc và gia đình khá chặt chẽ với
những quy định cụ thể của từng họ tộc và gia đình. Ở nông thôn, có nhiều gia

những ước định của riêng mình. Sức mạnh tinh thần và vật chất của mỗi dòng họ
nếu được khích lệ và huy động sẽ tạo nên động lực phát triển trong nông thôn.
Bao trùm lên tất cả là sự tồn tại của chủ thể nông thôn ở cấp độ cộng
đồng. Các cộng đồng có thể hiểu như là tập hợp của những người dân có cùng
8
nền văn hóa, cùng phong tục, cùng sinh sống ở một nơi nhất định, hoặc cùng
có sở thích trong sản xuất, kinh doanh, mối quan tâm, hoặc nghề nghiệp. Theo
nghĩa hẹp có thể coi các đơn vị làng, bản, xóm, thôn, xã, huyện… là các cộng
đồng nông thôn ở Việt Nam.
Như vậy, có thể nhấn mạnh rằng: chủ thể nông thôn là các cá nhân, gia
đình, dòng họ, cộng đồng của cư dân trong đó nông dân chiếm một tỷ lệ đáng
kể và đóng vai trò chủ đạo. Ở khái niệm nông thôn đã nêu ở trên, chủ thể nông
thôn là yếu tố con người. Tạo nên một chỉnh thể nông thôn chính là hoạt động
của chủ thể trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa - xã hội, môi trường và mối
quan hệ của họ với thể chế chính trị cũng như các tổ chức khác trong nông
thôn. Với những ý nghĩa tương đối trong cách phân loại, những hoạt động kinh
tế, văn hóa - xã hội, môi trường và các mối quan hệ bao gồm:
+ Các hoạt động kinh tế: Bao gồm các hoạt động sản xuất nông nghiệp,
sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, các hoạt động thương mại dịch
vụ. Tham gia vào các hoạt động đó gồm đầy đủ các thành phần kinh tế với
các tổ chức đa dạng. Tỷ trọng các ngành kinh tế trong tổng GDP của vùng
nông thôn phụ thuộc vào mức độ phát triển của từng vùng, nhưng theo xu
hướng tỷ trọng sản xuất nông nghiệp sẽ ngày càng giảm và tỷ trọng các ngành
công nghiệp và thương mại dịch vụ sẽ ngày càng tăng.
+ Các tổ chức: Bao gồm nhiều loại hình cả chính thống và phi chính
thống như các tổ chức chính quyền ở địa phương, các tổ chức kinh tế, các
đoàn thể quần chúng…Những tổ chức này được hình thành, hoạt động trong
khuôn khổ các thể chế, chính sách, ảnh hưởng và có tác động trực tiếp, gián
tiếp đến các hoạt động chung của cộng đồng hoặc những nhóm dân cư nhất
định trong quá trình phát triển nông thôn.

Sơ đồ 2.1 Cấu trúc của nông thôn
Các thành phần kinh tế xã hội nông thôn được trình bày tóm tắt
trong sơ đồ 2.1. Trong phát triển nông thôn, mọi sự tác động hoặc hoạt
động phát triển nếu chỉ đề cập đến một thành phần riêng rẽ mà không tính
đến ảnh hưởng của các thành phần khác thì sẽ không mang lại kết quả tốt,
bởi vì các thành phần ở đây đã tạo nên sự thống nhất và tác động qua lại
lẫn nhau, hình thành nên một chỉnh thể kinh tế xã hội nông thôn.
2.1.2 Vai trò của các tổ chức, đoàn thể trong nông thôn đến phát triển
kinh tế - xã hội của địa phương
Phát triển kinh tế - xã hội của địa phương là một vấn đề rộng lớn, liên
quan không chỉ đến Chính Phủ, những người dân mà còn đến các tổ chức,
đoàn thể trong nông thôn (gọi chung là các tổ chức). Các tổ chức này đóng
góp tích cực vào mọi mặt hoạt động của sự phát triển và bổ sung vào vai trò
của Chính Phủ trong sự phát triển nông thôn.
Các tổ chức
Y tế - sức khỏe
Tài nguyên -
môi trường
CHỦ THỂ
NÔNG THÔN
Cá nhân
Gia đình/ dòng họ
Cộng đồng
Kinh tế
Khoa học -
công nghệ
Văn hóa - giáo dục Cơ sở hạ tầng
Thể chế và chính
sách Nhà nước
11

hoạt động kinh tế - xã hội của địa phương.
− Hợp tác xã
Các hợp tác xã kiểu mới được thành lập hoặc chuyển đổi phù hợp với
nền kinh tế thị trường, dựa trên cơ sở tự nguyện gia nhập của nông dân và
những người và các tổ chức khác. Hợp tác xã kiểu mới không quản lý các
hoạt động canh tác chính mà chủ yếu cung cấp các dịch vụ đầu vào và dịch vụ
tiêu thụ sản phẩm cho nông dân và các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ trên địa bàn.
Hoạt động của hợp tác xã nhằm tăng sức mạnh tập thể, khắc phục những mặt
tiêu cực của kinh tế thị trường, làm cho các hộ nông dân, các trang trại và cơ
sở sản xuất xích lại gần nhau hơn.
Nói chung các hợp tác xã hiện nay là các hợp tác xã dịch vụ, chủ yếu
cung cấp dịch vụ đầu vào cho nông dân, cơ chế tổ chức và hoạt động so với
hợp tác xã cũ có nhiều tiến bộ hơn và hoạt động có hiệu quả hơn.
− Ngân hàng và các tổ chức tín dụng
Phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn trong điều kiện sản xuất
phân tán trong các hộ nông dân và các trang trại, các cơ sở sản xuất quy mô
nhỏ rất cần tín dụng. Hoạt động tín dụng nhằm cung ứng vốn vay cho các yêu
cầu phát triển sản xuất kinh doanh nông nghiệp, chế biến, tiểu thủ công
nghiệp, dịch vụ ở nông thôn. Sự tham gia của các ngân hàng, các tổ chức tín
dụng nhằm cung ứng vốn kịp thời, lành mạnh, tránh những tiêu cực của hoạt
động tín dụng phi chính thống. Do đó, việc cung cấp tín dụng với các điều
kiện mà cá nhân và tổ chức có thể quản lý được có tầm quan trọng sống còn
đối với các chương trình phát triển nông thôn của cả nước.
Các nguồn tín dụng chính phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội địa
phương đó là: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (ARDB); Ngân
hàng chính sách xã hội; Các Hiệp hội hoặc Quỹ tín dụng, bao gồm cả các quỹ do
các tổ chức quần chúng điều hành (phục vụ cho các hội viên của Hội); Các tổ
13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status